Chương 17·16 phút đọc

Một mùa yên bình ngắn ngủi

✻

Đầu năm 1286, tiếng nước gầm gừ mé bờ sông Lục Đầu nghe vui tai hơn bất kỳ điệu hát nào ở Thăng Long.

Con kênh dẫn dòng chảy xiết qua guồng gỗ lim mười hai thước, trục nghiến bọc đai sắt chuyển động chậm rãi nhưng đầy sức nặng.

Hai chiếc búa máy nặng trịch thay nhau nện xuống đe chan chát, dập phẳng phôi sắt chỉ trong mươi nhịp thở.

Sau trận cháy năm ngoái, xưởng Kẻ Sắt mọc lại rộng gấp ba, tiếng búa nước dội vang khắp triền bãi.

Đinh Lãng đứng trên bục gỗ, vạt áo chàm bám đầy bụi than.

Trước mặt anh không chỉ có thợ làng Kẻ Sắt, mà còn có hơn ba chục tay búa từ các xóm lò quanh lộ Hồng tụ về.

Anh gõ chiếc thước gỗ vào tấm bảng quét vôi:

“Tôi thép không phải chuyện may rủi khấn vái!

Trông sắc thép đỏ như quả nhót chín cây thì nhúng nước một chớp mắt, rồi vùi ngay vào tro trấu ủ ấm.

Nhưng cốt tủy là cuốn này.”

Lãng giơ cao cuốn sổ giấy bản dán gáy chỉ gai:

“Mỗi mẻ lò thổi mấy khắc, than củi loại gì, nhúng nước giếng hay nước suối, gõ hỏng mấy cây đinh... đều phải vạch mực ghi rõ.

Gọi là sổ nhật trình, thợ xứ Tây gọi là 'lốc'.

Đừng cậy trí nhớ, đầu óc người ta chỉ nhớ được bát cơm với món nợ, không nhớ nổi độ già của ba trăm mẻ thép đâu!”

Đám thợ trố mắt nhìn.

Chữ bẻ đôi chưa biết, nhưng nhìn búa nước đập dẹp thỏi sắt mà không cần bốn lực điền phồng mang quai búa tạ, chẳng ai dám cãi nửa lời.

Đứng tựa cột lò cái, lão Mai Cả vân vê chòm râu cháy xém, lầm bầm:

“Vẽ chuyện...

Nghề tổ tông truyền kín lại lôi ra giữa bàn dân thiên hạ.

Bắt thợ rèn cầm bút lông, khéo có ngày búa rơi vào chân.”

Càu nhàu thế, nhưng khi ngọn lửa trong buồng quạt bốc lên sắc lam lấp lánh, lão lại hắng giọng thật to, gạt tàn tro rồi khoát tay gọi đám thợ làng ngoài:

“Đứng xúm lại mà dòm!

Sắc rực như mắt cọp thế này mới được đút quặng.

Nhìn cho kỹ một lần, sau lò nhà đứa nào làm ra sắt giòn thì đừng vác mặt về Kẻ Sắt ăn vạ!”

Đó là lần đầu tiên lão thợ già mở cửa lò bí truyền.

Giặc dữ lăm le trở lại ngoài cõi, giữ khư khư một xó thì cả làng cũng thành tro.

Cách đó vài bước, Mai Đào thoăn thoắt gắp từng phôi sắt đỏ nhúng vào chậu nước lạnh, khói bốc xèo xèo.

Chiếc yếm thô chẽn chặt để lộ vết sẹo dài màu hồng sẫm nơi bả vai trái—dấu tích mũi tên tuần tiễu Nguyên năm trước.

Thấy Lãng nhìn chăm chăm, Đào không kéo áo che, ngược lại còn nhướng mày cười, giọng sang sảng át tiếng guồng nước:

“Nhìn gì thế anh rể?

Thẹo này đẹp đấy chứ.

