Mùi than tàu khét nồng quyện với hơi sắt nung ngột ngạt cả gian xưởng Kẻ Sắt.
Kể từ phiên chợ lộ Hồng, đơn đặt hàng từ các tổng dồn về như nước lũ: lưỡi cuốc vỡ, dao quắm, dao rẫy... phôi sắt chất đống góc tường.
Tiếng quai búa dồn dập từ sáng tới trưa đã biến thành những nhát đập rời rạc.
Lão Mai Cả buông chiếc búa tạ tám cân xuống đe, ngồi thụp xuống bậc cửa, hai bắp tay giật từng cơn vì mỏi rã.
Mai Đào tựa lưng vào cột lò, vạt áo nâu bết chặt mồ hôi, thở dốc.
Đám thợ phụ nằm vật ra đống xỉ than nguội, ngón tay co quắp cầm không nổi bát chè tươi.
Đinh Lãng lách qua mớ phôi thép, bước ra ngoài tìm chút gió.
Khớp vai anh ê ẩm sau nửa ngày phụ giữ kẹp sắt.
Anh đi dọc con lạch dẫn nước từ nhánh sông Lục Đầu vào đồng ruộng, ngồi bệt xuống vệ cỏ.
Trước mắt anh, chiếc guồng nước bằng tre khổng lồ đang kẽo kẹt xoay tròn.
Từng ống bương múc đầy nước dưới lạch, chậm rãi nâng lên rồi trút ào vào máng dẫn, đều đặn, bền bỉ, không hề biết mỏi.
Lãng nheo mắt nhìn những nan tre chém vào dòng nước.
Trong đầu một cựu sinh viên cơ khí dở dang, các khớp nối tự động hiện ra.
Chuyển động quay tròn của dòng nước... nếu gắn một trục gỗ lớn xuyên tâm guồng, trên trục đẽo các vấu lồi gạt vào đuôi cán búa; khi vấu trượt qua, đầu búa sẽ rơi tự do nện xuống đe nhờ trọng lực.
Chu kỳ lặp lại.
Búa máy guồng nước!
Một chiếc búa nặng ba mươi cân có thể nện liên tục mà không tốn một giọt mồ hôi người.
“Nghỉ tay thế đủ rồi, các bác ơi!
Họp... họp daily một lát nào!”
Lãng đứng phắt dậy, vừa chạy ngược về xưởng vừa vẫy tay rối rít.
Mai Cả ngước lên nhìn bằng ánh mắt mệt mỏi, dường như tưởng chàng rể nhà quan lại sắp vẽ việc.
Mai Đào cau mày, tay vẫn cầm chiếc giẻ lau muội than.
Không để ai kịp càu nhàu, Lãng bẻ cành ổi ven rào, gạt phẳng khoảng đất thịt trước cửa lò rồi ngồi xổm xuống.
“Lại đây, mau lên các bác.
Cứ quai búa bằng cơm thế này thì chưa xong đơn hàng, cả lò rèn đã tàn phế hết.”
Đám thợ tò mò vây lại thành vòng tròn.
Cành ổi trong tay Lãng lia thoăn thoắt trên mặt đất.
Anh vẽ vòng tròn tượng trưng cho guồng nước, một trục ngang dài ngoằng và những mấu gỗ hình quả lê nhô ra.
“Nhìn này, đây là bánh xe nước ngoài lạch,” Lãng chỉ trỏ, mắt sáng rực.
“Ta nối một thân gỗ lim lớn làm trục quay.
Chỗ này đẽo hai cái vấu gạt gọi là cam.
Bên cạnh dựng trụ đỡ đòn bẩy, gắn quả búa nặng ở đầu đe.
Nước đẩy guồng quay, vấu cam sẽ ấn đuôi đòn bẩy cho búa nhấc lên, vấu đi qua thì búa tự giáng xuống.
Sức nước đập thay tay người, ngày đập nghìn nhát sắt cũng phẳng lì!”
Mai Cả chằm chằm nhìn hình vẽ ngoằn ngoèo, chòm râu bạc khẽ giật:
“Dùng nước nâng búa sắt?
Thân gỗ nào chịu nổi sức giằng ấy mà không gãy vụn?”
“Gãy thì ta làm lại, đẽo mộng kép, bọc thêm đai sắt!” Lãng cười toe toét, gõ mạnh cành ổi xuống đất.
“Lấy gỗ, đẵn tre ngay hôm nay, chiều mai ta cho búa nện nhát đầu tiên!”
Chiếc lều tre nứa lợp rạ dựng vội ngay bờ lạch nước.
