Gió biển tháng Chạp buốt như châm kim vào da thịt.
Bến tạm vụng Cống Đông khuất sâu sau vách đá vôi dựng đứng, chỉ le lói ánh lửa từ hai bễ dã chiến dựng vội trên nền cát sỏi ngổn ngang vỏ hàu.
Khói than củi đượm mùi muối nồng nặc bốc lên, cuộn theo hơi nước mờ mịt của đêm đông vùng biển đảo.
Lãng ngồi xổm bên mép nước ngập đến bắp chân, tay cầm một mảnh sắt nhọn cào từng vạch ngắn dài lên thân cây cột tre cắm sâu dưới đáy bùn.
Cứ cách một tuần hương, anh lại cúi nhìn mực nước biển dâng chạm tới mắt tre nào, rồi lia mũi sắt khắc thêm một ký hiệu nhỏ.
Thói quen của một gã từng ngồi gõ mã lệnh khiến anh không tài nào chịu nổi chuyện bước vào một trận đánh mà thiếu số liệu đo đạc, dù cái gọi là “bảng nhật trình thủy triều” này chỉ thô sơ như trò con trẻ nghịch cát.
“Anh rảnh tay quá nhỉ?
Thợ rèn gì mà ghi chép vẽ vời còn nhiều hơn đóng búa.
Khéo lát nữa sóng đánh mạnh trôi mất cái cọc tre thì ngồi đấy mà tiếc công.”
Giọng Mai Đào vang lên giòn tan át cả tiếng gió rít qua khe đá.
Nàng không buồn ngẩng đầu, hai cánh tay trần rắn rỏi thoăn thoắt đẩy kéo cần bễ da trâu.
Ngọn lửa lò rèn phì ra từng đợt đỏ lựng, soi rõ đôi gò má lấm tấm bụi than và giọt mồ hôi đọng nơi chóp mũi dù trời lạnh thấu xương.
Trên chiếc đe dã chiến đặt ghé trên khúc gỗ lim, hai người thợ làng Kẻ Sắt đang quai búa chan chát.
Từng chiếc móc câu bằng sắt rèn thô—vũ khí chuyên dùng móc mép mạn thuyền buồm, bẻ gãy tay chèo giặc—nằm la liệt thành đống nguội dần bên mép sóng.
Cạnh đó là mấy chiếc neo thuyền bốn ngạnh gãy cánh được chuyển từ thuyền chiến của quân Trần Khánh Dư sang, đang đợi tôi thêm thép dẻo để vá lại sống neo.
Lãng đứng dậy, vẩy bớt nước lạnh bám trên đầu ngón tay rồi xoa vội vào tà áo chàm:
“Em không hiểu đâu.
Vùng biển này lạch sâu lạch cạn đan nhau, nước triều lệch pha so với bến Lục Đầu cả nửa canh giờ.
Đợi đến lúc giặc lọt vào họng kìm, nước rút trơ bãi cạn thì đống móc câu với neo sắt của chúng ta mới phát huy hết công năng.”
Đào khẽ bĩu môi, nét mặt như muốn bảo anh chỉ khéo bao biện, nhưng động tác kéo bễ thì không hề lơi đi nửa nhịp.
Gió ngoài lạch sâu thổi thốc vào mang theo vị tanh nồng của rong rêu và tiếng sóng va đập ầm ào vào mạn thuyền chiến.
Quân của Nhân Huệ Vương đang ém kỹ dưới những vòm hang tối om, nín thở chờ từng chiếc neo vá xong để chằng dây chuẩn bị cho mẻ lưới lớn.
“Kê búa vào đây!” Đào dùng kìm gắp một thỏi sắt đã ửng sang màu đỏ cam đặt lên mặt đe, mắt lườm anh một cái sắc lẹm.
“Lải nhải ít thôi, quá canh năm là thuyền tuần dưới vụng lên nhận đồ đấy.”
Lãng cười xòa, nắm lấy cán búa tạ nện xuống chuẩn xác theo nhịp kìm của nàng.
Tàn lửa bắn tung tóe thành từng chùm hoa đỏ giữa màn đêm lạnh giá.
