Chương 10·15 phút đọc

Tờ hịch ở Vạn Kiếp

✻

Căn phòng gác của hiệu buôn Hà Ký mở toang cửa sổ nhìn thẳng ra vịnh biển Vân Đồn, nơi hàng trăm cánh buồm nâu, buồm trắng dập dềnh như vỏ trấu.

Đinh Lãng ngồi xếp bằng đối diện Hà Thanh Liên, mồ hôi sau gáy đã ướt đẫm manh áo vải thô.

Trên chiếc bàn gỗ mun kê giữa hai người là một đống mẫu quặng sắt xám xịt và mấy thỏi quặng đồng đỏ au.

Lãng vừa tính nhẩm tỉ lệ hao hụt khi nung chảy vừa định mở miệng ép giá, thì Thanh Liên đã gõ nhẹ chiếc quạt xếp xuống mặt bàn.

Nàng bắt đầu nói.

Không phải bằng thứ giọng lanh lảnh quen thuộc lúc ở cầu tàu, mà trơn tru như nước chảy.

Thoạt tiên là giọng Tống rặt của vùng Lưỡng Quảng khi nàng quay sang mắng tên tiểu đồng lấy sai mẫu đá; liền đó chuyển sang một tràng thổ âm Phúc Kiến líu lo để giải thích với tay lái buôn ngồi ở góc phòng về phí ghé bến.

Chưa để Lãng kịp định thần, nàng đã chêm vào mấy câu tiếng Chăm âm sắc trầm đục với một thủy thủ đứng hầu, rồi quay ngoắt lại nhìn anh bằng tiếng mẹ đẻ chuẩn xác:

“Mười hai quan tiền kẽm một trăm cân quặng đỏ.

Cước thuyền họ Hà chịu nửa phần, đến bến Lục Đầu anh tự cho người bốc dỡ.

Bớt một đồng cũng không bán.”

Đầu óc Lãng ong ong như vừa chui vào một cái máy giặt công nghiệp.

Anh vội vã xua tay, cố vớt vát chút bản lĩnh của cựu sinh viên Bách Khoa:

“Khoan đã, cô nương tính thế thì xưởng tôi lỗ sặc gạch!

Quặng này lẫn xỉ nhiều, độ tinh không quá sáu phần mười.

Theo đúng... ầy, theo đúng K-P-I thì giá này không thể chấp nhận được!”

Thanh Liên khẽ nhướn đôi mày lá liễu.

Nàng nghiêng đầu, khóe môi cong lên thành một nụ cười giễu cợt rõ rệt:

“Kê-Pê-Ai?

Lại thứ tiếng lóng của phường cờ bạc bến Lục Đầu à?

Anh Đinh nói năng lạ tai thật đấy, tưởng bịa ra mấy chữ kỳ quái là dọa được nhà buôn chúng tôi sao?

Quặng mỏ mạn bắc vừa chuyển xuống, mối Tống tranh nhau vét từng thỏi.

Anh không lấy, ngày mai tôi giao cho thuyền thuyền chủ Quách, đừng mong tìm đâu ra sắt tốt để rèn cày.”

Lãng nghẹn họng.

Cái miệng lém lỉnh thường ngày bỗng trở nên vô dụng trước bàn tính gảy tanh tách và sự quyết đoán sắc lẹm của cô gái buôn biển.

Anh đành thở dài, ngậm ngùi gật đầu chịu mức giá mà nàng đưa ra.

Đàm phán kiểu này thì có mười tấm bằng kỹ sư cũng bị lột sạch đến manh khố.

Ở sập gụ phía trong, Hà Bá Thông nãy giờ vẫn im lặng nhấp trà, mắt lim dim như ngủ gật.

Thấy con gái chốt xong giao kèo, ông lão mới thong thả đặt chén sứ xuống, đưa mắt ngắm nghía Lãng từ đầu đến chân rồi buông một câu ráo hoảnh:

“Cậu Đinh tuổi trẻ, thạo việc thợ thuyền lại chịu khó lặn lội.

Chẳng hay... ở quê nhà đã vướng bận thê nhi gì chưa?”

“Khụ!

Khụ khụ...”

Ngụm trà Thiết Quan Âm vừa trôi xuống cổ họng Lãng lập tức bắn ngược trở lại.

