Chương 11·16 phút đọc

Chữ Sát Thát và màu thép của cha

✻

Gió bấc cuối năm Giáp Thân lùa rát mặt sông Lục Đầu, nhưng bên trong xưởng rèn Kẻ Sắt, hơi lửa từ hàng chục bễ lò vẫn phả ra hừng hực.

Đinh Lãng đứng giữa xưởng, hai tai ong lên vì tiếng quai búa nện chan chát không dứt.

Mọi thứ lúc này đã vận hành theo trật tự mà hắn vạch ra.

Thay vì mỗi thợ tự ôm một phôi sắt từ đầu đến đuôi, xưởng được chia thành từng nhóm riêng biệt.

Ở góc lò, nước sắt nóng chảy được rót vào các dãy khuôn đất nung để đúc đầu tên ba khía.

Mấy đứa trẻ phụ việc ngồi bệt dưới đất, tay cầm thước mẫu bằng đồng có khoét lỗ chuẩn của Vạn Kiếp.

Đầu tên nào lọt khít mới chuyển sang mài giũa, cái nào lệch méo bị quẳng lại vào nồi nấu.

Trên vách nứa giữa xưởng, Lãng cho dựng một tấm bảng chia làm ba khoang lớn, cắm đầy thẻ tre khắc chữ: “Chờ làm”, “Đang rèn”, “Đã xong”.

Hắn gọi đó là bảng Can-ban.

Đám thợ già chẳng hiểu cái tên trại xứ nào ấy nghĩa là gì, chỉ biết hễ thấy thẻ ở khoang của mình ứ lên là phải cắm đầu làm cho kịp kẻo bị bêu tên.

Ngồi bên bàn con kê sát cửa gió, Diệu Hoa mặc áo chẽn gọn gàng, tay thoăn thoắt chấm mực ghi chép từng sọt sắt, từng cân than củi.

Tàn tro lấm tấm trên áo chẳng khiến nàng bận tâm; ngòi bút lướt nhanh, mắt liếc qua là biết ngay lò nào hụt than, kíp nào chậm tiến độ.

Cách đó không xa, Vũ Trọng Đạt mồ hôi nhễ nhại, hai ống tay áo xắn tận nách, ôm xấp giấy điều vận chạy đôn chạy đáo giữa bến sông và lò rèn.

Vẻ trịch thượng của chàng công tử dường như đã bị bụi than mài nhẵn thín.

“Lẫy nỏ xong thêm hai mươi bộ nữa rồi!” Tiếng bác thợ cả hô to từ góc lò nguội.

Lãng bước lại gần, nhặt một chiếc lẫy nỏ bằng sắt lên ngắm nghía.

So với lẫy bằng sừng hay gỗ lim truyền thống vốn dễ nứt toác khi kéo căng dưới trời sương lạnh, lẫy sắt đúc rồi tôi qua dầu của hắn đanh giòn và chịu lực hơn hẳn.

Khấc giữ dây vuông vức, chỉ cần một cú gạt nhẹ là nhả mộng dứt khoát.

“Đứng tránh ra coi chừng mất mạng!”

Tiếng quát lanh lảnh của Mai Đào vang lên kéo hắn giật nảy mình.

Nàng xách ngọn giáo ngắn bịt thép sáng loáng, mặt hằm hằm tiến về phía cái cọc gỗ đang khoác tấm giáp lá nhẹ mà Lãng vừa tỉ mẩn xâu xong lúc sáng.

Tấm giáp gồm những phiến sắt mỏng đục lỗ xâu dây da, nhẹ chỉ bằng nửa giáp thường.

Chẳng đợi Lãng kịp can, Mai Đào đã siết chặt cán giáo, dồn lực toàn thân đâm thẳng một cú như trời giáng.

*Phập!*

Mũi thép bén ngót xé toạc tấm giáp, cắm ngập ba phân vào thân cọc.