Miệng thì chê bai anh ghi chép rườm rà, vậy mà suốt từ nửa đêm đến tận lúc rạng đông rách mép chân trời xám ngoét, Đào vẫn không rời bễ nửa bước, kiên nhẫn thổi bùng ngọn lửa ấm giữa bến đá hoang vu.
Sương sớm trên vịnh vừa rách toang bởi tiếng tù và rúc dài từ vòm hang đá vôi.
Đứng trên mui chiếc thuyền tiếp tế ém sát vách đá hoa cương ở góc khuất luồng cạn, Lãng tì tay lên gờ gỗ ướt sũng, ngực thắt lại trước quang cảnh đang mở ra ngoài cửa lạch.
Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ tựa như một bầy trâu mộng kềnh càng lạc vào đầm lầy.
Hơn bảy mươi chiếc thuyền vận tải lòng sâu, buồm nặng trĩu gió, chở đầy ắp lương thảo đang nối đuôi nhau lách qua dải nước hẹp thì thủy triều bỗng rút nhanh như tụt dốc.
Đúng như từng vạch khắc đêm qua trên cọc tre, đáy lạch trồi lên những sống đá ngầm sắc như dao cạo, giữ chặt lấy lườn những con thuyền đi đầu.
Tiếng tù và thứ hai xé toạc mặt nước phẳng lặng.
Từ các khe núi, hốc đảo tối om, hàng trăm chiến thuyền nhẹ của Nhân Huệ Vương như những mũi tên đồng loạt phóng ra.
Không có những pha đối đầu tay đôi giáp lá cà om sòm, lối đánh của thủy quân Đại Việt ở đây gọn gàng và chuẩn xác đến tàn nhẫn.
Từng toán thuyền thoi lướt sát mạn thuyền buôn kềnh càng của giặc; những chiếc móc sắt vừa rèn đêm qua được lính thủy vung lên bằng những sợi dây thừng bện vỏ cây gai, bập phập vào be gỗ, giằng đứt dây néo buồm.
Neo bốn ngạnh vá thép dẻo bay vun vút qua không trung, cắm ngập vào đằng lái, khóa chết bánh lái của đối phương.
Những chiếc thuyền lương to lớn mất quyền điều khiển, quay ngang thân rồi va dồn vào nhau rầm rầm.
Tiếng gỗ sến, gỗ táu vỡ toang giòn rụm vang vọng khắp vách đá, át cả tiếng gió bấc gầm gào.
Khói bốc lên nghi ngút từ những bùi nhùi tẩm nhựa trám ném thẳng vào khoang lái giặc.
Nhưng thứ khiến Lãng không thể rời mắt lại là những bao tải đay rách toạc.
Từ những mạn thuyền bị đâm thủng hoặc nghiêng ngả vì mắc cạn, từng đụn thóc vàng, gạo trắng tuôn xối xả xuống lòng biển xanh thẫm.
Gạo trôi nổi trắng xóa cả một vạt sóng dài, dập dềnh theo bọt nước rồi ngậm no muối biển, chìm nghỉm dần xuống đáy bùn sâu.
Hàng vạn hộc lương thảo trù liệu nuôi sống đạo quân viễn chinh của Thoát Hoan bỗng chốc tan rã thành bùn trắng của biển cả.
Giặc trên thuyền hoàn toàn vỡ trận.
Trước sức ép của ngọn lửa và những mũi giáo dài xua đuổi từ thuyền quân Nam, lính Nguyên hốt hoảng vứt bỏ giáp trụ nặng nề, dạt sang mép mạn rồi nhảy tùm xuống nước.
Tiếng la hét hỗn loạn bằng thứ tiếng phương Bắc the thé chìm dần giữa tiếng sóng vỗ đập vào bờ đá.
Một vài chiếc thuyền nhẹ cắm cờ tướng tháo chạy trối chết về hướng biển ngoài, bỏ mặc toàn bộ đoàn thuyền vận tải trơ trọi giữa vòng vây kìm kẹp.
Lãng khẽ thở hắt ra một hơi dài, buốt rát nơi cổ họng.
Hắn thấy rõ từ mũi thuyền chỉ huy xa xa, bóng dáng Trần Khánh Dư đứng sừng sững trong tấm áo chiến màu lam sẫm, thanh kiếm chống thẳng xuống sàn gỗ.
