Tiếng “choách” đanh thép rạch ngang gian xưởng nồng khói.
Sợi sắt lại đứt phựt ở miệng khuôn, đầu mút quất ngược cứa vào mu bàn tay Mai Đào một vệt đỏ rướm máu.
Đây đã là lần thứ sáu.
Sợi sắt cứ qua được ba cỡ lỗ thu nhỏ trên bàn kéo là cứng đờ rồi gãy vụn.
Cơn bực bốc lên ngùn ngụt, nàng vung chân đá lật chậu nước ngâm kìm.
Nước đen ngòm lênh láng khắp nền đất nện, chảy xèo xèo vào đống xỉ lò.
“Làm ăn như trò trẻ con!
Cứ thế này thì quặng cả lộ Hồng cũng chẳng đủ cho anh bẻ vụn!”
Đinh Lãng đang ngồi xổm chẻ đóm bên lò vội lồm cồm bò dậy, phủi bụi than trên vạt áo chàm, giọng xoa dịu:
“Sắt bị kéo dãn qua lỗ hẹp thì thớ bên trong căng cứng, giòn lại.
Càng giằng thì càng đứt.”
“Thế phải làm sao?
Anh bảo kéo sợi dài để làm nỏ đan lưới, giờ vụn như râu tôm thế này thì làm cái gì?”
“Ủ mềm.” Lãng chỉ đống tro trấu ủ âm ỉ ở góc lò.
“Cứ qua hai nấc lỗ, sợi sắt lì ra thì nung hồng non rồi vùi ngay vào tro nóng cho nguội từ từ.
Để thớ sắt thở, nó giãn ra mới dẻo lại.
Quét thêm mỡ lợn vào miệng lỗ cho trơn, đừng giật cục mà phải quay đều tay.”
Mai Đào lườm hắn một cái, nhưng đôi tay chai sạn đã gắp ngay đoạn phôi mới.
Nàng kéo vuốt một đầu, luồn qua hai lỗ đầu rồi gắp thả vào đống tro trấu, đợi sắc đỏ tía lịm dần mới bôi mỡ quanh mép khuôn.
Lần này nàng không hùng hổ dồn sức vào vai nữa.
Mai Đào đặt chân trụ vững chãi, hai tay ghì chặt cần quay của trục gỗ, hít sâu rồi xoay tròn theo từng nhịp thở.
Sợi kim loại trườn qua mắt thép, rít lên một tiếng êm ru.
Mỡ gặp ma sát bốc mùi béo ngậy.
Sợi dây không hề giãy hay gãy vụn mà dẻo quánh, chuốt ra đều đặn, sáng ánh xám mờ như một sợi gân sống.
Từng vòng dây thép dài thượt nối nhau quấn chặt quanh tang gỗ.
Một cuộn dây thép nguyên vẹn, dài mấy trượng không một vết nứt, nằm gọn trên trục kéo.
Mai Đào buông tay đòn, ngực phập phồng, trong lòng dâng lên nỗi hãnh diện râm ran.
Ngay cả đám thợ già lành nghề nhất Kẻ Sắt cũng chưa từng làm ra thứ này.
Thấy Lãng cười toe toét toan thò tay nhấc cuộn dây ra, Mai Đào nhanh như cắt giật lấy chiếc đục thép và cây búa con bên đe.
“Làm gì đấy?” Lãng giật mình rụt tay lại.
Mai Đào chẳng buồn nhìn hắn, gí mũi đục phập vào thành gỗ nghiến của trục kéo, gõ búa chan chát thành từng nét dứt khoát: một chữ “ĐÀO” vuông vức, sâu hoắm.
Nàng ngẩng cằm, gạt giọt mồ hôi trên má, giọng đanh như thép vừa tôi:
“Trục này của tôi, cái máy này là tôi kéo ra dây đầu tiên.
Cấm đứa nào được xóa!”
Chưa kịp cất búa thì ngoài cổng xưởng đã vang tiếng guốc gỗ lẹp kẹp lẫn tiếng cười rổn rảng.
Một người béo lùn, mặc áo the xanh thẫm, phe phẩy quạt giấy bước vào.
Theo sau là bốn gã phu vác đòn gánh trĩu những bao tải sặc mùi mắm cá và vị mặn gió biển.
Quách Sùng.
