Gió bấc cuối năm 1282 thổi rát mặt qua bãi bồi sông Lục Đầu, nhưng trong góc lò Kẻ Sắt, mồ hôi vẫn cay xè khóe mắt Đinh Lãng.
Trước mặt anh là cái lò đứng bằng đất thó bọc đai sắt cao ngang ngực, nối với chiếc bễ thụt hai chiều bằng gỗ lim.
Từng nhịp kéo ép gió qua ống đồng cắm thẳng vào đáy lò, khiến ngọn lửa bên trong réo lên từng hồi như sấm nghẹn.
Mẻ gang lỏng đầu tiên chảy ra rực ánh vàng cam, nhỏ từng giọt đặc quánh vào rãnh đất đúc thử.
Chờ thỏi gang nguội bớt, Lãng dùng kìm gắp ra đặt lên mặt đe.
“Coong!”
Mai Đào chỉ dùng mũi búa con gõ nhẹ một cái, thỏi kim loại thử nghiệm đã vỡ toác làm đôi rồi vụn ra thành mấy mảnh sắc lẹm, lộ mặt gãy sáng choang.
“Khéo tay gớm nhỉ,” Mai Đào khoanh tay trước ngực, mắt lấp lánh vẻ trêu chọc dẫu mặt mũi lem nhem bồ hóng.
“Sắt nhà quan đem nung thành sành rồi.
Bát ăn cơm vỡ còn chẳng giòn bằng cái thứ này.”
Lãng thở dài, lôi mẩu than cùn và cuốn sổ tay bằng giấy bản giắt ở cạp quần ra, hí hoáy nguệch ngoạc: *Log mẻ 1: Nhiệt đủ chảy nhưng nguội quá nhanh, cacbon hòa tan hết thành cementit, gang trắng giòn như bánh đa khô.*
“Chê ít thôi, thợ Mai,” Lãng làu bàu, quệt mu bàn tay dính mỡ lên trán.
“Làm kỹ thuật mà đòi ăn ngay từ mẻ đầu thì thánh cũng phải vác bễ chạy dài.”
Anh lục lại mớ ký ức thời ngồi giảng đường cơ khí.
Muốn có gang xám, than chì phải có thời gian kết tinh thành từng phiến nhỏ để triệt tiêu độ giòn, và xỉ bẩn phải được đẩy hết lên mặt.
“Đổi than!” Lãng chỉ tay.
“Bỏ đống than xốp kia đi, xúc than hầm gỗ nghiến cho đượm lửa, giữ nhiệt lâu.
Đập nhỏ mấy hòn đá vôi trắng bờ sông kia nữa, thả một vốc vào cùng quặng.”
“Cho đá vào để nổ lò à?” Mai Đào nhíu mày nghi ngờ, nhưng đôi tay quen việc đã thoăn thoắt nhặt đá cuội trắng đập vụn theo lời anh.
“Chất trợ dung đấy, để gom bã xỉ nổi lên.” Lãng giải thích rồi quay sang ém lại khuôn đúc hình lưỡi cày bằng cát mịn trộn đất sét ẩm, nén thật chặt tay để kim loại lỏng không tản nhiệt quá gấp.
Mẻ thứ hai rồi mẻ thứ ba vẫn chỉ là những mẻ nấu thăm dò.
Mẻ thì xỉ bám khiến nước gang sền sệt, mẻ thì nhiệt bễ thụt chưa đều, Lãng dứt khoát cho xả ra hố xỉ.
Mãi đến chập tối, mẻ gang thứ tư mới róc rách tuôn ra.
Dòng sắt nóng sẫm màu cuộn êm vào lòng khuôn cát.
Lãng kiên nhẫn đợi dưới gió lạnh, ngăn không cho ai hắt nước làm nguội cưỡng bức.
Khi Mai Đào gạt lớp cát đen ra, chiếc lưỡi cày gang đầu tiên của xưởng hiện lên dưới ánh đuốc, phủ màu xám đục sần sùi chứ không bóng loáng giả tạo như thỏi gang ban chiều.
Nàng cầm chiếc búa nặng ba cân bước tới, liếc Lãng một cái thăm dò rồi dằn tay giáng mạnh xuống sống lưỡi cày.
“Keng!”
Tiếng kim loại vang lên đanh và trầm.
Chiếc lưỡi cày nảy nhẹ trên đe gỗ nhưng nguyên vẹn, không hề xuất hiện một vết nứt chân chim nào.
Mai Đào tròn mắt, cúi rạp người miết ngón tay đầy vết chai lên cạnh gang xám, vẻ mặt sững sờ dường như không tin nổi vào mắt mình.
