Gió đầu năm Mậu Tý mang theo mưa phùn buốt thấu qua lớp áo chẽn của Đào.
Dù khoác thêm áo dạ cũ của cha, vết thương nơi bả vai nàng vẫn thỉnh thoảng giật nhói.
Nàng theo sau Lãng qua ba tầng trạm gác của hành dinh Vạn Kiếp.
Lính canh bồng giáo đứng nghiêm như tượng, bắp tay ai nấy đều thích hai chữ “Sát Thát” đen nhánh dưới trời xám xịt.
Gian trướng của Tiết chế đại vương thoang thoảng mùi mực lẫn trầm hương.
Khi rèm trướng hất lên, tim Đào đập thình thịch như nhịp búa đập đe.
Hưng Đạo Đại Vương đứng quay lưng lại bàn cờ lớn, vóc người quắc thước, tóc hoa râm búi gọn dưới khăn lam.
Ngài khoác chiến bào giản dị, không gươm giáo lỉnh kỉnh, nhưng uy nghiêm toát ra từ ánh mắt sâu thẳm khiến Đào bất giác cúi rạp đầu, tay siết chặt mép áo.
Bên bàn trà đặt khúc gỗ tròn vót nhọn bằng bắp chân, đầu bịt một chóp sắt thô.
Đại Vương xoay lại, ánh mắt dừng trên người Lãng:
— Ngươi là thợ Tèo làng Kẻ Sắt?
Đào bấm móng tay vào lòng bàn tay để khỏi bật cười.
Lãng khúm núm quỳ mọp, giọng run rẩy nghe hèn đến phát tội:
— Dạ bẩm Chúa công, thảo dân đội ơn trên gọi đến.
Đại Vương chỉ vào khúc gỗ, giọng trầm vang:
— Ta cần xưởng Kẻ Sắt dốc toàn lực rèn mũi bịt sắt dẻo cho đầu cọc lim.
Khẩu độ từ một gang rưỡi đến hai gang, mũi sắc, thân ôm khít thớ gỗ, chịu được chấn động mạnh mà không vỡ, không lỏng.
Làm ngày đêm, gom hết thợ quanh vùng, trước thượng tuần tháng Ba phải có đủ hàng nghìn chiếc chở ra bến.
Từng lời dứt khoát như đinh đóng vào ván lim.
Tuyệt nhiên Đại Vương không hé nửa lời về việc cọc lim ấy cắm ở khúc sông nào, dùng vào mưu kế gì hay đánh thuyền ai.
Quân lệnh như núi, chỉ giao việc cho thợ, không bàn việc quân.
Đào nín thở liếc sang.
Bình thường Lãng lanh chanh lắm, cái miệng ranh mãnh không lúc nào chịu ngồi yên, thấy gì lạ cũng vặn vẹo ba điều bốn chuyện rồi tuôn ra mấy từ kỳ quái như “nguyên lý” với “kỹ thuật”.
Nàng đồ rằng anh sẽ tò mò hỏi cọc to thế cắm làm sao giữa dòng nước xiết.
Nhưng lần này, Lãng im phắc.
Anh dập đầu sát đất, hai tay đón thanh thước chuẩn bằng đồng khắc sẵn kích thước từ vị thị vệ.
Đào thấy ngón tay anh hơi run, gáy ướt mồ hôi dù gió lùa lạnh ngắt.
Ánh mắt Lãng dán chặt vào chiếc thước mẫu, tuyệt đối không nhìn lên bản đồ trên bàn, chẳng dám liếc nét mặt vị Tiết chế lấy nửa phần:
— Thảo dân xin lĩnh mệnh.
Thợ Kẻ Sắt dốc hết gan ruột rèn đủ thước tấc Chúa công giao.
Đại Vương dường như thoáng mỉm cười kín đáo nơi khóe mắt rồi phất tay cho lui.
Ra khỏi trướng, bước chân Lãng nhẹ bẫng như người vừa thoát chết.
Nàng biết tỏng tính anh: sợ dây vào cơ mật triều đình, sợ tên lọt vào giấy mực, nhưng sâu trong vẻ sợ sệt ấy, dường như Lãng đã nhìn thấu khúc gỗ vót nhọn kia sẽ cắm vào đâu giữa dòng nước đỏ.
Bãi bồi ven sông Lục Đầu gió thốc buốt óc.