Mai Đào nhận ra ngay gã lái buôn lớn mạn Vân Đồn từng ghé bến Lục Đầu mua đồ kim khí vụn.
Gã đảo mắt quanh xưởng, lướt qua mấy cuộn dây thép nàng vừa kéo, rồi dừng sững trước đống thỏi sắt xếp cạnh chân tường.
Mắt gã sáng quắc lên.
Gã bước tới, nhặt một thỏi lên rồi gõ nhẹ vào đe, tiếng vang trong veo.
“Sắt dẻo, ruột đặc, không bọt khí!” Gã xuýt xoa, quay sang nhìn Lãng.
“Đinh công tử, ta giữ đúng hẹn.
Năm trăm cân phôi này, ta trả cao gấp rưỡi giá chợ Thăng Long.
Trả bằng bạc vụn hoặc lụa tốt ngay tại chỗ, thế nào?”
Mai Đào nín thở.
Gấp rưỡi?
Số tiền ấy đủ mua quặng cho lò đỏ lửa cả mùa đông.
Nàng liếc nhìn Lãng, ngỡ anh sẽ mừng rỡ gật đầu ngay.
Nhưng Lãng chỉ chắp tay sau lưng, cười tươi mà giọng dửng dưng:
“Quách thương gia quá khen.
Nhưng xưởng Kẻ Sắt chỉ bán nông cụ thành phẩm.
Bác mua cuốc, liềm, lưỡi cày gang hay dao phát bờ bao nhiêu cũng có.
Chứ thép sống, phôi thô... thì một lạng xưởng cũng không bán.”
Nụ cười trên mặt Quách Sùng sượng lại:
“Công tử chê tiền à?
Đem thép sống đi xa tiện hơn chở nông cụ cồng kềnh.
Ta trả thêm nửa phần nữa, coi như nể mặt quan An phủ sứ!”
“Không phải chê tiền, mà là quy củ của thợ Kẻ Sắt.” Lãng lắc đầu, tay vỗ nhẹ lên lưỡi cày nguội.
“Sắt này sinh ra để bám đất cày ruộng.
Thỏi thép sống đem ra khỏi xưởng trôi nổi đi đâu, biến thành giáo mác hay rơi vào tay ai, chúng tôi không quản nổi.
Không quản được thì không bán.”
Mai Đào đứng tựa cột lò, thầm ngạc nhiên.
Tên này ngày thường sợ chết, thế mà lúc này nói năng lại cứng cỏi ra phết.
Trong lúc Quách Sùng bực bội gắt gỏng, mắt Mai Đào chợt quét qua đám phu đứng ngoài bậu cửa.
Một gã cao kều, vai lệch, quấn khăn nâu che nửa mặt đang cúi đầu tránh ánh lửa.
Khi gã nghiêng người đặt đòn tre xuống, vết sẹo dài đỏ lựng nơi bắp tay lộ ra dưới vạt áo cộc.
Tim Mai Đào đập thót một cái.
Dáng dấp ấy, vết sẹo ấy...
Nàng nhớ như in đêm trăng mờ tháng trước, đám tay chân của Lý Hắc mang đuốc đến vây cổng làng dọa đốt xưởng rèn.
Đứng ngay sau lưng Lý Hắc khi ấy chính là một tên vai lệch có vết sẹo y hệt.
Mai Đào sấn bước tới, lăm lăm cây búa con:
“Này!
Đứng lại!”
Gã phu giật bắn người.
Không ngước mặt lên, gã vội kéo sụp nón mê, luồn qua mép rào tre rồi cắm đầu lẩn biến vào con ngõ ngoằn ngoèo dẫn xuống bến sông.
Mai Đào đuổi theo hai bước nhưng gã đã mất hút sau đám lau sậy.
Nàng dậm chân bực bội.
Một kẻ theo đóm ăn tàn của sòng bạc Lý Hắc thì việc gì phải trà trộn vào đám phu thuyền Vân Đồn của Quách Sùng?
Ba cỗ xe bò kẽo kẹt lăn bánh trên đường đất đỏ qua các làng mạc lộ Hồng.
Trên thùng lót rơm, cuốc, liềm và lưỡi cày xếp tăm tắp theo chiếc thước mẫu bằng gỗ lim mà Lãng bắt thợ rèn gọt từ đầu tháng, vuông vức khác hẳn đồ bán dạo thô kệch.