Nàng rút giáo ra, nhìn Lãng với vẻ mặt như muốn bảo đem thứ này ra trận thì chỉ làm mồi cho giặc.

Lãng toát mồ hôi hột, vội chạy lại gỡ tấm giáp xuống xem xét.

Mũi giáo đâm trúng đường chỉ buộc vì các phiến lá xếp thẳng hàng, không có lớp nào chắn đỡ phía sau.

“Không sao, sửa được ngay!” Hắn lẩm bẩm, vớ lấy mẩu than vẽ ngoáy lên mặt bàn gỗ.

“Phải tán lại so le như vảy cá, miếng trên đè lên mép miếng dưới ba phần mười.

Mũi giáo đâm vào sẽ trượt theo mặt vảy sắt văng ra ngoài, không chui lọt vào chỉ buộc!”

Mai Đào nghiêng đầu nhìn nét vẽ nguệch ngoạc, mày khẽ giãn ra rồi quay lưng giật lại cái búa trên tay thợ phụ: “Biết rồi, để đấy tôi tán lại cho!”

Đêm xuống, gió sông Lục Đầu thốc vào khe vách nghe rít từng cơn buốt lạnh, nhưng bên lò tôi giáo sâu nhất xưởng, không khí vẫn quánh đặc hơi than và mùi nước tôi khét nồng.

Lãng đứng tựa lưng vào cột gỗ, mắt dán vào chậu nước ngâm rễ tầm xuân pha chút muối hạt.

Bên cạnh, Mai Cả cởi trần để lộ bộ ngực gầy guộc chằng chịt vết bỏng sắt, hai tay cầm kìm cặp chặt mũi giáo dài vừa rút ra khỏi lòng lửa.

Mũi thép đỏ rực, tỏa ra thứ ánh sáng soi rõ từng nếp nhăn sâu hoắm trên gương mặt già nua.

Lão thợ cả nheo mắt nhìn mũi giáo, lẩm bẩm đếm từng nhịp thở, đợi cho sắc đỏ chói lói dịu dần xuống màu đỏ ánh tím quả mận chín rồi mới sẵng giọng hô nhúng.

Tiếng *xèo* chói tai bùng lên cùng một cột khói trắng đục ngầu cuộn thẳng lên mái nứa.

Rút mũi thép ra khỏi mặt nước, Mai Cả gõ nhẹ vào đe nghe tiếng *coong* trong vắt.

Bất chợt, lão ngẩng lên nhìn Lãng, ánh mắt đăm đăm như muốn tìm lại một bóng hình xa lắc:

“Cha mày ngày xưa cũng đứng đúng chỗ này mà dạy tao.”

Lãng ngẩn người, hai vai hơi chùng xuống.

Hắn chưa từng có ký ức gì về người cha của cái thân xác này, ngoài những lời đồn mơ hồ về một viên quan võ thất thế đã khuất núi từ lâu.

Mai Cả đặt kìm xuống đe, bàn tay gân guốc quệt ngang dòng mồ hôi đang chảy dài trên trán:

“Năm Nguyên Phong thứ bảy, giặc Thoát dẫm nát Thăng Long.

Tao lúc ấy mới chỉ là thằng phụ việc lon ton gánh than trong quân đóng mé sông Hồng.

Giáo làng rèn ra đâm trúng giáp giặc là oằn như cọng hành, hoặc giòn quá gãy đôi.

Chính cha mày, lúc ấy là chân hiệu úy coi đồ trang bị, đã kéo tao lại bên đống lửa.”

Lão chỉ ngón tay đen nhẻm vào lò than rực đỏ:

“Lão ấy bảo rèn thép không phải cứ nung đỏ là tôi.

Thép quá lửa thì giòn, chưa tới lửa thì mềm.

Phải đợi từ đỏ cam sang đỏ anh đào, rồi chuyển sang màu lá mận vừa chớm tím.