Mất trọn một ngày đục đẽo, thân gỗ mít to bằng bắp đùi được gác ngang hai cọc lim cắm sâu xuống bùn, nối với guồng nước, giữa thân nhô ra hai mấu gỗ gọt tròn mà Đinh Lãng gọi là vấu cam.
Cán búa dài gần một trượng làm bằng gỗ nghiến, đầu buộc chặt cục sắt vuông bốn mươi cân, nằm gác trên chạc đỡ.
“Tháo then chặn nước!” Lãng chống hai tay ngang hông, hét lớn đầy hào sảng.
Gã thợ phụ vội rút tấm ván chắn máng dẫn.
Nước sông cuồn cuộn tràn vào, xô mạnh vào nan tre.
Chiếc guồng rên lên ken két rồi bắt đầu quay nhanh.
Trục gỗ mít chao đảo, vấu cam đầu tiên trườn tới, tì vào đuôi cán búa đè lún xuống.
Đầu búa sắt từ từ nhấc bổng lên khỏi mặt đe.
“Lên rồi!
Lên thật kìa!” Đám thợ ồ lên thán phục.
Mai Cả nheo mắt nhìn trừng trừng, hai bàn tay siết chặt.
Vấu cam trượt qua chót đuôi, trọng lực kéo đầu búa rơi tự do. *Ầm!* Một tiếng nện đanh gọn giáng thẳng xuống đe sắt, làm bùn đất dưới chân rung lên bần bật.
Lãng toan quay sang nháy mắt với Mai Đào thì nhát thứ hai tiếp tục giáng xuống.
Nhưng đến vòng quay thứ ba, dòng nước xiết hơn khiến guồng quay giật cục.
Mấu gỗ mít non không chịu nổi áp lực khủng khiếp, phát ra tiếng *tách* khô khốc rồi gãy lìa, văng ra xa như viên đạn lạc.
Mất điểm tì cân bằng, cán gỗ nghiến trượt khỏi rãnh dẫn hướng, vặn ngoẹo sang bên.
Cục sắt bốn mươi cân thay vì đập xuống đe lại vung ngang như quả chùy khổng lồ, nện thẳng vào cây cột tre cái chống lều.
*Rắc!
Rầm!*
Cột gãy đôi.
Nửa mái lều lợp rạ cùng bụi bặm, cành rào rệu rã đổ ụp xuống.
Đám thợ hoảng hốt dạt hết ra sau.
Một mảng tranh khô trùm kín mít từ đầu đến thắt lưng Lãng, biến anh thành một đống rơm sình bùn giữa bờ lạch.
Khói bụi tan dần trong tiếng thở phào vì không ai dính đòn.
Mai Cả đứng chết trân, còn Mai Đào thì ôm bụng ngửa cổ cười sặc sụa.
Nàng cười đến mức lăn cả ra bờ đất, chân giậm thình thịch, nước mắt giàn giụa hai khóe mi.
“Búa thần... búa thần của thầy rể đấy à!” Nàng vừa thở vừa cười ngặt nghẽo.
“Đập sắt không đập, lại đi dỡ nhà người ta!”
Đám thợ phụ cũng không nén nổi, tiếng cười hô hố vang cả một khúc sông.
Lãng chật vật hất đống rạ mục khỏi đầu, nhổ cọng rơm khô vướng ngang mép.
Anh phủi bụi trên vạt áo nâu, mặt đen nhẻm vì muội than lẫn bùn, nhưng không hề ngượng ngùng.
Anh lẳng lặng rút cuốn sổ tay bọc da trong ngực áo, lấy mẩu than củi giắt ở tai rồi ngồi thụp xuống tảng đá.
Bằng nét chữ xiêu vẹo của kẻ quen gõ bàn phím hơn cầm cọ, Lãng nắn nót ghi lại:
*Bug số 17: Búa máy nảy sinh ý chí riêng — từ chối đập đe, chuyển sang đập cột lều.
Khắc phục: gỗ mít quá mềm, phải đúc cam bằng đồng thau hoặc bọc sắt tấm, cần thêm thanh giằng cố định phương ngang.*
Ghi xong, anh ngẩng lên nhìn nửa cái lều nát bươm, tự lẩm bẩm:
“Cười đi, cứ cười cho đã.
Mai ta bọc sắt vào cam, cho búa đập ra bã hết lúc bấy giờ mới biết tay nhau.”
Quan An phủ sứ trở về vào lúc chập tối, phong trần còn vương trên tà áo gấm.