Dưới chân, bùn non quánh đặc mùi phù sa lẫn rỉ sắt.
Năm người thợ vạm vỡ khiêng cây cọc lim đã ốp chiếc mũi sắt búp sen vừa rèn đêm qua.
Lãng lom khom bên cạnh, tay lăm lăm que đo.
Đào khoanh tay đứng nhìn, gió luồn qua manh áo chẽn khiến bả vai nàng giật nhói từng cơn, nhưng nàng cắn răng nén lại.
— Đóng! — Lãng hô.
Chiếc vồ gỗ giáng xuống uỳnh uỳnh.
Đến nhát thứ ba, dưới lòng bùn bỗng vang lên tiếng “phựt” khô khốc.
Cây cọc lệch hẳn đi.
Năm người hè nhau lay kéo lên, chỉ còn khúc gỗ trơ trụi; chiếc chóp sắt nặng trịch đã tuột lại, ngậm chặt trong bùn đáy.
Mấy chóp khác đem dộng thử trên bãi sỏi mép ngoài cũng toác hoác mép, tuột chỏng trơ.
Lãng buông que đo, ngồi bệt xuống bùn ôm ghì lấy đầu.
Anh móc cuốn sổ tay nát bươm trong ngực áo, quẹt than đen ngoáy lia lịa rồi làu bàu:
— Lại trượt ngậm...
Bug số chín mươi!
Cứ dộng xung lực mạnh là gỗ co sắt dãn.
Thế này thì tàu giặc chưa đâm tới, cọc đã rụng mất mũi rồi!
Đào nhặt chiếc mũi sắt toác mép lên xem.
Mũi rèn khít, mép sắc ngọt, nhưng Lãng chỉ chăm chăm làm cái vỏ bọc trơn tuột ụp ngoài đầu cọc.
Nhìn vết xước trên thớ lim, nàng chợt nhớ lò rèn của cha.
Hồi nhỏ, Đào từng thấy cha tra cán cho những chiếc búa tạ ba mươi cân nện thép ngày đêm chẳng bao giờ tuột.
Bí quyết của thợ già Kẻ Sắt là đai sắt bao giờ cũng xẻ ngạnh móc ngược vào thớ gỗ, rồi đóng một cây đinh thép xuyên ngang để chốt chết.
Đào lấy mũi guốc gõ cộp cộp vào ống sắt:
— Anh học lắm chữ mà khờ thế!
Cắm xuống bùn mút chặt, ốp khơi khơi sao bám nổi?
Lãng ngẩng phắt dậy, mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ:
— Đào có cách à?
— Cắt vành dưới thành bốn tai sắt xòe ra, mép trong giũa ngạnh ngược thớ.
Ốp vào cọc xong thì quai búa tán ngập vào gỗ, rồi khoan một lỗ xuyên tâm, nện đinh sắt xỏ ngang tán bẹt đầu hai bên.
Có giời giật cũng chẳng tuột!
Mắt Lãng sáng rực.
Anh nhảy chồm lên định ôm chầm lấy Đào nhưng sực nhớ người đầy bùn nên vội rụt tay, cười tít mắt:
— Ngạnh hãm và chốt khóa then ngang!
Phải rồi, sao tôi lại quên mất chốt xỏ chứ!
Không đợi giục, Đào xăm xăm bước lại bễ lò dựng tạm.
Nàng kẹp phôi sắt đỏ rực lên đe, tay búa gõ chan chát, thoăn thoắt xẻ ngạnh, dùi lỗ chốt.
Chiếc mũi cải tiến vừa tôi nguội đã được ốp chặt vào đầu cây lim mới, chốt đinh xuyên ngang đánh chát chúa.
Thợ lại nâng vồ nện uỳnh uỳnh.
Cọc lim cắm phập qua bùn, đâm lút vào tầng sỏi đá sâu hoắm.
Đám thợ dùng đòn bẩy ra sức nạy thử, cọc rung ken két nhưng mũi sắt vẫn ôm riết lấy đầu gỗ như móng vuốt cắm chặt vào thịt.
Đào tựa vào cán búa, đưa mu bàn tay quệt vệt nhọ than trên trán, bật cười đắc ý.
Nhìn dòng sông đỏ cuộn chảy, nàng thấy lòng nhẹ bẫng, quên cả cơn đau buốt nơi bả vai đang ngấm dần trong gió lạnh.