Trận đánh hậu cần lớn nhất cuộc chiến đã định đoạt chỉ trong chưa đầy hai tuần hương, sạch gọn và dứt khoát như một nhát búa nện trúng hồng tâm.
Chiếc thuyền ba buồm lườn rộng, cắm cờ hiệu giả buôn vải phương Nam, bị hai chiếc thuyền thoi ép chặt vào doi cát ngầm.
Dưới đáy lườn, nước biển tràn qua những lỗ thủng do móc câu xé toạc, tiếng nước òng ọc nuốt chửng từng tấc ván gỗ sến.
Quân Nam lùa tù binh lên mạn trước, tay trói giật cánh khuỷu bằng dây thừng bện gai.
Quách Sùng quỳ mọp trên sàn gỗ ướt sũng.
Hắn thở hồng hộc, chiếc áo gấm lấm lem bùn cát, hàm răng run bần bật va vào nhau lách cách.
Bên cạnh hắn, viên cai đội áp giải vung đuôi đoản đao hất tung nắp chiếc hòm mun bọc đồng, để lộ xấp văn thư cùng cuộn da cừu ngả màu vàng ố, mép vẽ chi chít các luồng lạch quanh vùng biển Đông Bắc.
Lãng vội kéo sụp vành nón lá rách che quá nửa sống mũi.
Anh cúi gập lưng, cùng một gã phu Kẻ Sắt luồn đòn cừ qua quai sắt hòm đá dằn mạn, làm bộ chật vật nhấc lên.
Từ dưới vành nón cọ mốc, mắt Lãng liếc sang bên.
Hà Thanh Liên đã đứng trước mặt Quách Sùng từ lúc nào.
Nàng nai nịt gọn gàng trong bộ đồ chài màu chàm nhuộm vỏ vẹt, dải lụa xanh buộc gọn mái tóc dài sau gáy, bên hông cài con dao găm nhỏ bọc vỏ đồi mồi.
Nàng cúi xuống nhặt cuộn da cừu lên, lật giở mặt trong nơi có vết mực son đánh dấu luồng cạn Cống Đông.
“Quách chủ sự,” giọng Liên trong trẻo nhưng lạnh buốt như ngọn gió bấc luồn qua kẽ đá, “tấm hải đồ này do chính tay gia phụ vẽ tặng ông khi hai nhà cùng ăn mâm cá, uống hũ rượu cúc ở Vạn Ninh.
Ông đem nó đổi lấy chức quan vận lương của giặc, sao không tính trước có ngày nước triều rút sớm?”
Quách Sùng ngẩng phắt đầu lên.
Đôi mắt ti hí của tên lái buôn giảo hoạt trợn trừng, rồi co rúm lại khi nhận ra con gái họ Hà.
Hắn há miệng định cãi, nhưng cái tát của người lính canh khiến hắn ngã dúi dụi xuống sàn.
Hắn rên rỉ, vội vã van lơn bằng tiếng Việt ngọng nghịu:
“Thanh Liên... hiểu lầm rồi!
Ta bị ép theo thuyền... số bạc dằn tàu, cả mớ tơ sống dưới hầm... ta để lại cho nhà họ Hà hết!
Chỉ xin cô nương thưa với tướng quân tha cho ta một con đường sống...”
“Đem đi,” viên võ tướng của Trần Khánh Dư phất tay cụt ngủn, chẳng buồn nghe hết lời van vỉ.
Tên lính giật mạnh dây thừng, lôi xềnh xệch Quách Sùng qua mép thuyền nhảy xuống bè áp giải.
Lúc bị lôi qua khoang lái, ánh mắt xảo quyệt của Quách Sùng vô tình lia qua bóng người đang còng lưng gánh hòm.
Lãng lập tức ho sù sụ một tràng dài, gập người xuống thấp hơn nữa như sắp bị hòm gỗ đè gãy lưng.
Chân anh đạp mạnh xuống sàn kêu côm cốp, làm bắn tung tóe vũng nước mặn lên cả ống quần Quách Sùng.
Tên phản bội khạc một bãi đờm tức tối rồi cắm đầu bước đi, không hề nghi ngờ gã cửu vạn rách rưới kia từng ngồi mặc cả từng thỏi thép với hắn bên bờ Lục Đầu.
