Khi xe trâu chuẩn bị rời phủ họ Vũ về xóm Dâu, Diệu Hoa bất ngờ xách bọc tay nải bước ra.
Nàng đã thay bộ áo tứ thân sẫm màu mộc mạc, tóc vấn gọn sau dải khăn vuông, vẻ kiêu kỳ giấu sau nét mặt điềm đạm.
Thấy Lãng trố mắt nhìn, nàng lạnh nhạt buông một câu:
“Xem mặt nhà chồng cho đủ lễ.
Kẻo người ngoài nhìn vào lại bảo con gái quan An phủ sứ chẳng biết phép tắc làm dâu.”
Lãng không cãi được, cũng chẳng có tâm trí đâu đôi co.
Suốt dọc đường đê Lục Đầu, lòng anh rối như tơ vò.
Một kỹ sư từ thế kỷ hai mươi mốt rơi vào cái xác mười chín tuổi này; đối với xóm Dâu và người mẹ đẻ, ký ức trong đầu anh sạch trơn như ổ cứng vừa bị format.
Căn nhà nép bên rặng tre xơ xác, mái rạ thâm sì, vách đất nứt toác để lộ cốt tre gầy guộc.
Vừa bước qua bậu cửa thấp tè, mùi ẩm mốc xen lẫn khói bếp nồng nặc và vị thuốc chua mục xộc thẳng vào mũi.
Trên chiếc chõng ọp ẹp trải manh chiếu rách, một bóng người gầy đét co ro dưới tấm chăn vá chằng vá đụp.
Tiếng ho rũ rượi bật ra từng cơn, khản đặc như cào rách cuống họng.
“Mẹ...”
Lãng ngập ngừng gọi, cảm giác xa lạ dâng lên trong lồng ngực.
Nghe tiếng động, người đàn bà lập cập chống tay ngồi dậy.
Bàn tay bà chỉ còn da bọc xương, khô ráp như cành củi, run rẩy chộp lấy vạt áo anh.
Đôi mắt trũng sâu ầng ậc nước.
“Lãng...
Lãng đấy hả con?
Mẹ... khụ khụ... mẹ tưởng không chờ được đến ngày nhìn mặt mày...”
Một góc mềm yếu bỗng nhói lên trong ngực Lãng.
Anh vội ngồi sụp xuống mép chõng, lúng túng đỡ lấy bả vai gầy nhom của bà:
“Mẹ, con về rồi đây.
Mẹ cứ bình tĩnh, đừng kích động kẻo huyết áp tăng vọt, tụt đường huyết bây giờ...”
Bà cụ khựng lại giữa cơn ho, đôi mắt đùng đục mở to nhìn chòng chọc vào mặt con trai, vẻ mặt đầy hoang mang:
“Huyết... áp?
Tụt cái gì cơ con?
Mày nói tiếng xứ nào thế?”
“À... không...” Lãng giật thót, thầm tự tát vào mồm, vội vàng chữa cháy: “Ý con là mẹ đừng căng thẳng, cứ thả lỏng ra.
Bệnh này con thấy có dấu hiệu suy hô hấp, nhưng mẹ yên tâm, tiền nong thuốc thang con cân tất, không toang được đâu...”
Bà cụ run bắn lên.
Bàn tay khô khốc đang nắm áo anh bỗng rụt lại, rồi lập cập lần lên sờ trán Lãng, ngực bà phập phồng dữ dội, giọng lạc hẳn đi:
“Ối trời đất ơi...
Thằng Lãng nhà tôi...
Nó nói thứ tiếng ma quỷ gì thế này?
Mày đi ở rể đất lạ, hay bị người ta bỏ bùa, trúng tà quái vật gì nhập vào người rồi?”
Lãng méo mặt, bất lực giữa mớ từ ngữ của hai thế giới.
Đúng lúc ấy, từ phía cửa buồng, Diệu Hoa khẽ tằng hắng một tiếng.
Nàng đứng đó, đôi mày lá liễu nhíu lại thật sâu, ánh mắt sắc như dao nhìn xoáy vào Lãng như đang cân nhắc xem rốt cuộc anh là kẻ giả điên hay thực sự đã rước thứ tà thuật nào về nhà.
Khói rơm rạ từ góc bếp đùn ra từng đợt, xám xịt và đặc quánh như cháo, lững lờ trôi từ gian nấu sang tận chiếc chõng tre của mẹ.