Huân chương không ai phát, tôi tự mang!”

Trời chập choạng tối, cỗ xe ngựa phủ màn the xanh đưa An phủ sứ Vũ Thế Khâm về tới lỵ sở lộ Hồng.

Khi ông bước xuống hiên, râu tóc đượm bụi đường trường, dáng đi dường như nặng trĩu hơn hẳn dạo trước trận Tây Kết.

Vừa cởi chiếc mũ cánh chuồn trao cho gia nhân, ông đã ngoắc tay gọi Lãng vào thư phòng, nét mặt nghiêm lại như trước một cơn dông.

“Triều đình vừa nhận thám báo từ phương Bắc,” Vũ Thế Khâm hạ giọng, mắt nhìn đăm đăm vào ngọn bấc lay lắt trên đĩa dầu lạc.

“Hốt Tất Liệt hay tin Toa Đô đền tội, Thoát Hoan trốn về nước thì nổi trận lôi đình.

Hắn đã hạ chiếu bãi việc đánh Oa Tiêu...”

“Bãi đánh Nhật Bản sao cha?” Lãng chêm vào, vờ như ngạc nhiên hỏi đón.

“Chính là thế.

Toàn bộ quân lính, thuyền bè, quân lương dự định vượt biển đánh xứ lùn ấy, giặc đang dồn hết về các đạo phía nam.

Lần này chúng quyết rửa hận.” Vũ Thế Khâm thở dài một tiếng sườn sượt, ngón tay gõ nhịp rời rạc xuống mặt bàn gỗ trắc.

“Thượng hoàng cùng Quan gia đã ban lệnh khẩn cho các lộ.

Vạn Kiếp ngày đêm luyện thủy binh, Thăng Long rục rịch tuyển thêm đinh tráng, hạ lệnh xưởng quan dốc sức đóng thuyền đinh sắt, rèn thêm giáo mác.

Đất nước mới thở được non một năm...”

Lãng im lặng lắng nghe, lòng chùng xuống như đeo đá tảng.

Ký ức về những trang sử sách đời sau hiện lên mồn một: cuối năm Đinh Hợi tới đây, ngót ba mươi vạn quân của Thoát Hoan, Ô Mã Nhi và đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ sẽ lại rầm rộ tràn qua biên giới.

Mùa yên bình này ngắn ngủi đến tàn nhẫn, chỉ vỏn vẹn hai năm để gom từng mảnh sắt, từng khúc gỗ.

Thấy cha vợ trầm ngâm day trán đầy âu lo, Lãng bước tới châm thêm một chén trà nóng, rồi khẽ khàng thưa:

“Bẩm cha, giặc đông thuyền lớn, quân ta muốn cản bước chúng trên sông nước thì đinh thuyền, móc sắt xích neo không thể thiếu.

Lò Kẻ Sắt vừa dựng xong guồng nước, sức rèn gấp năm bấy nay, nhưng than gỗ gom đủ mà quặng lại cạn kiệt.

Con tính xin quan phủ cấp cho một tờ công văn đặc chuẩn, cho phép xưởng được mua thêm quặng từ các mỏ trên mạn ngược chuyển về, bao nhiêu Kẻ Sắt cũng nhận.”

Vũ Thế Khâm ngẩng lên, ánh mắt soi mói nhìn chàng rể ở rể một lúc lâu.

Dường như ông thoáng ngạc nhiên trước vẻ điềm tĩnh khác thường của anh, rồi gật đầu cái rụp:

“Được.

Việc quân không thể chậm trễ.

Mai ta sẽ bảo nha lại đóng dấu quan phòng cho con.

Cần bao nhiêu quặng cứ việc mua, lộ Hồng sẽ bảo lãnh.”

Gió biển Vân Đồn mặn chát và lồng lộng, thốc qua những cột buồm san sát của đám thuyền buôn đến từ Chiêm Thành, Tống triều và cả những xứ xa lạ ngoài biển Đông.