Cái mẹo nhìn lửa bấy lâu tao giấu giếm, coi như bí truyền của đất Kẻ Sắt này... thực chất là của cha mày đem từ trong quân về truyền cho tao.”

Mai Đào vừa bưng rổ đầu tên đã mài nhẵn bước tới mép lò, bước chân nàng khựng lại giữa chừng.

Đôi mắt nàng mở to, nhìn cha rồi lại nhìn chằm chằm vào Lãng, chiếc rổ trên tay nghiêng nhẹ làm vài mũi đồng va lách cách.

Mai Cả không để ý đến con gái, lão cúi nhìn những vệt than Lãng nguệch ngoạc trên mặt bàn gỗ khi nãy để sửa tấm giáp lá, giọng nghẹn lại:

“Hôm nọ mày vẽ cái guồng nước với búa máy trên nền đất, tao đã thấy gai gai sống lưng.

Cái kiểu vạch một nét dứt khoát, chỗ nào cần uốn thì gõ ba nhát búa con để dặn thợ... giống hệt nét tay cha mày năm ấy.

Mày bảo mày chỉ là thằng rể họ Vũ ăn bám, nhưng cái nết sắt đá chảy trong máu thì giấu thế nào được với tao?”

Lãng đứng lặng phắc giữa hơi nóng bốc lên ngùn ngụt.

Hắn muốn cãi rằng mình chỉ là gã sinh viên cơ khí dở dang của mấy trăm năm sau ráp nối lại sách vở, nhưng nhìn ánh mắt rưng rưng của ông lão và vẻ sững sờ câm lặng của Mai Đào, mọi lời bông đùa thường ngày bỗng nghẽn ứ nơi cuống họng.

Tiếng vó ngựa dồn dập từ phía đê sông Lục Đầu xé toạc màn sương giá, dừng phắt trước cổng xưởng rèn Kẻ Sắt.

Lãng vừa buông thanh kìm thì thấy bóng người gầy gò khoác áo dạ sẫm màu bước vội qua ngưỡng cửa nứa.

Là quan An phủ sứ Vũ Thế Khâm.

Khác hẳn vẻ chỉnh chu, tôn nghiêm mọi bận, vạt áo ông bám đầy bụi đường đỏ quạch, chóp mũ cánh chuồn lệch sang một bên, khóe mắt trũng sâu như vừa phi ngựa thâu đêm từ kinh thành Thăng Long về.

Diệu Hoa buông bút mực, cùng Trọng Đạt lật đật bước lại đỡ tay cha:

“Thưa cha, triều đình định liệu thế nào rồi?”

Tiếng quai búa, tiếng kéo bễ trong xưởng thưa dần rồi ngưng hẳn.

Mấy chục người thợ rèn mình trần bóng nhẫy mồ hôi, mặt mũi nhem nhuốc than bùn đều đồng loạt quay lại, nín thở nhìn về phía viên quan đứng đầu lộ Hồng.

Ai nấy dường như đều hiểu, chuyến đi này của quan An phủ là để dự yến cùng các bô lão ở kinh sư, nơi vận mệnh giang sơn được đặt lên bàn cân.

Vũ Thế Khâm không ngồi vào chiếc ghế con mà gia nhân vừa vội vã kéo ra.

Ông đứng thẳng giữa lòng xưởng, hai bàn tay nắm chặt mép đai lưng, lồng ngực phập phồng sau chặng đường dài.

Đôi mắt già nua quét qua hàng chục lò than đang rực lửa, rồi dừng lại trên từng gương mặt thợ thuyền ngóng đợi.

Giọng ông khàn đặc, nhưng từng tiếng thốt ra lại rành rọt đến lạ kỳ:

“Thượng hoàng triệu bô lão các làng, các giáp trong cả nước về thềm điện Diên Hồng mở tiệc...