Đợi đoàn áp giải khuất sau mé đá, Lãng mới buông phịch đòn cừ xuống cát, thở hắt ra một hơi nhẹ nhõm.
Dưới vành nón, mồ hôi lạnh đã túa ra rịn ướt chân tóc.
Tấm da cừu nằm gọn trong tay áo Thanh Liên; nàng khẽ liếc về phía anh, khóe môi thoáng cong lên một nét cười kín đáo.
Gió đêm trên bãi cát Vân Đồn mang theo hơi rong rêu và mùi cháy khét từ những xác thuyền đắm ngoài lạch xa.
Phía sau rặng phi lao, ánh lửa trại le lói đỏ rực, tiếng quân lính reo hò mừng công râm ran vọng lại.
Lãng ngồi trên thân gỗ trôi dạt mép sóng, cặm cụi dùng vỏ sò cạo bùn khô bám ở bắp chân.
Có tiếng bước chân giẫm lạo xạo trên cát sỏi, rồi bóng tà áo chàm khẽ nghiêng xuống bên cạnh.
Thanh Liên đi chân trần lội qua mép nước buốt, ngồi thụp xuống tảng đá cạnh anh.
Nàng đã tháo dải lụa buộc tóc, mái tóc dài buông xõa bay lòa xòa trước gió.
Tấm hải đồ da cừu cuộn tròn được đặt hờ hững trên gối.
“Quân bên dinh Tiết chế đang kiểm kê thuyền giặc,” Liên cất tiếng, mắt nhìn đăm đăm ra biển đen kịt.
“Nghe đâu thóc gạo chìm xuống vụng đủ nuôi mười vạn quân giặc trong ba tháng.
Lần này Nhân Huệ Vương lập công đầu, triều đình không thể bắt tội người được nữa.”
Lãng tì cằm lên hai đầu gối: “Chuyện công lao để các bậc đại nhân tính.
Ta chỉ mừng cái đầu trên cổ vẫn còn nguyên, lại không để Quách Sùng nhận mặt.”
Tiếng sóng vỗ đều đặn vào bờ cát.
Liên im lặng một lúc lâu rồi đột ngột quay sang nhìn anh:
“Lúc nãy giải Quách Sùng đi, ông ta bảo cha ta khôn ngoan gả bán con gái để giữ thuyền, giữ mối làm ăn với họ Đinh bên Lục Đầu.” Nàng cắn môi, giọng rành rọt như đang điểm từng khoản khế ước trước phường buôn: “Ta nói cho anh biết, Đinh Lãng, cha ta mưu tính gì là việc của người.
Còn chuyện ta rời xưởng Kẻ Sắt, dong thuyền dò luồng lạch, bám đuôi đoàn lương giặc... không phải vì cha ép.
Ta theo anh, là vì chính ta muốn thế.”
Lồng ngực Lãng thắt lại một nhịp, tai như ù đi giữa tiếng gió rít.
Đã quen với vẻ sắc sảo của Diệu Hoa hay sự cộc cằn của Mai Đào, anh bỗng thấy mình luống cuống trước sự thẳng thắn không chút phòng bị này.
Cổ họng khô khốc, anh cố nuốt khan để giấu đi sự bối rối, nhưng khi mở miệng, thanh âm vẫn run rẩy thấy rõ:
“Cô nương... làm ăn lớn quen thói rồi.
Nói năng dứt khoát thế này, chẳng khác nào ép người ta phải ký vào một bản hợp đồng đối tác dài hạn, không có điều khoản hủy ngang.”
Thanh Liên ngơ ngác mất một thoáng trước mớ từ ngữ quái gở chưa từng nghe ở bất kỳ bến thuyền nào, nhưng rồi dường như hiểu ra ngụ ý giấu sau câu đùa gượng gạo ấy, nàng phì cười, bờ vai khẽ rung lên.
Nhưng tiếng cười nhanh chóng nghẹn lại nơi cuống họng, vỡ òa thành một tiếng nấc dài.
Bao nhiêu sợ hãi dồn nén suốt mấy ngày đêm bám đuổi đoàn thuyền giặc, nỗi lo âu cùng gánh nặng gia tộc bỗng chốc theo những giọt nước mắt nóng hổi tuôn rào rạt trên má.