Đinh Lãng xách tay nải bước xuống cầu tàu, mắt đảo quanh tìm thuyền của nhà họ Hà giữa bến nước nhấp nhô.

Không cần tìm lâu, một chiếc thuyền hai cột buồm lướt tới, lườn thon vút bọc đồng sáng loáng.

Mũi thuyền sơn son thiếp vàng nổi bật chữ “Liên” vuông vắn, kiêu hãnh rẽ sóng cập sát mép đá.

Đứng bên bánh lái không phải lão lái buôn nào, mà là một bóng áo lụa xanh biếc dải thắt lưng da.

Hà Thanh Liên một tay giữ lái, một tay khoát lệnh cho thủy thủ quăng dây buộc cọc, phong thái dứt khoát chẳng kém gì các tay trùm thuyền gạo cội.

Vừa thấy Lãng bước tới, nàng buông lái nhảy thoăn thoắt xuống mạn, khóe môi khẽ nhếch:

“Cứ ngỡ chàng rể họ Vũ mải đúc đinh ở bến Lục Đầu mà quên lối ra biển rồi chứ?”

“Quên sao được người có mối quặng tốt nhất cõi này,” Lãng cười xòa, chìa tờ biên nhận ra.

“Tôi cần ba mươi thuyền quặng sắt mỏ nam loại một.

Giá cả tính như trước, trừ đi phần dao quắm với lưỡi cuốc Kẻ Sắt bù vào.”

Thanh Liên liếc nhìn tờ giấy, ngón tay gõ nhịp lên chuôi đoản đao bên hông:

“Tính như trước?

Chàng đùa đấy à?

Bên Tống giặc Nguyên xiết đường biển, quặng sắt giờ quý hơn bạc vụn.

Lấy hàng của tôi, giá tăng thêm hai phần mười, trả bằng tiền đồng hoặc thỏi bạc.”

“Tăng hai phần mười thì lò tôi đi ăn mày!” Lãng trợn mắt, bắt đầu trổ ngón trả giá của một gã từng lùng mua linh kiện chợ trời.

“Một phần mười là kịch kim.

Đổi lại, xưởng Kẻ Sắt sẽ ưu tiên toàn bộ đinh chống hà và móc neo bằng thép tôi hai lần cho đội thuyền của nàng.”

Hai người giằng co từng cân quặng, từng xâu tiền ngay trên sàn gỗ ướt nước mặn.

Thanh Liên sắc sảo như dao cạo, còn Lãng dai như đỉa đói.

Cuối cùng, nàng khoanh tay, mắt đen láy nheo lại đắc ý:

“Thôi được.

Giá giữ nguyên, nhưng tôi không bán đứt đoạn.

Tôi muốn lấy tiền mua quặng làm vốn góp vào xưởng.

Tôi là đối tác góp vốn, chịu trách nhiệm chở quặng vào và chuyển hàng sắt ra biển bán.

Lời ăn lỗ chịu, ăn chia sòng phẳng trên sổ sách.”

Lãng trố mắt nhìn nàng, trong đầu lập tức hiện lên gương mặt sắc sảo của Diệu Hoa ở nhà.

Chưa kịp nghĩ kế thoái thác, một bàn tay hộ pháp đã nắm chặt cổ tay anh lôi xềnh xệch ra sau đống hòm xiềng.

Hà Bá Thông đứng tựa lưng vào kiện hàng hương liệu, râu xồm xoàm, mắt trừng trừng nhìn Lãng như kẻ trộm trâu.

Ông ta hạ giọng ồm ồm, nồng nặc mùi rượu nếp:

“Mặc cả xong chưa?

Giờ tới lượt ta hỏi việc nhà.

Này cậu rể, con Liên nhà ta vì cậu mà ngày đêm đòi tự cầm lái chạy thuyền gom quặng cho xưởng Kẻ Sắt.