Ban yến xong, Người thân chinh bước xuống hỏi một câu: Quân giặc thế mạnh tột cùng, nên hòa hay nên đánh?”

Cả gian xưởng bỗng chốc im phăng phắc.

Lãng nghe rõ mồn một tiếng than nổ lép bép trong lò nung, tiếng nước tôi rỉ rả bên chân đe.

Hơi thở của Mai Đào đứng cạnh hắn nghẹn lại.

Hòa là dâng đất, cúi đầu chịu nhục; còn đánh là đem máu thịt chọi với kỵ binh giặc từng giẫm nát bao bờ cõi.

Dẫu biết trước dòng sử, tim Lãng vẫn đập thình thịch giữa sự lặng đi nghẹt thở này.

Vũ Thế Khâm ngước nhìn giàn giáo mác, chòm râu hoa râm khẽ rung lên:

“Hàng ngàn cụ già... đầu tóc bạc phơ, lưng còng chống gậy, từ miền ngược đến miền xuôi, không một ai bàn lui.

Khi Thượng hoàng vừa dứt lời, muôn người như một vung tay thét vang rền một góc trời: Đánh!

Tiếng hô rung chuyển thềm điện Diên Hồng, át cả sóng sông Nhị Hà!”

Khoảng lặng sững sờ bao trùm lấy xưởng Kẻ Sắt.

Lãng nhìn sang, thấy ngón tay Diệu Hoa bấm chặt vào mép cuốn sổ chi, mắt rực lên kiêu hãnh.

Trọng Đạt đứng trơ ra, quai hàm bạnh lại.

Mai Đào siết cán búa đến trắng bệch khớp tay.

Một tiếng *choang* chát chúa bất thần xé toạc sự tĩnh mịch.

Mai Cả chẳng nói nửa lời, vung chiếc búa tạ mười cân đập giáng xuống thanh sắt đỏ rực trên đe, tóe muôn ngàn tia lửa sáng lòa.

Bễ lò lập tức rít lên rin rít.

Gió thốc vào than hồng, ngọn lửa xanh liếm đỏ rực cả mái lợp.

Như một hiệu lệnh vô hình, tiếng búa của hàng chục lò rèn nhất loạt vang lên. *Chan chát!

Coong coong!* Nhịp búa không còn chậm rãi như thường nhật, mà dồn dập, đanh thép như nhịp trống trận.

Bụi than bay mù mịt, hơi nóng hầm hập táp vào mặt Lãng, biến cả gian xưởng bên bờ Lục Đầu thành một cỗ máy cuộn trào lửa sắt.

Hơi men say sau tiếng hô Diên Hồng chưa kịp nguội thì mùi mực tàu hăng hắc đã xộc lên khắp xưởng.

Bác thợ cả xé toạc manh áo cũ, chìa cánh tay vạm vỡ:

“Quân cấm vệ thích chữ thề chết, phường rèn Kẻ Sắt dẫu không ra trận tiền cũng chẳng thể mang tiếng hèn!”

Chùm kim ba mũi nhúng ngập vào bát mực đen quánh pha nước gừng cay xè, cắm phập xuống da thịt.

Máu tứa đến đâu, mực ngấm đến đấy.

Từng người, từng gã thợ phụ nhem nhuốc đều xắn tay áo.

Hai chữ “Sát Thát” đanh thép lần lượt hiện lên trên những cánh tay cuồn cuộn vảy sẹo nghề rèn.

Lãng đứng nép bên cột gỗ, cổ họng khô khốc.

Kiếp trước đi tiêm ngừa hắn còn phải quay mặt đi, giờ nhìn chùm kim cày nát da thịt sống, hai đầu gối hắn run cầm cập.

Hắn toan lùi về phía kho than thì Trọng Đạt đã chìa cánh tay rớm máu ra, mắt hấp háy:

“Tới lượt chú Lãng đấy!

Đừng bảo rể nhà quan lại yếu bóng vía hơn đám thợ Kẻ Sắt nhé?”