Anh sặc sụa ho rũ rượi, mặt đỏ tía tai, vội vàng rút vạt áo lau lia lịa trong tiếng cười khúc khích không thèm giấu giếm của Thanh Liên.

Hà Thanh Liên không để Lãng kịp lau khô vạt áo ướt trà, đã phất tay áo đứng dậy, bảo anh đi theo nàng xuống bến.

Gió biển Vân Đồn thổi lồng lộng, mang theo mùi muối mặn chát lẫn mùi cá khô nồng nặc.

Nàng dẫn Lãng lách qua những kiện hàng chất cao như núi, bước lên tấm ván gỗ bập bềnh bắc sang một con thuyền buôn hai cột buồm đáy sâu, vỏ thuyền quét lớp hắc ín đen trùi trũi.

Đám thủy thủ trên thuyền cởi trần, da đen cháy vì nắng gió phương Nam, ngực xăm hình quái ngư, đang xúm xít quanh một vò rượu gạo.

Thanh Liên nói mấy câu bằng thứ tiếng líu lo mà Lãng vừa nghe lúc nãy.

Một gã lái buôn râu quăn, trùm khăn vải hoa, lập tức hạ giọng, tay chân khoa chân múa tay kể lại điều gì đó với vẻ mặt đầy kinh hãi.

Nàng đứng nghe, đôi mày thanh tú dần cau lại, rồi quay sang dịch cho Lãng bằng giọng rất nhỏ:

“Thuyền này vừa từ Chiêm Thành chạy ngược lên.

Hắn bảo Toa Đô mang chiến thuyền vây hãm thành Đồ Bàn từ năm ngoái.

Giặc đông như kiến cỏ, chém giết thây chất đầy đồng, vua Chiêm phải bỏ chạy vào rừng sâu cố thủ.”

Những ngón tay Lãng siết chặt vào mép be thuyền thô ráp dăm gỗ đâm buốt cả da thịt.

Toa Đô đánh Chiêm Thành.

Lịch sử không hề sai lệch một li nào.

Lãng biết rõ mồn một chuyện gì sắp tới: người Chiêm dùng kế vườn không nhà trống cầm cự, đạo quân của Toa Đô sẽ mệt mỏi, thiếu lương, và Thoát Hoan sẽ lấy cớ mượn đường đánh dẹp Chiêm Thành để kéo trăm vạn đại quân tràn qua biên giới phía bắc.

Đại Việt sắp bị kẹp giữa hai gọng kìm sắt máu.

Một thớt thịt nằm giữa hai lưỡi dao.

Lồng ngực Lãng thắt lại, nhưng ngoài mặt anh chỉ có thể cắn chặt môi, mắt đăm đăm nhìn những con sóng xám ngắt xô vào mạn thuyền.

Biết trước mà không thể hét lên, cảm giác ấy nặng trĩu như nuốt phải đá tảng.

Dưới cầu tàu bỗng vang lên tiếng xì xào quen thuộc.

Lãng đưa mắt nhìn xuống, thấy Quách Sùng đang đứng cạnh một toán tuần đinh bến cảng.

Gã thương gia khoác áo lụa bóng lộn, tay mân mê chuỗi hạt hổ phách, nhưng cặp mắt ti hí thì đảo quanh những chiếc thuyền quân doanh của triều đình đang neo xa xa ngoài vịnh.

“Mấy chiếc lâu thuyền cắm cờ Tiết chế kia là vừa từ Vạn Kiếp điều xuống à?” Tiếng Quách Sùng vọng lên, ngọt nhạt nhưng dò xét từng câu.

“Thuyền nhẹ hay thuyền bọc đồng?

Trọng tải chở được bao nhiêu quân, đóng ở xưởng nào mà trông chắc chắn thế các chú em?”

Mấy người lính tuần gạt đi, xua tay không đáp, nhưng Quách Sùng vẫn nán lại, kín đáo thọc tay vào tay áo như định dúi bạc, mắt không ngừng đếm từng cột cờ trên vịnh.

Thanh Liên đứng bên cạnh Lãng, hai mắt nheo lại thành một vệt dài sắc lạnh.

Nàng không nói một lời, chỉ lặng lẽ dõi theo từng cử chỉ của Quách Sùng cho đến khi gã quay lưng bước vội về phía dãy phố buôn.