Nửa tháng ngài dự đại hội ở bến Bình Than, phủ họ Vũ vắng ngắt; nay chủ nhân hồi phủ, không khí nhà chính lại càng thêm ngột ngạt.
Bữa cơm dọn ra dưới ánh đèn lồng, chỉ có tiếng gió thu xào xạc ngoài vườn chuối và tiếng bát đũa khẽ chạm.
Vũ Thế Khâm ngồi ghế chủ tọa, nét mặt hằn sâu nỗi mệt mỏi trĩu nặng của việc triều chính.
Vũ Trọng Đạt ngồi khép nép bên tả, Diệu Hoa lặng lẽ xới cơm cho cha, còn Lãng thu mình nơi góc mâm, cắm cúi ăn như một cái bóng.
Đặt chiếc bát hoa lam xuống chiếu, Vũ Thế Khâm buông tiếng thở dài:
“Bình Than phen này... gió lạnh buốt xương sống.
Thuyền rồng của Quan triều san sát mặt sông, cờ xí rợp trời từ cửa Lục Đầu đổ về.
Vua, Thượng hoàng cùng Hưng Đạo Đại Vương và trăm quan hội về bàn kế giữ nước.
Giặc phương Bắc... sắp tràn sang thật rồi.”
Cả mâm cơm lặng phắc.
Diệu Hoa khựng tay đưa đũa, Trọng Đạt nuốt nước bọt cái ực, mặt mày tái đi.
Vũ Thế Khâm lắc đầu, giọng chùng xuống:
“Bàn việc quân cơ mà lòng người trăm mối.
Nhưng nơi bến sông ấy, có một chuyện khiến ta day dứt mãi.
Hôm ấy triều đình nghị sự trên thuyền lớn, chỉ triệu bậc vương hầu.
Dưới bến có một thiếu niên tông thất... trạc mười lăm, mười sáu tuổi, thân phận cao quý nhưng vì còn quá nhỏ nên lính canh giữ lại, nhất quyết không cho xuống thuyền.”
Tim Lãng hẫng đi một nhịp.
Đầu đũa tre trên tay anh sững lại giữa lưng chừng bát.
“Đứa trẻ ấy đứng trên bờ, mắt rực lửa uất ức, nằng nặc đòi xông xuống xin đánh,” ông Khâm kể tiếp, ánh mắt hiện lên vẻ thán phục lẫn ngậm ngùi.
“Vua thương tình, biết có chí lớn nhưng chưa đến tuổi việc quân, bèn truyền đem ban cho một quả cam quý để an ủi.
Ngờ đâu... nhận cam xong, đứng nhìn bậc cha chú bàn việc sống còn của giang sơn, nó giận mình phận nhỏ không được gánh vác non sông.
Nó nghiến chặt răng, siết chặt nắm tay...
Đến khi tiệc tan bước ra bờ sông, quả cam trong tay đã bị bóp nát bấy từ lúc nào, nước cam tứa đỏ lòm kẽ tay mà chính nó cũng không hề hay biết.”
*Trần Quốc Toản!*
Cái tên ấy dội thẳng vào tâm trí Lãng như tiếng sét.
Máu trong người anh như đông cứng lại.
Câu chuyện từng nằm im lìm trên những trang sách giáo khoa thuở ấu thơ, bài học lịch sử anh từng ê a học thuộc... nay lại được kể ra từ miệng một nhân chứng sống, ngay trong căn phòng này, vào chính năm Thiệu Bảo thứ tư.
Lịch sử không phải con chữ chết.
Nó đang thở, đang cuộn trào ngay ngoài khúc sông cách phủ chỉ vài dặm.
“Đó là Hoài Văn Hầu...”
Câu nói suýt bật thốt ra khỏi cuống họng.
Lãng giật bắn mình, kịp thời cắn chặt đôi đũa tre vào giữa hai hàm răng.
Tre kêu răng rắc, răng hàm đau nhói, vị chát ứa ra đầu lưỡi kéo anh giật ngược về thực tại.
*Không được nói!
Một chữ cũng không được nói!*
Luật cánh bướm gào thét trong đầu anh.
Biết trước ai sẽ dựng cờ thêu sáu chữ vàng, ai sẽ lập chiến công, nhưng một khi buột miệng tiên tri, vòng xoáy nghi kỵ thời loạn sẽ nghiền nát thân phận nhỏ nhoi này lập tức.
Lãng cúi gằm mặt, dùng hết sức bình sinh nuốt ực ngụm canh nguội ngắt để ghìm chặt mọi tri thức của ngàn năm sau nằm lại đáy lòng.