Đống than hầm trong góc trơ đáy lúc nào chẳng hay.
Sắt thoi dự trữ vốn cao ngang ngực cũng cạn dần, chỉ còn trơ nền đất nện.
Mũi bọc cọc lim ngốn sắt gấp mấy lần đầu giáo, lại đòi hỏi phôi dày, ngạnh sâu, bao nhiêu thép tốt của lò Kẻ Sắt đưa vào đe đều như muối bỏ biển.
Đào nhìn cái đe nguội ngắt của cha mà ruột gan nóng như lửa đốt.
Giữa lúc Lãng còn vò đầu bứt tai, Diệu Hoa đã từ phủ lỵ bước tới.
Nàng tiểu thư họ Vũ khoác áo lụa lam gọn gàng, tay cầm cuốn sổ con bọc vải điều.
Chẳng nói nửa câu thừa, nàng trải xấp giấy bản đóng triện son của phủ An phủ sứ lên mặt hòm:
— Năm Bính Tuất anh đi khắp các tổng chỉ người ta cách đắp lò quạt gió, luyện sắt xốp, ơn ấy họ chưa quên.
Thiếu sắt thì gom nồi vạc gãy, lưỡi cày hỏng trong dân; thiếu than thì người mé rừng đẵn củi hầm lò.
Thiếp đã gửi thư đi khắp các làng rèn ven sông Thương, sông Cầu, kèm theo thước mẫu Kẻ Sắt.
Cứ đúng ni tấc ấy mà rèn, sai một phân phủ lỵ không nhận.
Từng thanh thước mẫu gửi đi đều do chính tay Đào giũa cẩn thận: thân thước khắc vạch rõ ràng, đuôi đánh dấu chuẩn xác chỗ xẻ ngạnh hãm và lỗ then ngang.
Việc gom hàng được giao trọn cho Vũ Trọng Đạt.
Đào trố mắt nhìn gã công tử ăn chơi ngày nào giờ đen nhẻm, ống quần xắn cao, mồ hôi nhễ nhại chỉ huy thuyền đinh ghé bến Kẻ Sắt.
Đạt thoăn thoắt vác từng bao than đượm, từng bó sắt phế liệu ném uỳnh uỳnh lên bến, rồi lại hò hét phu chèo ngược nước gom mũi sắt thành phẩm.
Gã chẳng còn vẻ khinh khỉnh ngắm móng tay, chỉ gật đầu thật mạnh với Lãng rồi lại nhảy phắt xuống thuyền.
Đêm ấy, Đào cùng cha đứng trên mặt đê sông Lục Đầu đón gió buốt.
Nhìn sang mé sông Thương, sông Cầu rồi trông xa về phía Bình Than, trời đêm tối như mực nhưng chân trời rực lên hàng trăm đốm lửa bập bùng.
Lò rèn các làng cùng đỏ lửa.
Tiếng búa nện sắt chan chát, trầm đục vang rền trên mặt nước, hòa vào tiếng gió như nhịp thở dữ dội trước cơn bão lớn.
Cha nàng siết chặt cán tẩu thuốc đã tắt ngóm, khẽ nhổ bãi nước bọt xuống triền cỏ, mắt rực lên ánh phản chiếu của ngàn đốm lửa.
Lão lẩm bẩm, giọng khàn đặc lẫn trong gió:
— Cả đời tao, phường thợ rèn giấu nghề như mèo giấu cứt, cha truyền con nối cũng chỉ rỉ tai lúc gần đất xa trời.
Nếu không nhờ thằng rể hờ của mày đem nghề ra dạy cho thiên hạ, thì lò Kẻ Sắt này có đập vỡ ngực cũng chẳng bao giờ rèn nổi ngần này mũi sắt cho Đại Vương.
Đào nhìn gương mặt hằn sâu vết bỏng tàn lửa của cha đang giãn ra một nụ cười hiếm hoi.
Quay đầu nhìn về xưởng rèn, nơi Lãng vẫn cắm cúi soi từng mũi sắt mới chở tới bên ngọn đèn dầu leo lét, lồng ngực nàng chợt nhói lên một nhịp ấm áp lạ lùng giữa gió sông buốt giá.