Mai Đào vác thanh sắt nguội đi bên bánh xe, ngửi mùi bùn non quyện mùi dầu tôi sắt mới.
Nhìn ánh thép nguội lấp lánh, ngực nàng phồng lên vì kiêu hãnh.
Nhưng ngước lên đầu xe, sự hãnh diện liền biến thành cục tức chẹn ngang họng.
Vũ Diệu Hoa ngồi trên tấm phản, áo vải xanh mộc mạc, tay gảy bàn tính thoan thoắt:
“Lưỡi cuốc sáu mươi đồng, liềm ba mươi nhăm đồng, cày gang hai trăm hai mươi đồng.
Bớt một đồng cũng không bán.”
“Tiểu thư làm ơn làm phước!” Lãng lau mồ hôi, ngoái cổ cằn nhằn.
“Dân nghèo rớt mồng tơi, bớt vài đồng thì xưởng chết đói sao được?”
“Anh dẹp cái thói hào sảng rởm ấy đi.” Diệu Hoa gõ cồm cộp lên khung tính.
“Một cân quặng, ba gánh than nghiến, tiền mỡ lợn ủ sắt, công thợ, hao mòn đe búa.
Tôi tính sít sao đến nửa hạt thóc.
Bán rẻ hơn ba đồng là xưởng ăn vào vốn, lấy gì đong gạo cho đám thợ Kẻ Sắt tháng sau?”
“Thì bù bằng lãi bán gương!”
“Gương là gương, sắt là sắt!
Tiền cọc gương để quay vòng mua quặng, anh dám thò tay vào tôi chặt!”
Hai người kẻ trên xe người dưới đất, kẻ cầm bút người quất roi, cãi nhau chan chát.
Nàng nghiến răng bực bội không phải vì họ cãi nhau, mà vì đứa này vừa dứt câu, đứa kia đã đón phắt lại chuẩn xác từng nhịp, đứa lo công thợ thì đứa kia tính tiền than.
Cứ như bài hát đối rành rọt, kín kẽ tới mức nàng muốn chen vào một lời cũng thấy mình thừa thãi.
Xe dừng dưới gốc đa đầu làng Cổ Lũng, dân cấy lội bùn ùa lên xem.
Một bà lão lưng còng rụt rè sờ lưỡi cuốc xám mờ:
“Trông bóng bẩy thế này… khéo sắt non, cuốc phải rễ tre thì quăn mép mất.”
Chẳng buồn đôi co, Mai Đào giật lấy chiếc cuốc, sấn tới mô đất thịt ven đường chằng chịt rễ si khô khốc, vung tay giáng phập một nhát thật lực.
Mô đất nứt toác, rễ si to bằng cổ tay đứt ngọt xớt.
Nàng giơ cuốc sát mặt bà lão, quệt ngón tay qua mép lưỡi:
“Bà nhìn xem!
Mẻ một tí tôi đền cả xe!”
Bà lão trố mắt, cầm cuốc bập thử hai nhát.
Nhát nào cũng ngọt lịm, đất tơi văng tung tóe.
Mắt bà sáng rực, cuống quýt móc từ cạp váy bọc vải điều cũ:
“Tốt quá!
Cho tôi lấy cái này, à không, lấy thêm cho thằng Hai, thằng Ba với mấy nhà bên xóm đầm!
Cả thảy năm cái, đợi tôi chạy về gom tiền kẻo người ta tranh mất!”
Dân làng lập tức ùa vào xúm xít, tiếng hỏi giá, tiếng gõ lưỡi cày chan chát vang động góc đa.
Mai Đào ưỡn ngực, cười tươi rói khi thấy mồ hôi của lò Kẻ Sắt biến thành nhát cuốc ngọt lịm trên đồng.
Nhưng ngoảnh lại thấy Diệu Hoa thong thả đếm tiền rồi liếc Lãng bằng nụ cười đắc ý, nụ cười trên môi Mai Đào lại xẹp bớt đi một nửa.
Đoàn xe tiếp tục rẽ qua con đường đất đỏ ven chân đê, hướng về bến Đò Hàn.
Nắng xế chiều rọi xiên qua rặng tre ngà, hắt những vệt sáng lốm đốm lên thùng xe lót rơm rạ đã vơi quá nửa số cuốc liềm.
Tiếng bước chân rầm rập từ phía trước đột ngột dội lại, lẫn trong tiếng mõ tre gõ nhịp đều đặn.