Thuyền quặng vừa cập bến Lục Đầu, Đinh Lãng vội vã xắn quần phụ chuyển hàng về xưởng rồi ôm bọc quà mua ở chợ phiên Vân Đồn sang gian chái phủ họ Vũ.

Diệu Hoa đang ngồi gảy bàn tính lách cách.

Nàng ngước nhìn ống quần bết bùn của anh, ngón tay thon gõ nhẹ lên mặt bàn:

— Đủ hai mươi bao quặng đỏ chứ?

Tiền cước trừ vào xưởng hay tính riêng vào sổ chi của phủ?

— Đủ cả, nàng yên tâm.

Này, có mực khô, trà cúc phơi sương, lại có hộp sáp ốc xà cừ cho nàng bôi tay mùa hanh nữa.

Lãng mở bọc vải lấy lòng.

Diệu Hoa liếc nhìn, khóe môi dường như hơi giãn ra.

Thế nhưng khi nàng nhấc hộp sáp lên, một mảnh lụa xanh biếc bất thình lình trượt khỏi nếp gấp, rơi xuống mặt chiếu.

Chiếc khăn tay bằng lụa Tống mỏng tang thêu hình sóng nước, tỏa ra làn hương quế the mát pha mùi gió biển.

Lãng giật thót người, thầm rủa cái tính táy máy của cô nàng họ Hà lúc chia tay ở cầu cảng.

Diệu Hoa nhấc mép chiếc khăn lụa soi ngược ánh nắng.

Cặp mày lá liễu khẽ nhướn cao, ánh mắt sắc lẻm quét thẳng vào mặt Lãng:

— Lụa Hàng Châu dệt nổi, ở Vân Đồn phải đổi nửa lạng bạc vụn.

Lại vương mùi hương liệu thuyền buôn phương xa.

Chàng đi mua quặng hay đi mở rộng mối quen với tiểu thư nhà nào?

— Oan cho tôi quá! — Lãng giơ tay thanh minh, mặt méo xệch. — Người ta đưa lúc vội, tôi nhét tạm vào bọc chứ biết ất giáp gì đâu!

Diệu Hoa chẳng buồn nhìn anh.

Nàng bình thản nhấc bút lông chấm mực, kéo cuốn sổ cái lại gần, viết một dòng dứt khoát rồi đọc khẽ:

— Ngày mười tám, tháng sáu...

Mục: Chi phí tiếp khách nơi bến biển.

Một khăn lụa xanh ngoại quốc.

Đổi bằng hai mươi gánh quặng sắt thô.

— Kìa Hoa, sao lại ghi thế...

Chưa dứt lời, ngoài hiên đã có tiếng bước chân huỳnh huỵch.

Mai Đào bước vào, tay cầm chiếc kìm sắt gắp than dài ngoẵng, tạp dề da trâu trước ngực còn vương khói khét.

Nghe trọn câu chuyện chiếc khăn lụa, đôi mắt to tròn của cô trừng trừng nhìn Lãng như thể anh vừa phạm phải tội tày đình.

Bàn tay thô ráp chai sần siết chặt lại.

*Rắc!*

Cán gỗ ổi già đanh của chiếc kìm gãy đôi ngọt xớt dưới lực bóp kinh người.

Mai Đào ném hai khúc gỗ gãy xuống đất cộp một tiếng, quệt vệt muội than trên má rồi gằn từng tiếng qua kẽ răng:

— Sắt ở bến biển mềm như lụa nhỉ?

Cán kìm mục thế này mà cũng đòi kẹp quặng tốt!

Lãng nuốt nước bọt cái ực, lùi tọt ra sát mép cửa, giơ ba ngón tay lên thề sống thề chết:

— Tôi thề có lò cao chứng giám!

Tôi chỉ đi mua quặng sắt về làm lưỡi cày thôi!

Một hạt bụi tình riêng cũng không có!

Đến cữ cuối năm, gió bấc bắt đầu thổi rát mặt bến sông.

Khi mẻ quặng Vân Đồn vừa được xưởng Kẻ Sắt luyện xong đợt thép lá đầu tiên, kỵ mã áo xám đeo thắt lưng da bò với tấm thẻ bài đồng thau quen thuộc lại ghé ngựa trước cổng xưởng.

Gã không buồn nhìn đám phu bễ, chỉ đưa mắt lướt qua đống phôi sắt rồi cất giọng sang sảng:

— Cho gọi thợ Tèo.