Mấy chục cặp mắt dồn cả về phía hắn.

Bên bàn sổ sách, Diệu Hoa cũng dừng bút ngước nhìn.

Nuốt khan một ngụm, Lãng cắn răng bước tới chiếc ghế con, chìa cánh tay trắng trẻo ra mặt bàn:

“Bác... bác Cả nhẹ tay thôi nhé.

Cháu nói thật đấy, dưới da này nhiều đầu dây thần kinh lắm, đâm nông thôi mực cũng bám mà...”

*Phập!*

Mũi kim cắm xuống.

Cơn buốt nhói xé da thịt khiến Lãng nảy dựng người, theo phản xạ chực rụt phắt lại.

Đúng lúc ấy, một bàn tay thô ráp chụp chặt lấy cổ tay hắn.

Mai Đào bước tới từ lúc nào, dùng toàn bộ sức nặng cơ thể ghì cứng tay hắn xuống mặt bàn gỗ.

“Ngồi im!” Nàng gắt khẽ, ánh mắt nhìn thẳng vào hắn, kiên định lạ thường.

Mồ hôi Lãng túa ra đầm đìa.

Để quên đi cơn đau buốt rát, cái miệng hắn bắt đầu liến thoắng:

“Bác Cả biết vì sao... ối buốt quá... than gỗ nghiến đượm hơn than tre không?

Vì thớ nó đặc... mà gà thiến luộc phải chấm muối ớt... hôm qua ở bờ đầm có con ễnh ương to như cái bát... lẫy nỏ sắt đợt này bắn ba trăm phát cũng không mòn...”

Đám thợ đang nín thở bỗng phì cười.

Cả Diệu Hoa cũng phải nghiêng đầu nén một nụ cười mỉm.

Chỉ có Mai Đào không cười.

Mười ngón tay nàng siết cứng, ngón cái áp sát vào mạch đập đang nhảy loạn xạ của hắn.

“Chữ Sát xong rồi,” nàng ghé sát tai hắn, thì thầm.

“Cắn răng lại, còn chữ Thát nữa.”

Mũi kim lại cày xới, mực đen hòa lẫn máu tươi rịn ra từng giọt.

Lãng cắn chặt môi dưới đến bật máu, lời lảm nhảm nghẽn lại thành tiếng rít kèn kẹt.

Hắn nhìn chằm chằm vào bàn tay gầy guộc nhưng rắn rỏi của Mai Đào, lấy đó làm điểm tựa duy nhất để không ngất đi.

“Xong rồi đấy!” Bác Cả thở phào, ấn mạnh mảnh giẻ tẩm nước gừng lên vết thương.

Cơn rát bỏng bùng lên khiến Lãng thở hắt ra, rũ xuống như cọng bún thiu.

Mai Đào từ từ nới lỏng ngón tay.

Trên làn da đỏ ửng, hai chữ “Sát Thát” đen thẫm, rướm máu hiện lên rõ mồn một.

Nàng cúi nhìn dòng chữ ấy, rồi ngước lên, ánh mắt dường như đã bớt đi vẻ hoài nghi của những ngày đầu.

Cơn rát bỏng trên cánh tay Lãng chưa kịp dịu thì ngoài bến Lục Đầu đã vang lên tiếng tù và dồn dập, xé toạc màn sương mù cuối năm.

Toán kỵ mã áo chẽn đỏ phi như bay vào cổng xưởng.

Ngựa sùi bọt mép khụy chân ngay mép đống xỉ sắt.

Người lính không kịp quẹt mồ hôi, giơ cao lệnh tiễn bịt đồng khắc dấu Vạn Kiếp, giọng khản đặc:

“Có lệnh của Tiết chế!

Thoát Hoan chia đường vượt biên ập qua Khâu Cấp, Lộc Châu rồi!