Cậu tính chừng nào mới dứt khoát chuyện nạp nó vào cửa, hả?”

Lãng giật thót, mồ hôi sau gáy lập tức túa ra ướt đẫm cổ áo.

Tiếng hò hét mé cầu cảng cắt ngang câu hỏi của lão Hà, cứu Lãng một bàn thua trông thấy.

Anh vội lùi ra bến, ngồi thụp bên đống xỉ than, vờ vác búa nguội gõ chan chát vào chiếc ngạnh neo toác của một thuyền khách để trốn.

Toán quân tuần rầm rộ kéo tới, dẫn đầu là một viên tướng vạm vỡ khoác tấm áo the rách mép bốc mùi cá khô nồng nặc, tay lăm lăm ngọn roi da.

Phó tướng Trần Khánh Dư vừa sải bước vừa quát tháo sang sảng:

“Quân gian thương chúng mày!

Gạo ba mươi bao khai mười, gỗ thiết sam giấu đáy lườn lại dán nhãn củi mục để trốn thuế hả?

Tịch thu sạch cho ta!

Thằng nào dám cãi, trói gô quẳng xuống bãi cọc cho hà xé xác!”

Đám lái buôn sụp lạy như tế sao.

Ánh mắt sắc lẻm của vị phó tướng đảo quanh, chợt dừng lại trước chỗ Lãng.

Mũi ủng dính bùn dẫm lên cán búa tạ, ngài cúi soi vết vá ngạnh neo vừa ghè phẳng, giọng ồm ồm như chuông đồng:

“Tay thợ này ở đâu dạt tới?

Miếng ghép rèn ngạnh mang cá lồng sắt non ghè chặt... khéo tay đấy.

Mày tên họ là gì, thuộc xưởng nào?”

Tim Lãng giật thót.

Sợ bị ghi tên vào sổ quân nhu rồi làm lệch dòng sử, anh vội co rúm vai, cúi gằm mặt lấm lét đáp:

“Bẩm... bẩm quan lớn, con là thợ Tèo, con mọn ở xóm Lò làng Kẻ Sắt, dạt ra đây vá neo kiếm bát cháo ăn qua ngày thôi ạ!”

Tựa mạn thuyền cách đó mấy trượng, Thanh Liên vội lấy vạt áo lụa bịt miệng quay đi.

Hai vai nàng run lên bần bật, nhịn cười đến mức nước mắt trào ra khóe mi.

Trần Khánh Dư hừ nhạt một tiếng, lấy roi gõ nhẹ vào chiếc neo rồi rảo bước tiếp, chẳng buồn để tâm thêm.

Đêm ấy, gió ngoài vịnh thổi thốc vào mạn thuyền buốt lạnh.

Dưới khoang con thuyền sơn chữ “Liên”, chỉ có ngọn đèn dầu lạc lay lắt giữa hai người.

Thanh Liên rót cho Lãng chén rượu sim rừng nghi ngút khói.

Nụ cười cợt nhả ban chiều đã biến mất, chỉ còn lại ánh mắt kiên định lạ lùng:

“Chàng giấu mình kỹ lắm, 'thợ Tèo' ạ.

Nhưng giông bão ngoài kia thì không giấu được đâu.

Thuyền chiến Ô Mã Nhi bên bờ bắc đang chực tràn xuống, chuyến này chúng sang sẽ không chỉ có đao kiếm.

Mạng lưới thuyền buôn, hoa tiêu, tin tức khắp các lạch biển mà tôi gây dựng bao năm qua không phải chỉ để cân từng lạng quặng kiếm lời.

Cứ tin ở tôi, mạng lưới ấy sẵn sàng đem ra dùng trọn vẹn, cùng chàng giữ lấy dải biển này cho Đại Việt.”

Gian kho chứa quặng sau xưởng Kẻ Sắt chỉ lọt vài vệt nắng chiều vàng vọt qua khe liếp.

