Gió biển mùa xuân năm Đinh Hợi thổi buốt thấu xương.
Màn sương muối mỏng tang như dải lụa xám phủ kín mặt nước bến Vân Đồn, chỉ chừa lại những cột buồm nhô lên lờ mờ như bãi chông cắm ngược.
Đinh Lãng gò lưng khua mái chèo, hai bắp tay mỏi nhừ sau một đêm thức trắng cắn răng vật lộn với sóng dữ.
Mũi thuyền nan khẽ cọ vào chân cầu tàu của trại thủy quân, phát ra tiếng cọt kẹt khô khốc.
Thanh Liên khoác chiếc áo tơi đã tơi tả, cẩn thận ôm bọc giấy dầu bọc bản chép tấm bản đồ luồng lạch trước ngực.
Nàng bước vội lên bậc đá trơn tuột, nơi viên hiệu úy thủy quân trong bộ giáp da cá đuối đã đợi sẵn tự lúc nào.
Dưới ánh đuốc leo lét đầu cầu, gương mặt viên võ quan đanh lại, đôi mày nhíu chặt khi chăm chú lật giở từng trang giấy còn đượm hơi ẩm.
Nhìn dáng vẻ nghiêm cẩn ấy, Lãng đoán chừng những nét mực vội vã của Thanh Liên đã đánh trúng tim đen của hải trình mà giặc sắp chọn.
Lãng không dám bước lên bến.
Anh thụt lùi lại, ngồi thu lu ở khoang đáy rồi khéo léo lủi vào nấp sau một đống lưới gai phủ đầy rong rêu bốc mùi tanh nồng.
Trong bóng tối, anh chỉ chừa hai con mắt để quan sát.
Tránh voi chẳng xấu mặt nào, dính dáng tới quân doanh lúc này chẳng khác gì tự tay chép tên mình vào danh sách đối tượng cần thẩm tra.
Bỗng viên hiệu úy gấp mạnh tập giấy lại, ánh mắt sắc như dao đảo qua mặt nước rồi dừng phắt lại ở đống lưới rách nơi Lãng đang co ro:
“Kẻ nào dưới thuyền kia?
Ngươi theo hầu thuyền buôn nào, tên họ là gì?”
Tim Lãng giật thót, hẫng một nhịp hệt như lúc màn hình hiện thông báo lỗi hệ thống đỏ lòm.
Anh vội vã cúi gằm mặt xuống sát mạn thuyền, kéo chiếc nón rách sụp che quá nửa sống mũi, giọng khàn đặc cố bóp nghẹt vẻ sợ sệt:
“Bẩm… bẩm quan lớn, con chỉ là thằng chèo thuê kiếm cữ cơm thôi ạ!
Khách trả tiền thì con cắm sào chở qua vụng, chứ chữ nghĩa tên tuổi có đáng gì đâu mà quan bận tâm!”
Thanh Liên đứng trên cầu tàu cũng nhanh trí khẽ ho một tiếng, bước lệch sang một bước để che khuất tầm nhìn của viên tướng, miệng cất lời giải thích át đi sự tò mò.
Viên hiệu úy khẽ hừ mũi một tiếng, dường như coi một gã chèo đò lem luốc là thứ hạ đẳng không đáng bận tâm, liền phất tay cho qua rồi vội vã quay gót tiến sâu vào trại chỉ huy.
Thở phào một hơi dài đến mức ngực xẹp lép, Lãng không đợi Thanh Liên quay lại vẫy chào mà vội vàng chống sào đẩy thuyền tách bến, chuồn êm về mạn xưởng tạm bên bến sông.
Vừa gò lưng kéo thuyền lên bãi cát, anh vừa quệt mồ hôi lạnh rịn đầy trán, hai hàm răng va vào nhau lập cập:
“Hú vía…
Suýt chút nữa là commit thẳng cái tên thật vào kho sử rồi!
Lọt vào mắt mấy ông quan võ thì chỉ có nước bị lôi đi làm lính tiên phong, lúc đấy có mười cái mạng cũng chẳng kịp rollback!”
Vừa đặt chân về lại căn gác xép bên xưởng Kẻ Sắt, Đinh Lãng đã thấy Diệu Hoa ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn con bằng gỗ tạp.
Ánh đèn dầu hạt sở leo lét hắt lên vẻ đăm chiêu của nàng, ngón tay thon dài gõ nhịp lách cách trên xấp giấy bản ngả vàng.