Bỏ xưởng, dời người và đồ rèn vào sâu nội địa ngay trong đêm!

Không để lại một tấc sắt cho giặc!”

Cả xưởng chết lặng.

Tin dữ đến như sét đánh giữa trời đông.

Dù biết rõ mốc sử này trong đầu, Lãng vẫn thấy một luồng khí lạnh bò dọc sống lưng khi nghe tiếng thét xé màn sương giá.

Chiến tranh không còn trên sách vở nữa, nó đã chạm tới cửa ngõ Lục Đầu giang.

Vũ Thế Khâm rút gươm chém phập vào cây cột cái:

“Nghe lệnh Tiết chế!

Dỡ xưởng!”

Đêm ấy, làng Kẻ Sắt không ngủ.

Bờ sông rực ánh đuốc bập bùng trong gió bấc thổi rát mặt.

Không tiếng khóc than, chỉ có tiếng kim loại va chạm gấp gáp và bước chân chạy huỳnh huỵch.

Thợ già thợ trẻ chia nhau đào những hố sâu sát chân đê.

Từng dãy khuôn đúc tên bằng đất nung, từng hòm thước mẫu đồng được xếp cẩn thận xuống đáy hố, phủ rơm lấp đất rồi ngụy trang bằng tro than và phân trâu khô.

Sắt phôi và tên thành phẩm nhanh chóng được chuyển xuống các thuyền nan chờ sẵn mép nước.

Ở góc xưởng, Mai Cả cùng đám thợ nạy từng then chốt gỗ của dàn búa máy.

Cần búa tạ từng ngày đêm rền vang được hạ xuống cẩn trọng như hạ huyệt một người thân.

Đôi mắt lão thợ già khô khốc, cánh tay gân guốc siết chặt đòn bẩy đến rướm máu.

Lãng bước ra mép nước lầy lội, bàn tay quấn vải che vết thích “Sát Thát” buốt ran theo từng nhịp đập.

Chiếc guồng nước lớn bằng gỗ lim — đứa con tinh thần đầu tiên hắn thức trắng bao đêm tính toán lực đẩy — đang sừng sững giữa dòng nước xiết.

Mấy người thợ ngâm mình ngang bụng nước lạnh căm căm, vung rìu không ngớt.

*Rắc!*

Từng nan gỗ đón nước bị phạt đứt lìa, rơi tõm trôi theo dòng nước đen thẫm.

Trục quay bằng thân gỗ nghiến kêu răng rắc khi các then chốt lần lượt bị rút ra.

Mai Đào đứng trên bờ đất, hai tay ôm chặt rổ dụng cụ, vạt áo ướt sũng gió lạnh.

Đôi mắt nàng phản chiếu ánh đuốc chập chờn, dường như đang nuốt nước mắt vào trong khi nhìn chiếc guồng nước vỡ từng mảng.

Lãng đứng lặng, gió sông tạt nước buốt lạnh vào mặt.

Hắn nhìn khung gỗ trơ trụi chìm dần, lòng quặn thắt xót xa.

Nhưng khi nhìn lại những người thợ Kẻ Sắt đang thoăn thoắt chuyền tay nhau từng thỏi sắt, nhìn hai chữ “Sát Thát” sẫm đen trên cổ tay mình, hắn hiểu xưởng không hề mất đi.

Chỉ cần con người còn, lò lửa sẽ lại bùng lên ở nơi khác.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Đốt Cháy

    113 chương

  2. Có audio

    Dung Túng Em Kiêu Kỳ

    93 chương

  3. Xuyên Thành Nữ Phụ Truyện Cao H

    548 chương

  4. Khom Lưng

    171 chương

  5. Hệ Thống Bắt Tôi Làm Cá Ướp Muối Trong Truyện Ngược

    205 chương

  6. Đối Tượng Kết Hôn Của Tôi Lắm Mưu Nhiều Kế

    64 chương

Bình luận chương