Đại vương truyền triệu lên thái ấp có việc quân tế cấp.

Lãng chỉ kịp vơ vội manh áo chẽn bằng vải thô, giắt mấy món đồ cần thiết vào túi da rồi theo gã kỵ mã lên thuyền xuôi dòng về hướng Vạn Kiếp.

Sang năm Giáp Thân (1284), bầu không khí ở đại bản doanh đã khác hẳn hai năm trước lúc triều đình tụ hội ở Bình Than.

Không còn vẻ nhộn nhịp của thuyền bè đón rước, bến Vạn Kiếp giờ đây ken đặc thuyền chiến sơn đen, cọc gỗ cắm tua tủa ven bờ, mùi nhựa thông và dầu rái quét vỏ thuyền nồng nặc trong gió lạnh.

Lãng được dẫn vào sân đại doanh, nơi tụ hội cả ngàn thợ thuyền đủ ngón nghề: thợ mộc đóng thuyền, thợ thuộc da bọc khiên, thợ rèn Kẻ Sắt lẫn phường đúc đồng từ mạn sông Đáy kéo về.

Anh lặng lẽ lách người nép vào góc hiên bên tả, lẫn giữa hai người thợ già nhem nhuốc muội than.

Phía dưới sân gạch rộng mênh mông, hàng vạn quân sĩ xếp thành từng khối vuông vức tăm tắp, giáo mác dựng đứng như rừng nứa, im phăng phắc không một tiếng động thừa thãi.

Áp lực từ những khối người ấy tỏa ra đặc quánh, khiến lồng ngực Lãng tức nghẹn.

Trên lễ đài cao ngất lộng gió, sau dãy cờ tiết chế thêu kim tuyến, một viên võ quan trung niên bước lên, hai tay trịnh trọng nâng cuộn lụa viền đỏ.

Gió bỗng như ngừng thổi.

Giọng đọc vang lên, thoạt đầu đanh gọn, rồi dội từng chập rền rĩ qua mặt sông Lục Đầu, đập vào rặng núi Phượng Hoàng:

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng...”

Từng câu, từng chữ dội thẳng vào tâm can Đinh Lãng.

Mười mấy năm trước ở một thời không khác, đó chỉ là bài văn cổ trong sách giáo khoa thư, một đoạn trích dài dằng dặc mà anh từng ê a học vẹt để đối phó thi cử.

Khi ấy, nó chỉ là những con chữ nằm yên trên mặt giấy in phẳng phiu.

Nhưng lúc này, đứng giữa những thân hình vạm vỡ mặc áo giáp da, ngửi thấy mùi mồ hôi chua nồng, mùi sắt gỉ và đất ẩm dưới chân, Lãng mới thấy từng lời văn rực lửa đến bỏng rát.

Anh liếc sang bên: một người lính trẻ măng đứng hàng đầu nghiến chặt răng đến hai bên thái dương giật giật, những ngón tay siết cán giáo gỗ lim trắng bệch.

Xa hơn một chút, một bác thợ mộc già cạnh anh đưa bàn tay sần sùi quệt vội khóe mắt hoe đỏ.

Chẳng có một tiếng hô hào nào cắt ngang, nhưng không khí dường như đang rung lên bần bật theo từng nhịp thở dồn nén của hàng vạn con người.

Một cục nghẹn đắng ngắt ứ lên nơi cuống họng Đinh Lãng.

Sống mũi anh cay xè, hai mắt nóng ran.

Anh cúi gằm mặt xuống đôi bàn tay thô ráp dính gỉ sắt của mình, lồng ngực đập dồn dập từng nhịp gấp gáp.

Ngọn lửa chiến tranh không còn là dòng ghi chú xa xôi trong sử sách nữa, nó đã phả hơi nóng rát bỏng ngay sát sau gáy anh rồi.

Sau buổi hịch, Lãng được viên võ quan dẫn qua dãy cọc tiêu, vào gian lều bạt ở mạn bắc đại bản doanh.

Bên trong yên tĩnh đến lạnh người, thoang thoảng mùi trầm pha lẫn giấy mực cũ.

Trên bàn mộc trải tấm sa bàn sông ngòi, đặt sẵn lưỡi cày gang xám và ba mũi tên mẫu mang từ lộ Hồng.

Một người đàn ông vận áo bào giản dị, chắp tay đứng nhìn ra dãy núi mờ xa.