Niềm vui mẻ gang xám chưa kịp giữ ấm bụng thì vừa bước chân về tới cổng phủ họ Vũ, Lãng đã ngửi thấy mùi căng thẳng đặc quánh trong không khí.
Đám gia nhân chạy ngược chạy xuôi ở tiền sảnh như ong vỡ tổ, chân bước dồn dập mà không ai dám cất tiếng thở mạnh.
Ngay trước thềm đá, bốn tên lính giáp trụ chỉnh tề, tay cầm giáo dài đứng nghiêm như tượng, thắt lưng đeo lệnh bài chữ thếp vàng lấp lánh dưới bóng đuốc.
Dưới sân là mấy cỗ xe ngựa chở rương hòm bọc sắt mang phù hiệu triều đình.
Có lệnh kiểm kê từ kinh thành.
Tháng trước Bình Than vừa tan, triều đình đã ráo riết phái quan khảo kiểm đi rà soát từng kho lương dọc các lộ hiểm yếu để tính kế phòng biên.
Lãng khẽ lách qua hàng rào mắt cáo, nấp sau bức bình phong gốm men ngọc nhìn vào đại sảnh.
Cha vợ anh – quan An phủ sứ Vũ Thế Khâm – đang đứng chắp tay hơi khom người, nét mặt căng cứng.
Phía bàn trên, một viên quan trung niên mặc áo bào đỏ tía thêu chim trĩ, chòm râu tỉa tót kỹ càng, đang thong thả nhấp chén trà nóng.
Trước mặt ông ta là xấp sổ dày cộp bìa bọc lụa vàng, kẹp chi chít thẻ tre đánh dấu.
“Vũ đại nhân,” viên quan cất giọng trầm bổng, không giận dữ nhưng từng lời buông ra lạnh buốt như sương muối ngoài sân.
“Hội nghị ở Bình Than vừa định rõ: lương thực là gốc rễ giữ ải.
Quân giặc một khi tràn qua biên giới, thủy lục lộ Hồng là yết hầu tiếp tế cho quân doanh Vạn Kiếp.
Ấy thế mà bản chức đối chiếu số thóc thực nhập của kho Lục Đầu với sổ điều chuyển bộ Hộ đưa về, lại thấy hụt mất hai nghìn bốn trăm hộc.”
Đầu ngón tay viên khảo kiểm gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ trắc, phát ra tiếng cộc cộc khô khốc.
Vũ Thế Khâm thoáng rùng mình, mặt thoắt cái trắng bệch.
Hai nghìn bốn trăm hộc thóc không phải con số nhỏ.
Quy vào tội tắc trách hay bòn rút lương quân giữa lúc bờ cõi lâm nguy, nhẹ thì bãi chức đồ đày, nặng thì cả họ rơi đầu.
“Bẩm… bẩm Thượng ty,” Vũ Thế Khâm lắp bắp, vạt áo quan rung lên bần bật, mồ hôi rịn ra bóng nhẫy trên trán.
“Hạt thóc thuế vụ mùa vừa rồi hạ quan đều thân chinh đốc thúc niêm phong, ngày đêm có lính canh giữ, tuyệt nhiên không thể hao hụt lớn đến mức ấy.
Hay là… có sự nhầm lẫn trong lúc ty lại chép biểu dâng lên?”
“Nhầm lẫn?” Viên quan khảo kiểm cười nhạt một tiếng, ánh mắt sắc như dao cau lướt qua vẻ hoảng loạn của viên quan địa phương.
“Biểu này do chính tay quan An phủ sứ ký triện son gửi về Thăng Long tháng trước.
Chẳng lẽ ấn tín của Vũ đại nhân cũng biết tự điền số bậy bạ?”
Vũ Thế Khâm cắn chặt môi đến suýt rớm máu, hai đầu gối chực khuỵu xuống.
Ông hít một hơi run rẩy, chắp tay vái dài đến sát đất:
“Tội hạ quan đáng muôn chết.
Dám xin Thượng ty đại lượng cho khất lại một đêm nay.
Hạ quan xin thức trắng để lật lại từng tờ kho tịch đối chiếu, sáng mai nhất định dâng bản trần tình tường tận.”
Viên quan nheo mắt nhìn ông giây lát, buông chén trà cạch một cái xuống khay đồng.
“Được.
Nể tình Vũ gia có công với triều đình từ thời Nguyên Phong, ta cho đại nhân tới giờ Mão sáng mai.
Nếu lúc ấy thóc vẫn không ra thóc, sổ vẫn không thành sổ, thì thứ mang về Thăng Long không chỉ có đống giấy này đâu.”