Giữa sàn gỗ kê chiếc bàn thấp, hai người đàn bà ngồi đối diện nhau.

Đinh Lãng ngồi xổm sau đống than củi lim góc nhà, hai tay ôm gối, nín thở hé mắt nhìn qua kẽ sọt than.

Vũ Diệu Hoa trải rộng cuốn sổ bọc da dê, ngón tay thoăn thoắt gạt từng hạt bàn tính bằng gỗ trắc dứt khoát.

Nàng miết mép giấy, mắt rà từng hàng chữ mang từ Vân Đồn về, khóe môi khẽ nhếch:

“Ba mươi thuyền quặng đổi lấy quyền độc quyền phân phối đinh bọc đồng và xích neo dọc duyên hải, lại đòi chia hai phần mười lãi ròng mỗi quý.

Con buôn họ Hà tính nước cờ sắc đấy.

Nhưng tính cả cước vận tải lẫn rủi ro bão gió và giặc quấy... phần vốn bằng quặng ấy chỉ đáng tám phần mười những gì nàng ta khoe.”

Mai Đào ngồi vắt chân trên phản, tay vẫn cầm giũa mài sắc mũi dùi thép.

Nghe chuyện tiền bạc, nàng chẳng buồn liếc cuốn sổ, chỉ cất giọng cộc lốc:

“Tôi chẳng hiểu mấy trò sổ sách lời lãi.

Tôi chỉ muốn biết: con bé ấy có gan không?”

Diệu Hoa dừng tay tính, bình thản hỏi:

“Có gan thì sao mà không gan thì sao?”

“Không có gan thì thuyền quặng vừa thấy cờ giặc Nguyên đã quẳng hàng nhảy xuống biển, lò Kẻ Sắt lấy gì thổi lửa?” Đào gõ mạnh chiếc dùi xuống mặt gỗ.

“Nếu dám một mình cầm lái vượt sóng ngầm giữ quặng cho lò này rèn giáo mác, nó đòi ba phần lãi tôi cũng ừ.

Còn hạng chỉ biết ngồi khoang gấm đếm tiền thì một xu cũng cút.”

Diệu Hoa khẽ mỉm cười, một nụ cười hiếm hoi có phần tán đồng.

Nàng gập cuốn sổ cái lại cái rụp:

“Nghe nói nàng ta dám tự tay giật lái qua mặt thuyền tuần của Trần phó tướng.

Gan thì chắc không thiếu.

Mối này tạm thời chấp nhận.

Cứ để xem nàng ta chở nổi mớ quặng đầu tiên về bến hay không đã.”

“Ừ, cứ để xem.” Đào gật đầu đồng tình.

Gian kho bỗng rơi vào khoảng lặng ngột ngạt.

Lãng thầm cầu trời cho hai người mau đứng dậy bước ra ngoài.

Nhưng như hẹn trước, cả Diệu Hoa lẫn Mai Đào cùng xoay phắt lại, bốn con mắt bén ngót đồng loạt găm thẳng vào đống than nơi anh đang co ro.

“Nấp đủ chưa?” Diệu Hoa lạnh lùng cất tiếng.

“Ra đây, anh rể,” Đào nhếch mép, giơ chiếc dùi thép sáng loáng lên vẫy vẫy.

“Định ngồi đấy đến bao giờ để người ta tính chuyện nạp thiếp cho anh?”

Lãng nuốt nước bọt cái ực, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm cả lưng áo.

Cứu nguy cho Lãng khỏi ánh mắt sắc như dao của hai người đàn bà là tiếng bước chân dồn dập cùng tiếng thở hồng hộc ngoài bến.

Một gã kình đinh ngực trần ướt sũng, bùn đất bết từ bắp chân lên tận mang tai, hớt hải lao xộc vào gian kho.