Thuyền đinh chở đầy sọt mũi sắt nặng trịch xuôi dòng ra cửa Bạch Đằng.
Càng gần biển, sông càng mở rộng, gió mặn nồng chát thốc thẳng vào mặt.
Đào phụ đám phu bàn giao hàng cho toán lính áo chàm đợi sẵn nơi bến vắng.
Đằng xa mé rừng sú vẹt, nàng thấp thoáng thấy bóng những bè lim đồ sộ đang được kết mảng kéo đi, tuyệt nhiên không ai hé răng chúng sẽ được cắm xuống khúc nào.
Giao xong việc, Đào quay lại thuyền thì chẳng thấy Lãng đâu.
Rảo bước tìm, nàng thấy anh đang ngồi xổm bên mép nước cùng ba ông lái đò tóc bạc phơ, da mốc thếch vì sương muối, bên vò rượu đắng và mấy con cá khô nướng sém.
Lãng ngồi chồm hổm, đầu trần hứng gió buốt, mắt chăm chú nhìn ngón tay khẳng khiu của một lão chèo đò đang vạch lên cát.
Đào bước lại gần, tựa thân bần cằn cỗi nghe ngóng.
— Chú mày xem, — lão lái đò râu cước khà ngụm khói thuốc, giọng khàn đặc — Bạch Đằng này nước không giống mé Lục Đầu đâu.
Cứ tuần trăng non hay rằm, triều dâng ngập cả sú vẹt, chảy xiết như ngựa lồng.
Nhưng hễ quay đầu rút thì tụt nhanh như tên bắn, bãi đá cùng lòng bùn phơi ra trắng xóa chỉ độ tuần hương.
Nhìn mặt trăng chếch ngọn sào là biết ròng sát đáy.
Lãng không cãi nửa lời.
Anh cầm mảnh vỏ sò cặm cụi gạch từng vạch dọc ngang lên cát, rồi lại hí hoáy chép vào cuốn sổ nát bươm.
Gió biển thổi cát vào mặt, anh chẳng buồn chùi, cứ cặn kẽ hỏi từng khắc giờ nước đứng, ngọn gió chướng lúc triều lên triều xuống.
Trông anh lúc ấy kính cẩn lạ lùng, chẳng còn vẻ lém lỉnh thường ngày.
Mãi tới khi mặt trời xế bóng, thuyền chuẩn bị nhổ sào ngược nước, Lãng mới tạ ơn các cụ già.
Bước song song với Đào trên bãi sỏi lạo xạo, anh vẫn cắm cúi lật mấy trang giấy chi chít cột biểu.
Đào khoanh tay trêu:
— Tưởng anh tài giỏi thế nào, hóa ra cũng phải đi học mót của mấy ông già chèo đò!
Lãng dừng bước, nhìn ra khoảng mênh mông nơi con sông đỏ rực ráng chiều đổ vào biển cả.
Nụ cười cợt nhả biến đâu mất, khóe môi anh chỉ còn nét cười trừ tự giễu:
— Tôi tài cán gì đâu.
Đào tưởng tôi bày đặt ra chuyện tính con nước chắc?
Người xưa... các cụ trên dải đất này đã nằm lòng từng con sóng, bước trăng tròn khuyết từ ngàn năm trước.
Mưu lược sâu như biển ấy là của Đại Vương, hiểu sông rạch tường tận là các bậc cha ông.
Anh khép cuốn sổ, đút sâu vào ngực áo, giọng trầm hẳn:
— Tôi chỉ là đứa biết kẻ thêm mấy cái bảng, vẽ thêm vài vạch đo cho ngay ngắn thôi.
Sông của người ta, cọc lim cũng của nước mình...
Tôi chỉ sợ mình làm hỏng việc của họ.
Gió biển thổi bạt vạt áo thô của Lãng.
Đào nhìn sườn mặt gầy lấm lem cùng ánh mắt sâu thẳm của anh hướng ra nghìn trùng sóng bạc, lồng ngực bỗng dâng lên nỗi thắt lại ngọt ngào.
Chàng trai này sợ chết, sợ dính tên vào sử sách, nhưng trước non sông lại biết cúi mình khiêm nhường đến thế.
Nàng chẳng nói gì, lặng lẽ siết tay búa giắt bên hông, bước chậm lại nửa bước đi sau lưng anh.