Khi ông quay lại, ánh mắt sâu thẳm như ghìm chặt lấy Lãng.

Đó là Hưng Đạo Đại Vương.

Ông bước lại bàn, ngón tay gõ nhẹ lên sống lưỡi cày gang.

Tiếng kim loại vang lên đanh gọn, không gợn tiếng rè.

— Rót khuôn một lần được bao nhiêu chiếc?

Giọng ông trầm ấm, dứt khoát.

Lãng nuốt khan, cúi đầu đáp:

— Bẩm... nếu đủ cát mịn đóng khuôn và lò giữ được nhiệt, một ngày thợ Kẻ Sắt có thể đúc được ba mươi chiếc.

Đại Vương cầm mũi tên ngạnh ba khía lên, đưa sát mắt ngắm phần chuôi rỗng chuốt tròn trịa.

— Mũi tên này không dùng búa đập từng chiếc?

— Thưa, cũng đúc bằng khuôn rãnh nhiều nhánh.

Chuôi khoét sẵn theo một cỡ cọc chuẩn, tre nứa vót đúng cữ ấn vào là khít chặt, không cần mài giũa từng gốc.

Cung thủ nhặt tên của nhau trên chiến trường đều lắp vừa vào cung nỏ.

Đại Vương gật đầu, đặt mũi tên xuống bàn gỗ nghe cái cạch nhỏ.

Ánh mắt ông dừng lại trên đỉnh đầu Lãng, dường như xuyên thấu qua manh áo thô cáu bẩn:

— Ngươi tên gì?

Đứng đầu lò nào ở lộ Hồng?

Tim Lãng đập thình thịch.

Luật cánh bướm réo inh ỏi, anh vội quỳ sụp xuống:

— Thảo dân hèn mọn, chỉ là thợ Tèo thổi bễ ở lò Kẻ Sắt.

Khuôn này là công sức cả xóm thợ mò mẫm.

Chế khí giới là phận sự giữ làng, xưởng con chỉ cầu bình yên làm ăn, cúi xin Đại Vương đừng ghi tên họ ai vào sổ sách để khỏi vướng bận quan trường...

Gian lều bạt chìm vào im lặng vài nhịp thở.

Lãng chỉ nghe thấy tiếng gió rít qua mép vải gai.

Bỗng một tiếng cười nhạt vang lên trên đỉnh đầu anh.

Khẽ khàng, như thể đã thấu suốt mọi ngóc ngách nhưng không buồn vạch trần.

— Được.

Lò Kẻ Sắt cứ lo đúc đầu tên theo cỡ chuẩn này, việc sổ sách triều đình tự khắc có chỗ ghi chép riêng.

Lui về làm việc đi.

Bàn tay Đại Vương phẩy nhẹ.

Lãng như trút được tảng đá ngàn cân, vội vã lạy tạ rồi lùi ra khỏi cửa lều, không dám ngẩng nhìn lại lấy một lần.

Chiều muộn, Đinh Lãng mới về tới lò rèn Kẻ Sắt.

Bụi than và hơi nóng phả ra hầm hập xua tan cái giá lạnh ven sông Lục Đầu.

Mai Đào đang tựa vào tảng đe lớn, tay gõ nhịp búa lách cách, vạt áo trước ngực ướt đẫm mồ hôi.

Thấy bóng anh bước qua ngạch cửa, cô ném búa sang bên, sải bước tới túm chặt lấy vạt áo Lãng, cặp mắt đầy vẻ sốt ruột:

— Thế nào rồi?

Đại Vương có nhận mẫu không?

Giao cho xưởng ta bao nhiêu mũi?

Lãng nhìn quanh lò rèn rực lửa, nhìn những người thợ đang nín thở ngóng chờ, rồi nuốt ngụm nước bọt khô khốc:

— Mười vạn.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Đốt Cháy

    113 chương

  2. Có audio

    Dung Túng Em Kiêu Kỳ

    93 chương

  3. Xuyên Thành Nữ Phụ Truyện Cao H

    548 chương

  4. Khom Lưng

    171 chương

  5. Hệ Thống Bắt Tôi Làm Cá Ướp Muối Trong Truyện Ngược

    205 chương

  6. Đối Tượng Kết Hôn Của Tôi Lắm Mưu Nhiều Kế

    64 chương

Bình luận chương