Lãng đứng giữa nhà chừng nửa tuần nhang mà mắt đã cay xè, cổ họng ngứa rát, ho sặc sụa hai tiếng.
Nhìn lên rui mè bám tầng tầng lớp lớp bồ hóng đen kịt, rồi nhìn sang vách đất trơ trọi không lấy một ô thoáng, anh lập tức hiểu ra cơ sự.
Chẳng phải tà ma hay bùa ngải gì ráo.
Hít thứ khói mù này quanh năm suốt tháng trong căn lều kín bưng, đến phổi sắt cũng phải mòn, huống hồ một bà cụ gầy trơ xương sườn.
Chưa kể góc sân có vại nước mưa bám đầy rêu xanh rì, gáo dừa múc lên vẫn còn thấy lăng quăng bơi lội, người trong xóm cứ thế ngửa cổ uống ừng ực.
Sáng hôm sau, Lãng xắn cao ống quần, bắt tay vào việc.
Anh nhờ bác Cả Thuận sang xóm gốm bên cạnh xin mấy ống đất nung loại thợ lò hay dùng thoát hơi, gom thêm gạch vỡ và một đống đất sét nhuyễn trộn rơm băm.
Cái kiềng ba chân gỉ sét ở góc bếp bị Lãng dẹp phăng.
Anh phạt phẳng nền đất, đắp thành bệ lò kín ba mặt, chừa một cửa đun nhỏ phía trước và khoang dẫn lửa lượn đáy chảo.
Phần đuôi lò, Lãng cẩn thận ghép các đoạn ống đất nung chếch nghiêng bốn mươi lăm độ, trổ một lỗ vừa khít xuyên qua vách đất, vươn cao quá bờ giọt tranh bên ngoài.
Mối nối được trát kín bằng bùn non trộn tro trấu để khói tuyệt đối không xì ngược vào nhà.
Xong cái bếp, Lãng đặt ra quân lệnh nghiêm ngặt: từ nay cơm nước, thuốc thang hay nước uống thường ngày đều phải đun sôi sùng sục trào bọt mới được dùng, cấm tiệt chuyện múc nước lã từ lu uống sống.
Diệu Hoa đứng tựa cửa nhìn anh lấm lem bùn đất từ mặt mũi đến gót chân, khóe môi khẽ nhếch lên vẻ hoài nghi, nhưng nàng không cản.
Thậm chí khi anh lui cui nhóm lửa thử lò, nàng còn lặng lẽ đến bên vại nước, dùng khăn sạch gạn hết cặn bã rồi bắc ấm đồng lên đun theo đúng lời anh dặn.
Lửa bén rơm khô, bốc lên hừng hực trong lòng bếp đất.
Kỳ lạ thay, khói xám cuồn cuộn không hề tràn ra gian nhà ngoài mà bị hút tuột vào lòng ống nung, ngoan ngoãn chui qua vách đất rồi phun thành một vệt dài vút lên trời xanh.
Căn nhà tranh thoáng đãng lạ thường, mùi ẩm mốc tan biến dần theo từng ngọn gió lùa qua khe cửa.
Chỉ sau ba ngày hít thở bầu không khí sạch và uống nước đun kỹ, những cơn ho rũ rượi xé ruột của mẹ Lãng thưa dần.
Đêm xuống, bà đã có thể nằm thẳng lưng ngủ một giấc dài, sắc mặt từ xám ngoét chuyển sang hồng hào thấy rõ, miệng bắt đầu đòi ăn cháo hoa.
Tiếng lành đồn xa khắp xóm Dâu.
Đến ngày thứ năm, khoảnh sân nhỏ trước cửa bỗng chật ních người.
Mấy bác thợ cày, mấy bà cô hàng xóm xách theo nải chuối, túm khoai, rụt rè đứng ngó nghiêng cái bếp lạ lùng không làm cay mắt.
Bác Cả Thuận gãi đầu gãi tai, đại diện cho đám đông bước lên bậc cửa, giọng cười ngượng nghịu:
“Thằng... à quên, thầy Lãng này!
Cái lò nhà mày thần tình quá, đun cả buổi mà trong buồng trong nhà cứ tưng tửng như không.
Mày... mày chỉ mối cho bà con chòm xóm đắp một cái giống thế, được không mày?”
Đêm xóm Dâu tĩnh mịch, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích ngoài bờ tre và tiếng gió lùa qua giọt gianh.