Cát bụi đầu dốc bốc lên mù mịt.
Bác phu xe vội ghì chặt dây thừng, giục đôi bò kéo dạt hẳn sang mép cỏ ven mương để nhường lối.
Mai Đào bước lên che trước càng xe, tay đặt hờ lên cán búa con giắt bên hông.
Từ khúc quanh, một đoàn trai tráng chừng hơn trăm người rảo bước tiến tới.
Phần lớn chỉ là thiếu niên trạc mười sáu, mười bảy tuổi, vận áo vải thô nâu sồng xắn quá gối, chân quấn xà cạp rơm, lưng thắt dải vải đỏ sẫm.
Kẻ vác gậy tre vót nhọn, người mang giáo rỉ sét hoặc rìu đi rừng, bước chân chưa tề chỉnh như lính triều đình nhưng ánh mắt ai nấy sáng quắc, quai hàm bạnh ra đầy vẻ cương quyết.
Đi đầu đoàn người là một tráng đinh vạm vỡ giương cao ngọn cờ lớn bằng lụa điều bay phần phật trong gió sông.
Giữa nền vải đỏ thêu sáu chữ đại tự chân phương, sắc nét: *Phá cường địch, báo hoàng ân*.
Mấy người thợ gặt bên ruộng bỏ dở tay liềm, ngẩng đầu đứng thẳng dậy xì xào:
“Cờ của Hoài Văn hầu đấy!”
“Nghe đồn người còn nhỏ tuổi, không được dự bàn việc quân ở bến Bình Than, bèn uất ức tự về chiêu mộ tráng đinh, may cờ dựng nghĩa binh đi đánh giặc!”
“Dòng dõi vương tộc có khác, tuổi nhỏ mà chí lớn quá!”
Mai Đào tựa lưng vào thùng xe, nhìn theo bóng lá cờ đỏ rẽ gió ngược nắng.
Trong lồng ngực nàng chợt dâng lên luồng khí nóng ran kỳ lạ, bàn tay chai sạn vô thức siết chặt thanh thép nguội.
Nhưng ánh mắt nàng khựng lại khi liếc sang Lãng.
Hắn đứng chết trân bên bờ cỏ, nửa bước không dịch chuyển.
Bình thường, cái đầu của hắn đảo như chong chóng, hễ thấy biến là mắt dáo dác tìm đường lẩn hoặc toe toét cười cợt nhả.
Lúc này, mặt hắn lặng như mặt giếng khơi.
Ánh mắt hắn găm chặt vào sáu chữ thêu vàng trên nền lụa đỏ, sâu hun hút và nghiêm cẩn, dường như có cả nỗi xúc động nghẹn ngào lẫn vẻ xót xa.
Hắn nhìn đoàn quân không chút tò mò của kẻ đi đường hiếu kỳ, mà như thể đã biết trước họ sẽ xuất hiện ở con đường này, vào đúng giờ khắc này, từ rất lâu rồi.
Mai Đào sấn lại gần, lấy cùi chỏ huých mạnh vào hông hắn:
“Này!
Đứng đực mặt ra đấy làm gì?
Anh biết đám người đó à?”
Lãng giật thót mình như vừa bị kéo tuột khỏi cơn mộng.
Hắn chớp mắt, vẻ trầm mặc lập tức biến mất sạch trơn không để lại dấu vết.
Hắn nhe răng cười xòa, tay vội gãi mái tóc bù xù lấm lem bụi than:
“Biết gì mà biết!
Người ta là vương hầu tôn thất cành vàng lá ngọc, ta chỉ là thằng rể ở rể vô tích sự, bám gót ai được mà đòi quen?
Thấy cờ thêu chữ đẹp thì ngắm cho bổ mắt thôi, làm gì cô cứ tra khảo như quan hình bộ thế!”
Nói đoạn, hắn thoăn thoắt nhảy tót lên đầu xe bò, ngoác miệng gọi Diệu Hoa đòi chia chỗ ngồi tránh nắng.
Nhưng Mai Đào nhìn theo khóe môi đang cười toe toét của hắn, bụng bảo dạ rằng cái vẻ nhâng nháo cợt nhả ấy chỉ là lớp vỏ bọc hắn vừa vội vàng tròng lại lên người.
Bóng hoàng hôn sụp xuống rất nhanh trên bến Lục Đầu.