Liên cúi gằm mặt, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo chàm ướt sũng.
Lãng ngồi lặng đi bên cạnh.
Anh không nói gì thêm, chỉ khẽ nhích lại gần, đưa bờ vai thô ráp còn đượm mùi than lò cho nàng tựa vào giữa gió biển buốt giá.
Trời rạng sáng, mặt biển Vân Đồn đùng đục sương muối.
Gió bấc đã dịu bớt, nhưng cái lạnh thấu xương vẫn quẩn quanh xác thuyền lương đắm ngoài lạch sâu, phảng phất mùi gạo cháy ngâm nước mặn.
Lãng cùng Mai Đào thu dọn búa kìm cho vào sọt tre.
Phía mép nước, Thanh Liên đang đốc thúc gia nhân chằng buộc thuyền buôn, tấm hải đồ da cừu giấu kỹ sau lưng.
Bỗng tiếng móng ngựa dồn dập vang lên từ khe núi đá vôi.
Một kỵ mã mặc giáp da, ngực thêu phù hiệu chim ưng của Tiết chế phủ ghìm cương sát mép cát, con ngựa phì phò bọt mép.
Viên kỵ mã nhảy xuống đất, tay giữ đốc kiếm, đảo mắt nhìn quanh đám bễ trâu và đống xỉ sắt:
“Ai là thợ cả xưởng Kẻ Sắt ở đây?”
Lãng giật thót, định lùi ra sau lưng Mai Đào thì một tên lính tuần gần đó đã giơ tay chỉ thẳng:
“Bẩm quân hầu, chính là hắn.
Đêm qua gã vá neo, rèn móc sắt cho chiến thuyền vương gia đấy ạ.”
Lãng vội kéo sụp nón lá, so vai cúi đầu lí nhí:
“Dạ... tiểu nhân chỉ là thợ phụ theo thuyền...”
Viên kỵ mã không buồn nghe, rút từ ống đồng ra một cuộn lụa vàng dõng dạc đọc:
“Có trát của Tiết chế phủ.
Lệnh truyền: Điểm danh thợ Tèo của làng Kẻ Sắt, lập tức theo ngựa trạm về hành dinh Vạn Kiếp nội trong ba ngày, không được chậm trễ!”
Nghe hai chữ “thợ Tèo”, Mai Đào vội quay mặt đi nén cười, bờ vai run lên.
Xa xa bên thuyền buôn, Thanh Liên cũng khẽ nghiêng đầu, mắt ánh lên vẻ trêu chọc.
Lãng méo mặt, thầm rủa cái miệng hại thân của mình, nhưng trước trát của Hưng Đạo Đại Vương, anh chẳng dám hé răng cãi nửa lời.
“Tiểu nhân tuân lệnh,” Lãng khúm núm chìa đôi tay đen nhẻm đón trát.
“Dám hỏi...
Tiết chế gọi kẻ hèn này có việc chi?”
Viên kỵ mã ném thêm một cuộn giấy bản dày vào tay anh:
“Đến nơi tự khắc rõ.
Đây là đồ hình Tiết chế đích thân phê duyệt chuyển gấp xuống, dọc đường cấm mở cho người ngoài xem.”
Dứt lời, kỵ sĩ nhảy tót lên lưng ngựa, giật cương phi vụt đi, bụi cát bay mù mịt.
Lãng đứng trơ trọi, tay cầm cuộn giấy còn thơm mùi mực mới.
Tò mò không kìm nổi, anh liếc nhanh quanh quất rồi lén hé mép giấy ra xem.
Trên nền giấy thô, nét bút son dứt khoát vẽ hình một thân gỗ tròn rất lớn, đầu ngọn vót nhọn hoắt và bọc một chóp sắt dày có ngạnh tán đinh.
Bên cạnh chỉ ghi vài kích thước ước chừng theo sải tay, tuyệt nhiên không có dòng chữ nào chú thích công năng hay mục đích.
Nhìn chằm chằm vào mũi sắt nhọn hoắt trên bản vẽ, Lãng thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, át cả cái buốt giá của gió biển Vân Đồn.