Sương đêm buông dày trên mái ngói cong của phủ họ Vũ, làm ướt đẫm những phiến đá xanh ngoài sân.
Gió từ phía bến Lục Đầu thổi thốc về, mang theo hơi nước buốt lạnh luồn qua rặng trúc, xào xạc từng cơn.
Lãng ngồi bó gối ngoài thềm hiên đông, hai tay luồn sâu vào bọc áo nâu.
Cảm giác ớn lạnh từ câu chuyện thiếu niên bóp nát quả cam trong bữa cơm vẫn chưa chịu tan đi.
Lịch sử không còn là trang sách xa xôi nữa, nó đang đè nặng lên từng tấc đất dưới chân anh.
Chỉ hơn hai năm nữa thôi, chiến tranh sẽ ập đến.
Triều đình cần thuyền chiến, giáo mác, xích sắt chặn sông.
Mọi phòng bị trước đại quân phương Bắc rốt cuộc đều quy về một thứ gốc rễ trần trụi: sức người và kim loại.
Tiếng guốc mộc khẽ khàng chạm trên bậc gỗ lim sau lưng kéo Lãng giật mình.
Vệt sáng vàng nhạt từ chiếc đèn lồng hoa tiêu hắt dài trên nền thềm.
Vũ Diệu Hoa khoác tấm áo choàng lụa mỏng màu nguyệt bạch, bước ra tựa vào chiếc cột quân.
Khói sương đêm vấn vương bên lọn tóc mai buông lơi của nàng.
“Trời trở gió rồi,” Diệu Hoa cất tiếng, thanh âm phẳng lặng như mặt giếng khơi.
“Không vào phòng ngủ, ngồi đây hứng gió làm gì?
Lại tiếc cái lều rạ bị búa nện sập chiều nay à?”
Lãng ngước lên, nở nụ cười gượng gạo:
“Không phải chuyện cái lều.”
Anh nhìn đăm đăm vào khoảng sân tối thẫm, im lặng hồi lâu rồi buông thõng một câu nhẹ bẫng vào màn đêm:
“Nàng này... sắp tới, cần nhiều sắt lắm.”
Chỉ một câu ngắn ngủi, lưng chừng và mơ hồ.
Anh không giải thích sắt dùng làm gì, không nhắc một chữ đến hội nghị Bình Than vừa tan, càng không hé môi về cuộc chiến đang chầm chậm lăn bánh từ phương Bắc.
Luật cánh bướm ghìm chặt đầu lưỡi anh lại.
Anh chỉ có thể nói đến thế.
Diệu Hoa nhìn chằm chằm vào bờ vai hơi sụp xuống của Lãng.
Ánh nến le lói soi rõ nét trầm tư hiếm thấy trên gương mặt người chồng mà nàng từng coi là vô tích sự.
Có lẽ câu chuyện cha kể lúc chập tối cùng nỗi lo giặc giã của một tiểu thư khuê các thông tuệ đã giúp nàng tự chắp nối những khoảng trống anh cố tình bỏ lửng.
Nàng không hỏi thêm nửa lời.
Không cật vấn tại sao, cũng chẳng gặng hỏi cần bao nhiêu.
Một cuốn sổ nhỏ bọc vải thảo gai màu chàm lặng lẽ chìa ra trước mặt Lãng.
Lãng ngạc nhiên ngẩng đầu, rồi ngập ngừng đón lấy.
Mở cuốn sổ dưới ánh nến tù mù, mắt anh dừng lại ở trang ghi chép chi thu xưởng rèn.
Bằng nét chữ chân phương, dứt khoát của người nắm tay hòm chìa khóa, Diệu Hoa đã gạch đi định mức mười quan tiền mua phôi sắt cũ của lò Kẻ Sắt.
Ngay bên cạnh, một con số mới được viết đè lên, gấp tới bốn lần, kèm theo con dấu ngọc nhỏ của nàng cho phép xuất kho bạc.
“Mai cầm lấy cái này mà mua thêm than đá và quặng tốt,” Diệu Hoa xoay người, tà áo lụa khẽ phất qua gối Lãng.
Giọng nàng lạnh tanh: “Đừng để người ta cười vào mặt phủ An phủ sứ vì cưng dưỡng một tên thợ rèn túng thiếu.”
Nàng quay bước vào trong, bóng lưng thanh mảnh khuất sau cánh cửa gỗ khép hờ.
Lãng ngồi lại một mình trên bậc thềm lạnh buốt, tay siết chặt cuốn sổ còn vương mùi mực mới và chút hương trầm.