Mùi mực tàu ẩm quyện với mùi dầu mỡ từ ngoài bến sông xộc vào khiến không khí ngột ngạt.
Thấy Lãng bước vào với bộ dạng bơ phờ, chiếc áo đẫm sương đêm chưa kịp ráo, Diệu Hoa không hỏi han lấy một câu mệt nhọc, chỉ khẽ ngước mắt lên, lạnh lùng chìa cuốn sổ cái vừa mở toang:
“Chàng xem đi.
Suốt ba tháng qua, xưởng xuất sắt thành phẩm ra ngoài tưởng chừng kín kẽ, nhưng có kẻ đang ung dung vét từng thoi sắt ngay dưới mũi chúng ta.”
Lãng ngồi thụp xuống đối diện, dụi đôi mắt cay sè nhìn vào những hàng chữ ngay ngắn thẳng tắp.
Diệu Hoa trỏ đầu bút lông vào một loạt mục xuất kho đánh dấu đỏ:
“Một lái buôn tên Trần Tam ở mạn Nam Sách, ba tháng nay liên tục gom mua lưỡi cày gang dẻo và mũi cuốc.
Riêng số lưỡi cày gã mua gom đã lên tới hơn bốn trăm chiếc.
Cả vùng sông Kinh Thầy cày ải cả năm cũng chưa dùng hết một phần mười con số đó.
Lưỡi cày bằng sắt rèn kỹ của Kẻ Sắt dẻo và đằm, đem đập vụn ra rèn lại giáo mác hoặc nung chảy đúc chông sắt thì không còn gì tiện hơn.”
Lãng trố mắt nhìn những con số, đầu óc ong ong như vừa bị giáng một búa.
Anh đập mạnh tay xuống mặt bàn, buột miệng chửi nhỏ trong cổ họng:
“Chết tiệt thật!
Lại là chiêu luộc đồ gián tiếp!”
Lý Hắc ở bến Lục Đầu không dại gì vác mặt vào xưởng mua quặng hay sắt thỏi vốn bị quan phủ kiểm soát gắt gao.
Hắn xé lẻ tiền ra, mượn danh nghĩa thương nhân mua sắm nông cụ cho các điền trang để thu gom công khai.
Một cái lưỡi cày nặng ngót nghét vài ba cân sắt luyện kỹ, bốn trăm chiếc là hơn ngàn cân thép tốt đã biến mất không một tiếng động.
Quân Nguyên sắp tràn sang, mà sắt phòng thủ của Đại Việt lại bị tuồn thẳng vào tay lũ buôn lậu để rèn vũ khí đón giặc.
“Là do thiếp sơ suất không rà soát lại người mua lẻ,” Diệu Hoa cắn môi, ánh mắt ánh lên vẻ tự trách hiếm thấy.
“Thấy người ta trả đủ tiền đồng, hàng ra đều đặn thì cứ ngỡ việc buôn bán đang thuận dòng.”
Lãng lắc đầu nguầy nguậy, cảm giác cay đắng nghẹn ứ nơi cuống họng.
Lỗi đâu phải ở nàng, lỗi là ở gã kỹ sư nửa mùa như anh.
Anh nắm rõ cơ chế vận hành của các hệ thống đời sau, ấy thế mà lại quên bẵng mất cái nguyên tắc vỡ lòng: giới hạn đơn hàng.
“Không phải tại nàng đâu,” Lãng vò đầu bứt tai, lẩm bẩm trong nỗi hối hận.
“Tại ta chủ quan quá.
Lẽ ra phải cài ngay cái giới hạn số lượng trên mỗi đầu người, áp trần mua sắm cho từng khu vực từ ngày đầu mới phải.
Hở một lỗ hổng bảo mật chết người thế này, để thằng cha Lý Hắc nó khai thác sạch sành sanh kho tài nguyên của mình!”
Diệu Hoa tròn mắt nhìn anh, dường như chẳng hiểu mấy từ ngữ kỳ quặc kia, nhưng nàng lập tức bắt trúng cái tên Lãng vừa buột miệng:
“Lý Hắc?
Ý chàng là gã chủ sòng bạc bến Lục Đầu đứng sau tên lái buôn Trần Tam này?”