Ngọn đèn dầu lạc leo lét trên chiếc chõng tre hắt bóng hai mẹ con lên vách đất loang lổ.
Nhờ bếp mới không còn khói, bà cụ thở đều đặn hơn, sắc mặt dưới ánh đèn đã có chút huyết sắc.
Bà khẽ nhích người, ngó ra phía ngoài cửa buồng rồi hạ giọng hỏi:
“Vợ mày đâu rồi?
Ngủ rồi à?”
“Nàng ra giếng rửa mặt rồi mẹ ạ,” Lãng đáp, tay khẽ kéo lại mép chăn cho bà.
“Mẹ thấy trong người thế nào?
Còn tức ngực nữa không?”
Bà lắc đầu, bàn tay gầy gò vươn ra nắm lấy tay anh.
Ngón tay thô ráp của bà miết nhẹ lên vết sẹo mờ trên cổ tay Lãng, giọng nghẹn ngào:
“Mẹ sống thêm được ngày nào là nhờ trời thương, nhờ mày chịu nhục mà đổi lấy...
Mấy hôm nay thấy mày khỏe mạnh, biết lo toan, mẹ mừng đến thắt ruột, nhưng lòng lại cứ cắn rứt khôn nguôi.”
Lãng ngơ ngác, trong lòng dấy lên một nỗi bất an mơ hồ:
“Mẹ nói gì vậy?
Con có chịu nhục gì đâu...”
“Mày lại giấu mẹ rồi,” bà cụ ứa nước mắt, thở dài nặng trĩu.
“Năm ngoái, cái bận mày về lúc nửa đêm, mặt mày tái mét...
Mày quỳ trước mặt mẹ, bảo đã cắn răng nhận gánh món nợ ba mươi quan cho người bên nhà vợ tương lai.
Mày bảo nếu không chịu đứng tên gánh thay, hôn ước cũ sẽ bị hủy bỏ, mà mẹ nằm liệt giường, thuốc thang đứt bữa là chết.
Nhờ mày nhận đống nợ ấy, phủ họ Vũ mới giữ lễ cưới, mới ngầm gửi tiền thuốc về xóm Dâu đều đặn hàng tháng...”
Lãng sững sờ.
Toàn thân anh như bị sét đánh ngang tai, đông cứng lại giữa gian phòng tối.
Một mảnh ghép bấy lâu mù mịt bỗng khớp lại đến rợn người.
Thì ra gã Đinh Lãng nguyên bản không phải kẻ cờ bạc đốn mạt tự rước nợ vào thân rồi cam chịu phận ở rể hèn hạ.
Gã thanh niên mười chín tuổi khốn khổ ấy đã bán rẻ danh dự, tự tròng vào cổ sợi dây thòng lọng ba mươi quan tiền của phường cho vay nặng lãi, đổi lấy mạng sống cho mẹ già và bấu víu vào một cuộc hôn nhân gượng ép.
Một sự hy sinh câm lặng, ngây dại và uất ức đến cùng cực.
“Mẹ già rồi, sống chết có số,” bà cụ nấc lên, bàn tay siết chặt lấy tay anh như muốn tạ lỗi.
“Nhưng mày vì mẹ mà mang tiếng nhơ nhuốc, vào đất ấy chịu người ta khinh khi, xỉ vả...
Đêm nào mẹ cũng nghĩ, giá ngày ấy mẹ nhắm mắt xuôi tay cho xong, để mày không phải...”
“Mẹ, đừng nói gở nữa,” Lãng khẽ ngắt lời, cổ họng anh khô khốc và đắng ngắt.
Anh nuốt khan một ngụm khí lạnh, tim nhói lên vì gã trai trẻ đã khuất mà anh đang mượn xác.
“Mọi chuyện... qua cả rồi.
Con lo được.”
Đúng lúc ấy, qua khe hở của vách đất nứa ngăn với chái ngoài, một tiếng động rất khẽ vang lên, tựa như vạt áo lụa vô tình quét qua mép nẹp tre.
Lãng giật mình liếc mắt qua khe vách.
Dưới ánh trăng mờ nhạt hắt qua hiên, bóng hình mảnh dẻ của Diệu Hoa đang đứng chôn chân ở đó.
Nàng dường như đã đứng ngoài vách từ lâu và nghe trọn tất cả.