Đêm mùa đông buốt giá.
Lãng bưng bát cháo gừng nóng lên gác tây, nơi duy nhất trong phủ còn le lói ánh đèn.
Đẩy cánh cửa gỗ khép hờ, anh khựng lại.
Bên chiếc bàn thấp, Vũ Diệu Hoa ngồi giữa hàng chục cuốn sổ bằng giấy dó bày la liệt.
Mái tóc nàng búi vội bằng trâm gỗ, một tay tì trán, tay kia thoăn thoắt gạt hạt bàn tính lách cách.
Ánh đèn dầu lạc hắt lên gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi.
“Ăn chút lót dạ đi, đại tiểu thư.
Thóc chưa thấy đâu mà người gục trước thì khốn.”
Lãng đặt khay cháo xuống góc bàn, liếc mắt nhìn tờ biểu mực chưa ráo.
Chữ viết dứt khoát, thanh mảnh—ghi rành rẽ từng kho lương từ Nam Sách đến Lục Đầu giang.
Anh sững lại:
“Nét chữ này... giống hệt trên sớ thuế nộp lên kinh?”
Diệu Hoa giật thót, vội lấy tay che xấp giấy, ánh mắt đanh lại:
“Chuyện cơ mật phủ nha, ai cho chàng tọc mạch?
Mau lui ra.”
“Tôi nhìn là biết ngay,” Lãng cúi sát xuống, chỉ vào một vệt mực.
“Nét mác hất lên ngập ngừng ở đuôi, y hệt chữ nàng ghi biên nhận cọc sắt tháng trước.
Đừng bảo mấy năm nay con gái làm sổ thay quan An phủ sứ đấy nhé?”
Bị lột trần, Diệu Hoa buông bàn tính, thở hắt ra cay đắng:
“Phải thì sao?
Cha bận việc quân phòng, trông coi đê điều, lại hay đau đầu phong.
Thư lại thì chỉ chực đục khoét.
Ta không đỡ đần số sách thì cái phủ này nát từ lâu rồi.
Giờ chàng biết rồi, muốn cười nhạo phận nữ nhi chen vào việc công đường thì cứ cười đi.”
“Cười gì, phục còn không hết,” Lãng kéo đôn gỗ ngồi xuống đối diện.
“Nhưng nàng cộng dồn một chiều thế này thì đến mai cũng chẳng xong.”
Lãng giật lấy cây bút, vạch các đường dọc ngang trên tờ giấy bản trắng chia thành từng ô:
“Kẻ bảng gióng hàng thế này.
Cột dọc là tên kho, dòng ngang là các vụ thu.
Nàng tính tổng từng kho theo hàng ngang, rồi cộng từng loại thóc theo cột dọc.
Cuối cùng, tổng hàng ngang phải bằng chằn chặn tổng cột dọc.
Lệch một hạt là lòi ra sót ở kho nào.”
Diệu Hoa nheo mắt nhìn những ô vuông kỳ lạ.
Vốn thông tuệ, nàng hiểu ngay ý đồ, đôi mắt sáng rực.
Nàng cầm lại bút, tay trái gạt bàn tính thoăn thoắt chép số liệu sang ô mới.
Căn gác chỉ còn tiếng hạt tính lách cách và ngòi bút sột soạt.
Đến gần canh tư, hai ngón tay bỗng cùng lúc đập mạnh xuống một góc tờ biểu:
“Đây rồi!”
Kho lương bến Trúc của huyện Giáp Sơn bị ghi hai lần: một lần ty vận tải đường thủy nộp hai nghìn bốn trăm hộc, một lần đề lại huyện lại ghi trùng con số đó vào ngạch lưu kho.
“Tôi tìm ra trước!” Lãng đắc ý chỉ vào ngón tay mình.
“Mắt tôi liếc thấy trước nàng đúng nửa nhịp thở.”
“Nói khoác!” Diệu Hoa gạt phắt tay anh ra, lườm sắc lẻm nhưng khóe môi rạng rỡ nụ cười.
“Bút ta điểm dấu son trước.
Không nhờ ta dùng bàn tính ép góc thì chàng nhìn toét mắt cũng chẳng thấy!”
“Không có bảng kẻ ô của tôi thì nàng còn đang ngụp lặn kia kìa!”
Diệu Hoa vơ cuốn sổ bìa nâu đập nhẹ vào vai Lãng.
Trong đôi mắt nàng, vẻ lạnh lùng kiêu kỳ đã tan sạch, chỉ còn lại sự nhẹ nhõm như vừa trút được tảng đá ngàn cân.