“Chính hắn chứ chẳng còn ai vào đây nữa,” Lãng nghiến răng, mắt nhìn trừng trừng vào những vệt mực đỏ trên trang sổ.
Cánh cửa liếp bật mở mang theo luồng gió lạnh thốc vào làm ngọn đèn dầu chao đảo.
Vũ Trọng Đạt đứng sững ở ngưỡng cửa, mặt cắt không còn giọt máu.
Chưa để Lãng kịp mở miệng, người anh vợ ngày thường vốn kiêu căng bỗng sụp gối xuống đất, hai đầu gối đập mạnh xuống sàn gỗ nghe cộp một tiếng khô khốc.
“Em rể…
Diệu Hoa… cho ta đi chuộc tội!” Giọng Trọng Đạt run rẩy, tay siết chặt vạt áo lấm bùn.
“Món nợ cũ ở sòng bến Lục Đầu… chúng chưa xóa sổ.
Để ta quay lại vờ vay thêm nợ gỡ gạc, rồi lần ra chỗ chúng giấu sắt!”
Lãng trố mắt nhìn.
Khóe mắt Trọng Đạt đỏ hoe, vẻ nhục nhã lẫn quyết tâm hằn rõ trên gương mặt tái mét, dường như không hề diễn kịch.
Một con bạc khát nước quay lại vay nợ quả là bình phong hoàn hảo, đám tay chân của Lý Hắc khó lòng ngờ vực kẻ đã nhẵn mặt vì thua tha.
Đỡ anh vợ dậy, Lãng lục túi thô lấy ra quả chuông đồng nhỏ nhặt từ bãi phế liệu xưởng Kẻ Sắt, đặt vào lòng bàn tay dính mồ hôi của y:
“Nhớ kỹ, giấu trong tay áo.
Khi nào thấy kho chứa sắt lậu, nấp chỗ khuất lắc ba tiếng dồn, nín thở một nhịp, rồi rung tiếp hai tiếng.
Ta và cánh thợ sẽ phục ở mé sông.
Kế hoạch này gọi là 'bản thử nghiệm số một', anh phải giữ đầu thật lạnh, hỏng một nhịp là không có cơ hội vá lỗi đâu.”
Trọng Đạt nuốt nước bọt, gật đầu lia lịa rồi giấu quả chuông đi.
Chập tối, bến Lục Đầu mịt mùng mưa phùn.
Nấp sau rặng sậy ven lạch nước, Lãng căng mắt nhìn theo bóng Trọng Đạt tiến về căn nhà sàn sáng đuốc của sòng bạc Lý Hắc.
Hai bắp chân y run lên bần bật như cầy sấy khi chạm mặt lũ canh cổng bặm trợn, rồi bị xốc nách lôi tuột vào trong.
Thời gian trôi nặng nề.
Lãng siết chặt thanh đoản côn gỗ nghiến, lòng bồn chồn.
Chừng nửa canh giờ sau, cửa ngách hé mở.
Trọng Đạt bị một tên gác cầm đuốc dẫn đi men theo đường mòn lầy lội, hướng thẳng về doi đất hoang cuối bến — nơi chỉ có bãi sậy ngập mặn và lán trại bỏ hoang.
Trọng Đạt loạng choạng bước đi nhưng mắt dường như đảo quanh ghi nhớ từng khúc rẽ.
Đợi gã cầm đuốc khuất bóng sau rặng dừa nước che dãy nhà kho nửa chìm nửa nổi lợp kín lá khô, từ khoảng tối bỗng vang lên chuỗi âm thanh mảnh như sợi chỉ: *keng… keng… keng…* Ngừng một nhịp thở.
Rồi tiếp tục: *keng… keng…*
Tiếng đồng giòn tan xé toang màn mưa lạnh.
Lãng nheo mắt nhìn về phía doi đất hoang, khẽ thở hắt ra làn khói mỏng.
Kho chứa sắt của Lý Hắc đã hiện nguyên hình.
Tiếng chuông vừa dứt, Lãng lập tức phất tay ra hiệu.
Từ các lùm sậy rậm rạp ven lạch, bóng người túa ra như nước vỡ bờ.
Hơn hai chục lính phủ của An phủ sứ Vũ Thế Khâm giáo dài tuốt trần cùng cánh thợ rèn Kẻ Sắt lăm lăm đòn gánh, búa tạ xông lên.