Bờ vai nàng khẽ run lên, đôi mắt mở to nhìn trân trân vào khoảng không trước mặt, bàng hoàng như vừa nghe thấy một điều đảo lộn hoàn toàn mọi lẽ thường mà nàng từng tin suốt bao tháng ngày qua.
Trở về phủ, Diệu Hoa im lặng khác thường.
Suốt hai ngày liền, nàng giam mình trong thư phòng chái đông, bên cạnh là những chồng sổ chi tiêu tích tụ mấy năm qua.
Nhìn qua song cửa hé mở, Lãng thấy nàng ngồi ngay ngắn, ngón tay lật từng trang giấy dó ram ráp, đôi mày liễu nhíu chặt.
Ánh mắt nàng dừng lại rất lâu ở các khoản bạc giao cho Trọng Đạt đi lo việc ngoài, nét mặt đanh lại lạnh ngắt.
Nàng không nói với Lãng nửa lời về chuyện nghe được ở xóm Dâu, nhưng cách nàng cắn chặt môi cho thấy cơn bão trong lòng đã ngấm ngầm bùng lên.
Chiều hôm ấy, đón lõng theo lời mấy tay thợ xưởng Kẻ Sắt, Lãng chặn đầu Trọng Đạt ngay ngã ba dẫn ra bến Lục Đầu.
Thấy Lãng đứng chắn ngang lối, Trọng Đạt hơi khựng lại rồi nhanh chóng lấy lại vẻ trịch thượng, gõ cán quạt vào lòng bàn tay:
“Chú em đứng đây làm gì?
Xưởng rèn dạo này rảnh rỗi thế à?”
“Tôi ở đây để hỏi về món nợ ba mươi quan năm ngoái,” Lãng nhìn thẳng vào mắt gã, giọng thản nhiên.
Nụ cười nhạt trên môi Trọng Đạt sượng ngắt.
Gã liếc quanh con ngõ đông đúc, hạ giọng gắt:
“Nói nhảm gì đấy?
Nợ nần gì ở đây?”
“Ba mươi quan giấy nợ của phường bến sông,” Lãng bước tới một bước, rành rọt từng tiếng.
“Một người nhận gánh nợ cờ bạc để đổi lấy việc giữ hôn ước và tiền thuốc gửi về xóm Dâu.
Diệu Hoa đang lật lại toàn bộ sổ chi trong thư phòng.
Huynh muốn về đối chất hay nói luôn ở đây?”
Nghe nhắc đến Diệu Hoa và những cuốn sổ, mặt Trọng Đạt thoắt biến sắc.
Đôi mắt gã đảo liên hồi, nan quạt trong tay bị siết chặt đến mức kêu răng rắc.
Sau một thoáng im lặng ngột ngạt, Trọng Đạt rũ vai, cúi gằm mặt, giọng gắt gỏng mà đuối lý:
“Thì sao chứ?
Khi ấy ta lỡ thua bạc ở bến thuyền, bị lũ Lý Hắc dọa chặt tay, phụ thân mà biết thì đánh chết ta mất!
Mày nghèo rớt mồng tơi, mẹ mày sắp chết đói, ta cho tiền thuốc, cho cái danh rể phủ quan, mày gánh hộ thì mất gì!”
Sự thật được thừa nhận trần trụi đến cay đắng.
Lãng nén cơn giận xuống đáy lòng, bước thêm nửa bước, gằn giọng hỏi câu tiếp theo:
“Được, nợ thì đã rõ.
Vậy còn đêm tân hôn thì sao?
Đêm đó, kẻ nào đã lén đẩy tôi xuống cái ao sau vườn?”
Vừa dứt câu, toàn thân Trọng Đạt run lên bần bật.
Sắc mặt gã thoắt cái tái mét như người chết trôi, đáy mắt ánh lên nỗi kinh hoàng tột độ, như thể Lãng vừa chạm vào một bí mật còn đáng sợ hơn món nợ cờ bạc gấp mười lần.
“Mày... mày nói bậy gì đấy!” Trọng Đạt lắp bắp, lùi vội một bước dài.
“Đêm đó mày say rượu trượt chân, ai chẳng biết!
Đừng có ngậm máu phun người!
Ta... ta có việc ở bến thuyền, không rảnh nghe mày lảm nhảm!”
Chẳng đợi Lãng đáp, Trọng Đạt vội vã lách người qua mé đường.
Gã cắm đầu rảo bước thật nhanh về phía bến sông, dáng điệu hớt hải như kẻ đang trốn chạy một bóng ma vừa hiện hình giữa ban ngày.