Giữa đêm trường lộ Hồng, lồng ngực anh bỗng ấm sực.
Sáng hôm sau, máng dẫn nước được khoét rộng gấp đôi, xối dòng nước xiết cuồn cuộn vào guồng tre.
Trục mít đã thay bằng gỗ nghiến chắc nịch, hai vấu cam bọc sắt tấm ghém đinh dày đặc, lại thêm hai cọc gỗ ép chặt cán búa vào đúng rãnh, bôi đẫm mỡ lợn nguội để khử ma sát.
“Tháo nước!”
Tấm ván gỗ vừa nhấc, guồng nước rùng mình quay tít.
Vấu cam bọc sắt trườn qua đuôi cán, đè xuống mượt mà.
Đầu búa bốn mươi cân nhấc bổng lên cao rồi rơi tự do.
*Thùng!*
Tiếng nện trầm đục, đanh gọn chấn động bờ lạch.
Mai Cả nhanh như cắt đưa thanh sắt nung đỏ rực vào mặt đe.
Vấu cam thứ hai lướt tới, búa lại nhấc lên rồi giáng xuống nhịp nhàng.
*Thùng!
Thùng!
Thùng!*
Tia lửa sắt bắn tung tóe thành chùm hoa đỏ rực.
Quả búa sắt nện xuống liên hồi, chuẩn xác từng phân, không hề rung lắc hay chệch hướng.
Mai Cả hai tay kẹp kìm xoay trở phôi thép, mắt tròn xoe kinh ngạc.
Thỏi sắt đặc dưới những nhát giáng nặng nghìn cân nhanh chóng dẹp lép, phẳng lì, chẳng tốn lấy một hơi sức quai búa của người thợ.
“Tám mươi... chín mươi... một trăm!”
Tiếng reo hò vang dậy cả bờ sông.
Tiếng búa dộng thình thịch như sấm kéo thợ cả làng Kẻ Sắt bỏ dở bễ lò, lũ lượt chạy ra xem đông nghịt.
Họ trố mắt nhìn cỗ máy gỗ sắt tự vận hành, xì xào kinh ngạc như thấy phép lạ.
Mai Đào đứng bên máng nước, mặt lem bùn đất mà cười tươi rói, mắt long lanh nhìn Lãng.
Lãng chống nạnh thở phào, bug số 17 coi như đã vá xong, năng suất thế này thì đơn hàng nào cũng giải quyết gọn.
“Khéo léo lắm.
Dùng sức nước thay sức muôn người, đúng là kỳ công.”
Giọng nói trầm ấm, đĩnh đạc vang lên ngay sát mép lều.
Đám đông tự động dạt ra một lối cho một người đàn ông vạm vỡ, mặc áo chẽn màu chàm bước tới.
Người này hai mắt sắc như chim ưng, bước đi vững chãi khác hẳn vẻ tất tả của phường thợ thuyền hay lái buôn.
Lãng liếc xuống thắt lưng gã, tim thót lại: bên hông lủng lẳng tấm thẻ bài gỗ mun viền bạc, khắc nổi hai chữ triện “Vạn Kiếp”.
Vạn Kiếp!
Thái ấp của Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn!
Người đàn ông ngắm nghía chiếc búa máy đang nện đều đặn, gật đầu tấm tắc vẻ vô cùng ưng ý, rồi quay lại nhìn quanh xưởng cất giọng sang sảng:
“Cỗ máy quái kiệt này do vị sư phụ nào trong làng Kẻ Sắt sáng chế ra?
Xin cho ta biết quý danh để tiện bề bẩm báo lên trên.”
Mai Cả ngẩn người, còn đám thợ phụ theo thói quen đều đồng loạt giơ tay chỉ thẳng về phía Lãng.
Chuông báo động trong đầu Lãng réo inh ỏi.
Lọt vào mắt người phủ Vạn Kiếp?
Bẩm báo lên trên rồi tên tuổi bị ghi vào sổ quân giới thì toi mạng!
Lời thề giữ yên dòng sử sách và an toàn tính mạng đè bẹp dí chút hư vinh.
Anh luống cuống xua tay lia lịa, khom lưng gãi đầu cười toe toét ngây ngô:
“Ấy chết, quan bác nhìn nhầm rồi!
Con chỉ là chân thợ phụ quét than dọn xỉ thôi ạ!
Cái này do các cụ đời trước nằm mộng chỉ bảo, con bắt chước đẽo gọt bừa bãi ấy mà.
Con phận hèn mọn, người làng cứ gọi là... thợ Tèo ạ!”