Sương sớm còn đọng trắng mặt lá chuối ngoài vườn thì viên quan khảo kiểm đã đứng dậy khỏi sập gụ ở tiền sảnh.
Bản trần tình mới viết thấu đêm nằm ngay ngắn dưới tay ông ta, những con số của từng kho ngang dọc đều tăm tắp, mực son chấm đỏ chót chỗ bến Trúc bị chép trùng, tổng số cuối cùng khớp đến từng đấu thóc.
Viên quan vuốt chòm râu, vẻ mặt lạnh lùng tối qua giãn ra thành nụ cười vừa lòng:
“Rõ ràng, minh bạch.
Lộ Hồng nắm sổ sách rành mạch thế này, Thượng thư sảnh xem qua ắt cũng yên tâm.
Vũ đại nhân vất vả rồi.”
Vũ Thế Khâm chắp tay tiễn khách tận chân thềm tam cấp.
Mãi đến khi cỗ xe ngựa bọc sắt cùng toán lính gõ móng lộc cộc xa dần khỏi cổng phủ, bờ vai căng cứng của ông mới chùng xuống một chút.
Nhưng ông không thở phào hay vào buồng nghỉ.
Ánh mắt ông đảo qua sân, dừng lại đúng chỗ Lãng đang đứng bên gốc ngô đồng giả vờ cầm chổi quét lá.
“Lãng.
Vào thư phòng với ta.”
Giọng ông trầm cộc, không rõ giận hay mừng.
Cánh cửa gỗ lim dày cộp khép lại sau lưng Lãng, ngăn bớt cái rét buốt đầu đông.
Trong phòng phảng phất mùi trầm hương quyện với mùi giấy mực.
Vũ Thế Khâm không ngồi xuống ghế chủ vị mà đứng quay lưng, chắp tay nhìn lên bức hoành phi “Thanh Bạch Gia Phong”.
“Đêm qua, con ở trên gác tây.”
Đó không phải một câu hỏi.
Lãng giật mình, cúi đầu lựa lời:
“Dạ, con... con chỉ mang bát cháo gừng lên cho hiền thê lót dạ.”
Khâm quay phắt lại.
Đôi mắt thâm quầng sau đêm trắng nhìn xoáy vào Lãng, sắc sảo và mệt mỏi:
“Không cần giấu.
Chữ kẻ bảng ô dọc ô ngang ấy không phải bút pháp của con gái ta, nhưng số tính toán rành rọt từng li từng tí thì chỉ có nó làm được.
Ta biết hết.”
Lãng nín thinh, trong bụng thầm đoán xem cha vợ định giở bài gì.
“Nhiều năm nay, việc kho đụn, sổ thuế trong lộ, tám chín phần là do Hoa nhi làm thay ta,” Khâm thở dài, nếp nhăn nơi khóe mắt sâu hoắm lại.
Vẻ oai vệ của quan An phủ sứ dường như bốc hơi, chỉ còn sự trĩu nặng của một người cha.
“Thiên hạ chỉ biết công danh của kẻ làm quan, nhưng lại hẹp hòi với phận nữ nhi.
Con gái nhà gia thế dính vào sổ sách nha môn, người ta không khen tài, chỉ bảo lấn quyền, mất nết, sau này khó mà ngẩng mặt làm dâu, làm vợ.”
Hóa ra ông già khó tính này không hề hồ đồ, mà chỉ dùng vỏ bọc nghiêm khắc để che chở cho con gái trước miệng lưỡi lễ giáo.
“Ta để nó làm vì chỉ tin cốt nhục của mình, nhưng ta phải giấu,” Vũ Thế Khâm bước tới một bước, hạ giọng gằn từng tiếng nghiêm rợn gáy.
“Nay con đã thấy, đã biết.
Phải nhớ kỹ lấy lời ta: việc con bé biết quản sổ sách lộ Hồng, tuyệt đối không được hé răng với nửa người ngoài.
Dù lúc say rượu hay đùa cợt, nếu để lọt ra một lời làm hại danh tiết Diệu Hoa, ta không tha cho con đâu.”
Lãng vội chắp tay, cúi đầu thật thấp:
“Nhạc phụ yên tâm.
Con gái họ Vũ chỉ là khuê nữ đoan trang nơi trướng gấm, chuyện sổ sách ngoài nha môn con chưa từng nghe, chưa từng thấy.”
Vũ Thế Khâm nhìn chằm chằm Lãng hồi lâu, rồi khẽ phất tay áo:
“Biết thế là tốt.
Ra ngoài đi.”
Rời thư phòng cha vợ, Lãng hít một hơi dài khí lạnh cho tỉnh táo rồi rảo bước về chái tây.