Đêm muộn, xưởng rèn Kẻ Sắt chỉ còn lại tiếng than nổ lép bép trong chiếc lò con góc xưởng.
Hơi ấm từ mẻ xỉ cuối ngày hắt lên khuôn mặt gầy gò của Lãng, nhuộm đỏ những giọt mồ hôi đọng nơi sống mũi.
Anh ngồi bệt trên khúc gỗ mục, tay cầm mẩu than cặm cụi gạch mấy con số lên mảnh ván vụn, mí mắt chốc chốc lại díp vào vì kiệt sức.
Đào ngồi đối diện, nhẩn nha lau chiếc kìm rèn bằng giẻ tẩm dầu.
Nàng không còn cơn sốt hầm hập thiêu đốt da thịt như đợt nằm lại trạm xá dạo trước, cũng chẳng hề mê sảng.
Đầu óc nàng tỉnh táo đến từng sợi tóc, nghe rõ cả tiếng gió luồn qua khe liếp và tiếng tim mình đập thình thịch sau lớp áo chẽn.
Nàng buông giẻ, đặt cái kìm sắt đánh “cạch” một tiếng dứt khoát lên mặt đe:
— Đinh Lãng.
Anh giật mình ngẩng lên, ngơ ngác chớp mắt:
— Sao đấy Đào?
Vai lại nhức à?
— Vai tôi khỏi rồi. — Đào nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt nàng rực lên thứ lửa còn nóng hơn lò than — Tôi gọi để hỏi chuyện khác.
Đợt tôi bị thương nằm sốt mê mệt mé rừng, tôi có nói một câu.
Anh còn nhớ không?
Lãng thoáng khựng lại.
Ánh mắt anh đảo quanh như chuột tìm đường chạy, tay bất giác thọc vào túi áo trong định lôi cuốn sổ con nát bươm:
— Câu... câu nào nhỉ?
Lúc ấy Đào sốt cao nói sảng, tôi bận băng bó nên...
À, hay là để tôi ghi vào sổ tay, mai tính...
— Không ghi chép gì hết! — Đào chồm tới, bàn tay thô ráp chai sần chộp cứng lấy cổ tay Lãng, ghì chặt xuống mặt ván — Không có mai tính, cũng chẳng có khoản nợ nào ở đây cả.
Hôm nay tôi tỉnh queo, không sốt, không mê.
Tôi bảo là tôi thương anh.
Giờ anh tính sao?
Trả lời ngay, cấm lảng sang chuyện đe búa!
Lãng trố mắt nhìn nàng, mặt đỏ bừng lên chẳng biết vì hơi than hay vì luống cuống.
Cổ họng anh ực một tiếng, miệng mấp máy như muốn tuôn ra mấy câu đùa cợt lém lỉnh thường ngày, nhưng nhìn vẻ mặt bặm môi, thẳng như thanh thép nguội của Đào, những lời ranh mãnh dường như nghẹn ứ lại nơi đầu lưỡi.
Anh bối rối gãi tai, bàn tay bị nàng giữ chặt run lên nhè nhẹ, ánh mắt nhìn nàng vừa lúng túng vừa đong đầy vẻ dịu dàng mà Đào chưa từng thấy bao giờ.
Anh hít sâu một hơi, vừa mở miệng định đáp:
— Đào, tôi...
Bỗng ngoài bến sông vang lên tiếng vó ngựa dồn dập xé toạc màn đêm.
Tiếng bánh lái va vào mạn thuyền thình thịch kèm theo tiếng chân người chạy rầm rập về phía xưởng.
Cánh cổng liếp bị đẩy bung ra, một kỵ mã khoác áo tơi ướt sũng, ngực thêu phù hiệu Tiết chế phủ thở không ra hơi, giọng lạc đi giữa gió lạnh:
— Thợ Kẻ Sắt đâu!
Có trát khẩn!
Lãng bật dậy như lò xo, buông tay Đào bước xăm xăm ra cửa.
Người lính trạm nuốt ngụm nước bọt, truyền nhanh từng chữ rành rọt:
— Vạn Kiếp cấp báo: Thoát Hoan cùng bộ binh giặc đã phá hủy công sự, tính đường tháo chạy lên phía bắc!
Toàn bộ thủy quân của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đang nhổ neo, rầm rộ kéo về hướng sông Bạch Đằng!