Khi ba cỗ xe bò kẽo kẹt quay về đến xưởng Kẻ Sắt, sương chiều đã bảng lảng giăng kín mặt sông, mang theo hơi lạnh buốt ngấm qua lớp áo chàm đẫm mồ hôi.
Thùng xe trống trơn, chỉ còn sót lại mấy cọng rơm lót đáy và vệt gỉ sắt xam xám.
Diệu Hoa ôm trọn túi tiền nặng trĩu bước xuống, cẩn thận gài then buồng sổ sách.
Mai Đào vác nốt mấy khúc gỗ kê đe đặt lại góc xưởng, vừa vặn bả vai mỏi nhừ vừa tìm gáo nước vối.
Lãng vừa trèo xuống càng xe đã nhảy quanh chum nước, mồm liến thoắng than đói đòi ăn cơm nguội.
Đúng lúc ấy, từ gốc cây quéo cạnh cổng xưởng, một bóng người lồm cồm đứng dậy.
Đó là một người đàn ông trạc tuổi cha nàng, vóc gầy gò, khoác tấm áo tơi rách tươm, hai ống quần nâu bết đặc bùn khô.
Đôi dép rơm dưới chân đã mòn vẹt trơ cả ngón, như thể vừa lặn lội cuốc bộ ròng rã suốt mấy ngày đường.
Thấy Lãng bước tới bên chum nước, người ấy ngập ngừng rồi chồm tới, giọng run rẩy:
“Chú Lãng!
Có phải… có phải chú Lãng đấy không?”
Lãng đang cúi đầu múc nước, nghe tiếng gọi thì ngớ người ngẩng lên, gáo dừa trên tay lơ lửng giữa chừng:
“Bác… bác gọi ai cơ?”
“Tôi đây!
Bác Cả Thuận bên xóm Dâu đây mà!” Người đàn ông túm chặt lấy cổ tay áo Lãng, thở dốc ra từng luồng khói trắng, mắt đỏ hoe.
“Tìm được chú ở đây may quá trời Phật ơi!
Tôi lần theo lời người ta chỉ từ phủ An phủ sứ mới sang được bến này…”
Mai Đào đứng tựa vào cột lò, tò mò nhìn sang.
Nàng chưa từng thấy người làng cũ của Lãng tìm đến bao giờ, chỉ nghe loáng thoáng hắn là dân ngụ cư trôi dạt, cha chết trận từ thời trước, vào rể nhà họ Vũ cũng chỉ có một thân một mình.
Người tên Thuận nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng nghẹn lại:
“Chú Lãng ơi, u chú ở quê… bà cụ ốm nặng lắm rồi!
Trúng gió độc từ đầu tháng rồi liệt giường, mấy ngày nay cháo nước không trôi hạt nào, chỉ thều thào gọi tên chú.
Thầy lang trong làng đã lắc đầu bó tay…
Bà cụ sợ không gượng qua nổi tiết đông này, dặn tôi sống chết cũng phải tìm bằng được chú về, để nhìn mặt con lần cuối!”
Chiếc gáo dừa trên tay Lãng tuột khỏi ngón tay, rơi đánh “tõm” xuống chum nước, bọt bắn tung tóe lên vạt áo chàm.
Mai Đào toan bước tới nói vài câu an ủi, nhưng vừa nhìn sang mặt Lãng, bước chân nàng khựng phắt giữa chừng.
Lãng không khóc.
Toàn thân hắn bất động như một bức tượng bùn đông cứng giữa gió lạnh.
Nụ cười cợt nhả thường trực trên môi hắn biến mất sạch trơn.
Nhưng điều khiến Mai Đào lạnh sống lưng là sắc mặt của hắn: từng giọt máu như bị rút cạn khỏi da thịt, tái mét, trắng bệch ra như người chết trôi.
Đôi mắt hắn mở trừng trừng, tròng mắt dại đi, mờ mịt và hoang mang đến cùng cực.
Đó hoàn toàn không phải vẻ mặt đau đớn thắt ruột của một đứa con vừa nghe tin mẹ ruột lâm cơn nguy kịch.
Mai Đào nhìn chằm chằm vào nét sững sờ đến rợn người ấy.
Trông hắn lúc này hệt như kẻ vừa bị sét đánh ngang tai, hoảng hốt và chết lặng—như thể đây là lần đầu tiên trong đời, hắn mới biết mình có một người mẹ.