Trên tay gã cầm một ống nứa chét sáp đỏ tươi—loại sáp ong pha phẩm cánh kiến đặc trưng của nhà họ Hà, mặt niêm hằn rõ dấu một cánh sen lộn ngược.

“Thư... thư hỏa tốc của cô Liên!” Gã phu trạm thở không ra hơi, chìa ống nứa về phía Lãng.

“Cô dặn phải trao tận tay anh Lãng, không qua tay bất kỳ nha lại hay lái buôn nào!”

Diệu Hoa thu lại ánh mắt sắc lẹm, khẽ lùi lại một bước nhường chỗ cho chồng.

Mai Đào cũng buông chiếc dùi thép xuống đe, vẻ mặt cợt nhả ban nãy lập tức biến mất, thay vào đó là sự căng thẳng quen thuộc của người vừa bước qua khói lửa trận mạc.

Lãng vội đón lấy ống nứa, dùng móng tay cạy vỡ lớp sáp, rút ra dải lụa mỏng cuộn chặt.

Chữ viết trên lụa nghiêng lệch và nguệch ngoạc, nét mực chỗ đậm chỗ nhạt, dường như được viết rất vội vàng dưới ánh đèn leo lét trên mặt sàn chao đảo vì sóng dữ.

* “Chàng thợ!

Đêm qua, giờ Tý, thuyền tôi nấp gió sau rạn đá phía đông Vân Đồn thì gặp biến.

Trời tối như hũ nút, không trăng không sao.

Tôi tận mắt thấy chiếc thuyền buôn ba cột buồm của Quách Sùng tắt hết đèn lồng, lén lút thả neo ở vùng nước sâu ngoài lạch.

Chỉ một khắc sau, một con thuyền lớn từ ngoài khơi xa áp sát mạn.

Thuyền ấy lườn đen trũi, không giương cờ hiệu, cũng chẳng thắp đuốc hoa tiêu.

Hai bên không một tiếng hò reo, chỉ dùng dây thừng chuyền nhau từng bó sắt dài nặng trịch, bọc kín trong bao tải gai tẩm hắc ín.

Đếm sơ qua cũng ngót nghét vài chục bó, thuyền buôn của Quách Sùng chìm sâu thêm cả gang tay nước rồi lập tức quay mũi nhổ neo xé màn đêm mà đi.

Biển động dữ dội rồi, liệu bề mà tính.”*

Lãng nắm chặt dải lụa trong lòng bàn tay, các khớp ngón tay trắng bệch.

Triều đình đang phong tỏa đường biển, kiểm soát từng cân đồng ngọn sắt để dồn sức đóng chiến thuyền, rèn gươm giáo chuẩn bị đón giặc.

Ngay cả lò Kẻ Sắt muốn mua thêm quặng cũng phải có công văn quan phòng của An phủ sứ bảo lãnh.

Vậy mà giữa lúc nước sôi lửa bỏng này, thương nhân lớn nhất nhì bến Vân Đồn lại lén lút nhận từng bó sắt từ một bóng ma không cờ hiệu ngoài biển khơi mịt mùng.

Gió từ mé sông Lục Đầu thốc qua khe liếp, mang theo hơi nước lạnh buốt.

Lãng nhìn ra bến sông ngoài kia, dường như ngửi thấy mùi tanh nồng của sóng gió phương Bắc đang âm thầm kéo tới bủa vây dải biển Đại Việt.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Đốt Cháy

    113 chương

  2. Có audio

    Dung Túng Em Kiêu Kỳ

    93 chương

  3. Xuyên Thành Nữ Phụ Truyện Cao H

    548 chương

  4. Khom Lưng

    171 chương

  5. Hệ Thống Bắt Tôi Làm Cá Ướp Muối Trong Truyện Ngược

    205 chương

  6. Đối Tượng Kết Hôn Của Tôi Lắm Mưu Nhiều Kế

    64 chương

Bình luận chương