Chuyện Trọng Đạt, Lãng không hé nửa lời với cha vợ.
Vũ Thế Khâm coi trọng thể diện gia phong, biết chuyện chưa chắc đã giải quyết êm thấm, mà làm ầm ĩ lúc này cũng chẳng kiếm thêm được cân quặng nào.
Thay vào đó, anh lôi Trọng Đạt ra xưởng Kẻ Sắt, ném xịch chồng sổ sách dày cộp xuống bàn:
“Ba mươi quan nợ gốc lẫn lãi bến sông, huynh ngồi đây chép sổ nhập sắt, kiểm đếm cuốc cày xuất kho.
Mỗi ngày chép đủ ba mươi trang trừ năm mươi đồng, bao giờ hết nợ mới thôi.”
Trọng Đạt tái mét nhìn đống sổ lem nhem bụi than, liếc sang Diệu Hoa đang khoanh tay lạnh lùng tựa cửa, đành cắn răng cầm bút không dám cãi nửa lời.
Giao việc xưởng lại cho hai người họ, Lãng thu xếp hành lý lên thuyền buôn xuôi dòng Lục Đầu ra biển.
Lò rèn cần quặng tốt, lại cần tìm mối tiêu thụ cuốc liềm ngoài duyên hải; thương cảng Vân Đồn chính là nơi anh phải tới.
Sau ba ngày dập dềnh sóng gió, mũi thuyền rẽ vào vụng biển lặng của trang Vân Đồn.
Cảnh tượng mở ra sầm uất ngoài sức tưởng tượng: thuyền buôn Champa mũi cong san sát cạnh tàu buôn Tống đồ sộ, tiếng hò kéo lưới lẫn tiếng quát tháo bằng đủ thứ thổ ngữ, nồng nặc mùi cá mắm và hương liệu.
Vừa bước lên cầu tàu gỗ lim ướt sũng, Lãng ghé sạp đổi tiền của một khách buôn người Tống, chìa đĩnh bạc vụn định đổi lấy tiền đồng mua quặng.
Nhưng thứ tiếng Hán bập bõm của anh lập tức bị gã lái buôn béo ục ịch ép giá:
“Bạc này pha chì nhiều, chỉ đổi được sáu trăm đồng tiền tốt thôi!”
Lãng chưa kịp cãi thì một bóng người mảnh khảnh đã chen ngang, gạt phắt tay gã buôn:
“Nói láo!
Bạc chuẩn mười phần, mép gọt ánh trắng thế kia mà dám bảo pha chì?”
Giọng nói lanh lảnh, tuôn một tràng tiếng Hán trôi chảy như nước chảy mây trôi.
Kẻ mới đến mặc áo chẽn nâu sồng của con trai phu thuyền, đội nón lá chóp nhọn, chân đi guốc mộc gõ lóc cóc.
Người đó cầm đĩnh bạc gõ nhẹ vào mép bàn đá nghe một tiếng *keng* trong vắt, rồi liến thoắng xổ thêm mấy câu tiếng duyên hải khiến tên buôn Tống tím mặt, cuống cuồng thối lại túi tiền đồng căng phồng kèm mấy đồng tiền gương.
Chưa để Lãng kịp hoàn hồn, “chàng trai” đã nhanh tay giật lấy túi tiền, thảy cho anh một nửa theo giá sòng phẳng, rồi nhét phần chênh lệch hời vào bọc mình kèm nụ cười ranh mãnh:
“Tiền công phiên dịch và giữ giá giùm anh đấy, đồ ngốc phương xa!”
Chiếc nón lá khẽ hất lên, để lộ gương mặt trái xoan trắng trẻo, đôi mắt tròn xoe sáng quắc và dái tai có vết xỏ lỗ tròn trịa.
Gã lái buôn Tống ấm ức nhìn theo bóng dáng thoăn thoắt nhảy xuống mạn thuyền gỗ, làu bàu:
“Lại là con nha đầu nhà họ Hà...
Đi buôn chuyến nào cướp mối chuyến ấy!”
Lãng đứng chôn chân trên cầu cảng lộng gió, dở khóc dở cười nhìn theo bóng áo con trai đang đứng vắt vẻo trên mũi thuyền lớn đề chữ “Hà Ký”.
Đó chính là Hà Thanh Liên, con gái nhà buôn khét tiếng vùng biển này.