Tiếng bước chân bì bõm đạp nát bùn lầy xé toạc màn đêm thanh vắng.
Lãng nép mình đi sau một người lính to con, tim đập thình thịch trong lồng ngực.
Cánh cửa gỗ ọp ẹp của căn nhà kho bị một cú đạp trời giáng phá tung, đổ ầm xuống nền đất ướt nhão.
Ánh đuốc từ bên ngoài tràn vào, nhuộm đỏ rực không gian ẩm mốc bên trong.
“Bắt hết cho ta!
Kẻ nào chống cự chém không tha!” Viên đội trưởng lính phủ gầm lên.
Bên trong kho náo loạn.
Đám đàn em của Lý Hắc hoảng hốt vớ gậy gộc, đoản đao, nhưng trước rừng giáo sắc và thế áp đảo, vài tên đã run rẩy vứt vũ khí xin hàng.
Ở góc kho, Lý Hắc đứng sững bên đống thùng gỗ.
Ánh mắt xảo quyệt của gã quét qua, dừng lại ở Trọng Đạt đang co ro nép cạnh cánh cửa sổ.
Mặt gã tím bầm lại vì giận dữ:
“Đồ súc sinh phản phúc!”
Lý Hắc gầm lên, rút phắt thanh dao găm sáng loáng giấu trong cạp quần.
Bằng cú chồm người hung hãn, gã lao thẳng về phía Trọng Đạt.
Lưỡi dao nhọn hoắt xé gió nhắm thẳng ngực công tử họ Vũ.
Trọng Đạt trố mắt, hai chân như chôn chặt xuống bùn đất, dường như sợ hãi đến mức chẳng buồn né tránh.
“Coi chừng!” Lãng hét lên, theo bản năng toan lao tới nhưng khoảng cách quá xa.
Chợt một bóng người vụt qua trước mắt Lãng.
Mai Đào từ mạn sườn lướt tới, tà áo thợ nhuộm chàm bay phần phật.
Nàng không dùng lưỡi sắt mà vung ngang chiếc cán búa dài bằng gỗ nghiến, giáng thẳng một đòn hiểm hóc trúng khớp gối Lý Hắc.
Gã chủ sòng bạc rú lên đau đớn, mũi dao chém hụt vào mép cột gỗ sạt qua vai Trọng Đạt.
Chưa kịp gượng dậy, gã đã bị nàng bồi thêm cú quét cán búa vào sau gáy.
Lý Hắc loạng choạng rồi ngã úp mặt xuống sàn đất lầy lội.
Ngay lập tức, ba mũi giáo của lính phủ đồng loạt chĩa thẳng vào lưng, khóa chặt mọi đường cựa quậy.
Trọng Đạt trượt lưng xuống vách gỗ, thở dốc từng cơn ngắt quãng, trán vã mồ hôi như tắm, ánh mắt nhìn Mai Đào đầy vẻ kinh hồn bạt vía xen lẫn hàm ơn.
Lãng thở phào một hơi dài, vuốt vội những giọt nước mưa bám trên mi mắt rồi nhìn quanh.
Dưới ánh sáng bập bùng của hàng chục ngọn đuốc, quang cảnh bên trong nhà kho khiến anh không khỏi rùng mình.
Mùi hắc ín nồng nặc bốc lên từ những bao tải thô chất kín bốn bề.
Từng bó sắt dài rèn kỹ cùng hàng trăm lưỡi cày gang đã bị bẻ rời, được bọc cẩn thận trong vải gai tẩm dầu rái và hắc ín để chống hơi muối biển ăn mòn.
Chúng được xếp ngay ngắn, lớp lớp tầng tầng, chất cao vượt đầu người, chạm tới tận xà nhà lợp lá khô.
Quy mô số sắt này đủ để trang bị vũ khí cho cả một đạo quân tiên phong.
Lý Hắc quả nhiên không chỉ buôn vụn vặt, mà đang dốc toàn lực tích trữ để tuồn ra biển lớn.
Ánh đuốc bập bùng hắt lên gương mặt sạm đen giận dữ của An phủ sứ Vũ Thế Khâm.
Ông chắp tay sau lưng, bước qua những chồng sắt bao bọc kín mít, rồi dừng lại trước mũi giày, nơi Lý Hắc bị hai tên lính đè nghiến cổ xuống bùn lầy.
“Nói!
Số sắt này chở đi đâu?