Vừa đẩy cửa vào phòng riêng, anh đã thấy Diệu Hoa ngồi ngay ngắn bên án thư nhỏ.
Đôi mắt nàng đã bớt quầng thâm sau khi chợp mắt được một canh giờ, trên bàn không còn đống kho tịch bề bộn của nha môn nữa.
Thay vào đó là một cuốn sổ mới tinh bọc lụa màu xanh chàm và chiếc tráp sơn son mở toang nắp.
“Cái gì đây?” Lãng tò mò bước tới, nhòm vào trong tráp.
Bên trong xếp chật ních những xâu tiền đồng sáng loáng, dây cói xâu chặt, mùi kim khí ngai ngái bốc lên đặc sệt.
Lãng trợn tròn mắt.
Đống này ít nhất cũng phải tới bảy, tám chục quan tiền chứ chẳng chơi.
“Tám mươi quan chẵn,” Diệu Hoa nhàn nhạt cất lời, ngón tay thon thả đẩy cuốn sổ về phía anh.
“Tiền cọc.”
Lãng cầm cuốn sổ lên.
Ngay trang đầu tiên, nét chữ thanh thoát, kiêu hãnh của nàng hiện lên rành rành: *Chủ sổ: Vũ Diệu Hoa*.
Lật tiếp vào trong, anh há hốc mồm.
Từng trang ghi chép chi li đến kinh ngạc: phu nhân quan Tri phủ đặt hai chiếc, thứ nữ nhà viên ngoại họ Lê đặt ba chiếc...
Toàn là đơn đặt hàng gương đồng mài nhẵn có tráng thiếc bóng loáng mà dạo trước anh bày cho lò thợ rèn làm thử để kiếm thêm tiền mua than.
Anh mải mê với lò bễ búa máy nên quên bẵng đi, không ngờ nàng đã âm thầm biến nó thành mối làm ăn béo bở đến mức này.
“Nàng... nàng nhận cọc từ bao giờ thế?” Lãng lắp bắp.
“Tận tám mươi quan?”
“Chàng tưởng đống quặng với than nghiến chở từ bến sông về mấy hôm nay tự trên trời rơi xuống à?” Diệu Hoa liếc xéo anh một cái, khóe môi khẽ nhếch vẻ đắc ý.
“Lò Kẻ Sắt chỉ biết đập búa, còn sắt bán cho ai, tiền vào túi nào thì phải có người lo.
Đống gương ấy, các mệnh phụ trong vùng đang tranh nhau vỡ đầu.”
Lãng hít sâu một hơi, lòng bái phục sát đất.
Đúng là hổ phụ sinh hổ tử, cái đầu tính toán này mà ở thời hiện đại thì khối tay kế toán trưởng phải xách dép chạy theo.
“Được, được lắm!” Lãng vỗ đùi đánh đét, mắt sáng rực.
“Từ nay, chức 'giám đốc tài chính' của toàn bộ lò Kẻ Sắt chính thức thuộc về nàng.
Ta chịu trách nhiệm kỹ thuật, nàng nắm hầu bao, đôi ta song kiếm hợp bích thì lo gì không giàu!”
“Giám... đốc tài chính?” Diệu Hoa nhíu mày lẩm bẩm cụm từ kỳ quặc.
Nhưng dường như cảm nhận được quyền lực tối thượng đối với túi tiền mà anh vừa giao phó, ánh mắt nàng thoáng lấp lánh vẻ kiêu hãnh.
Nàng thong thả nhúng ngọn bút lông vào nghiên mực, nắn nót viết bốn chữ lớn theo lối chân phương lên bìa lụa: *Giám Đốc Tài Chính*.
Lãng vừa định trêu thêm vài câu thì cánh cửa liếp bỗng bị đập rầm một tiếng.
Tí Sún thở không ra hơi, mặt mũi đỏ gay vì chạy vội, hai tay run run chìa ra tấm thiếp bằng giấy hoa tiên đỏ thắm mạ chữ nhũ:
“Anh Lãng!
Chị Hoa!
Có... có biến lớn ngoài bến sông rồi!”
Lãng giật lấy tấm thiếp, nhíu mày: “Chuyện gì mà sấp ngửa thế?”
“Lái buôn lớn từ thuyền Vân Đồn vừa ghé bến Lục Đầu!” Tí Sún nuốt nước bọt ực một cái, hổn hển nói tiếp.
“Người ta tự xưng là Quách Sùng, vừa sai người mang thiếp tới tận xưởng rèn, bảo muốn đặt mua đứt ngay năm trăm cân sắt tốt!”