Tấm bản đồ luồng lạch giấu ở chỗ nào?” Giọng Vũ Thế Khâm trầm đục nhưng sắc lạnh như lưỡi dao cạo.
Lý Hắc ho sù sụ, nhổ ra một búng nước bọt lẫn máu, giọng khàn đặc:
“Muộn... muộn cả rồi...
Tấm da cừu thật...
Quách Sùng đã dong thuyền ra khơi từ đêm trước, chở theo hải đồ và tin tức luồng lạch đi đón đại quân phương Bắc rồi...
Lũ các người cứ đợi ngày nạp mạng...”
Tiếng xì xào kinh hãi rộ lên trong đám lính.
Đinh Lãng đứng nép sau lưng một người thợ rèn to con, trong lòng thắt lại.
Quả nhiên tấm bản đồ gốc đã rơi vào tay giặc; hải trình hiểm yếu mạn Vân Đồn coi như đã bị phơi bày trước mũi thuyền Ô Mã Nhi.
Vũ Thế Khâm nghiến răng quát lính trói chặt Lý Hắc lôi đi.
Đợi đám đông tản bớt để khiêng dỡ tang vật, Lãng mới rón rén bước lại gần cha vợ, kéo sụp nón lá xuống thấp hơn:
“Thưa nhạc phụ...”
Vũ Thế Khâm quay phắt lại, đôi mày nhíu chặt nhìn chàng rể vẫn giữ bộ dạng lấm lem, khúm núm:
“Ngươi còn muốn nói gì?”
“Vụ phá kho sắt lậu này...” Lãng nuốt nước bọt, xua tay lia lịa như sợ vạ lây, “con chỉ là chân sai vặt chạy việc ngoài rìa.
Xin cha khi viết tờ trình dâng lên triều đình... tuyệt đối đừng ghi nửa chữ nào có tên con.
Cứ để công lao ấy cho nha môn lộ Hồng, hương dũng và... cho huynh Trọng Đạt.”
Vũ Thế Khâm nheo mắt nhìn Lãng trừng trừng, ánh nhìn dường như vừa dò xét vừa khó hiểu trước cái thói sợ gánh công trạng kỳ quặc của anh.
Cuối cùng, ông khẽ gật đầu, hừ mũi một tiếng trong cổ họng.
Ánh mắt quan An phủ sứ dời sang góc kho, nơi Trọng Đạt vẫn đang ngồi bệt dưới đất.
Vạt áo chàng công tử rách toạc, vai rớm máu sau cú chém sượt của Lý Hắc, cả người run rẩy vì lạnh và bùn nhão bám đầy.
Lãng thấy bước chân Vũ Thế Khâm chậm lại khi tiến về phía con trai.
Đôi mắt nghiêm khắc quanh năm chỉ chực bốc hỏa mỗi lần nhìn thấy đứa con giờ đây lặng đi, phẳng lặng như nước hồ mùa đông, không còn tia nhìn khinh bỉ ghê tởm thường ngày.
Ông đưa bàn tay gầy guộc vỗ nhẹ lên vai Trọng Đạt một cái khô khốc, rồi cởi phăng chiếc áo choàng nhung ném phủ lên tấm lưng đang run bắn của y.
Trọng Đạt ngẩng phắt lên, hai hốc mắt đỏ hoe, môi mấp máy nhưng không thốt nên lời.
Đúng lúc ấy, từ phía bờ sông bỗng vang lên tiếng móng ngựa dồn dập xé toạc màn mưa phùn buốt giá.
Một kỵ mã phu trạm mình đẫm bùn đất lao thốc vào bến, chiếc cờ lệnh đỏ thắm cắm sau lưng bay phần phật, giọng thét thất thanh vang động cả bến Lục Đầu:
“Cấp báo!
Cấp báo!
Thác Đao trại thất thủ!
Thoát Hoan, Ô Mã Nhi đã xua năm mươi vạn quân tràn qua ải Nam Quan!
Giặc đã kéo đến biên giới!”
Mọi thanh âm trong kho sắt bỗng chốc lặng ngắt như tờ.
Lãng ngước nhìn bầu trời phương Bắc mịt mùng mây xám.
Gió lạnh cuối năm Đinh Hợi thổi thốc qua rặng sậy, mang theo mùi tanh nồng của khói lửa chiến tranh đang ùn ùn kéo tới.