Sương đêm giăng kín mặt sông Hồng.
Ba chiếc thuyền nan chở nặng từng bó tên ba khía bọc rơm, thùng đinh đỉa và móc sắt, mớn nước lút gần sát mạn.
Tôi ngồi ở khoang giữa, hai tay bám chặt be thuyền, mắt căng ra dò từng vệt lau sậy.
Phía sau, Trọng Đạt nghiến răng khua mái chèo; đôi bàn tay công tử quen cầm quạt nay phồng rộp, rướm máu bám chặt cán gỗ, nhưng tuyệt nhiên anh ta không dám hé một lời than vãn.
Đứng ở mũi thuyền là Mai Đào.
Nàng quấn khăn chàm gọn gàng, một tay chống sào, dáng đứng vững chãi như cây lim mọc thẳng giữa dòng.
Mỗi nhịp nàng hạ sào đẩy nhẹ, chiếc thuyền lại rẽ làn sương trôi êm ru, không gợn một tiếng động thừa.
Đến bãi bồi hạ lưu, ánh lửa mờ từ ngọn đèn lồng bọc vải thưa chớp ba nhịp bên mép nước.
Mai Đào lập tức gõ ba tiếng cắc cắc vào be thuyền đáp lại.
Thuyền chúng tôi trượt êm vào doi cát.
Bóng người túa ra từ rặng sậy, đông nhưng trật tự đến lạnh người.
Những người lính áo chẽn, bắp tay cuồn cuộn thích hai chữ “Sát Thát” đen thẫm, lập tức ùa xuống lội nước khuân vác các kiện hàng.
Không khí sực mùi bùn ướt, mồ hôi và sắt lạnh.
Ngẩng nhìn lên triền đê, tim tôi bỗng giật thót, đập dồn dập trong lồng ngực.
Giữa rừng đuốc được che chắn chỉ hắt sáng xuống chân, những ngọn cờ đuôi nheo bay phần phật trong gió sông.
Ở hàng trung quân là cờ hiệu của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải — vị tướng cầm đầu chiến dịch phản công mà sử sách đời sau ca tụng.
Nhưng làm tôi nghẹn thở hơn cả là thoáng thấy ở rìa cánh quân tiếp ứng một lá cờ đỏ thêu sáu chữ thếp vàng quen thuộc: * “Phá cường địch, báo hoàng ân”*.
Người cầm cờ còn rất trẻ, dáng vóc thiếu niên hiên ngang giữa đám tráng sĩ.
Tôi như nín thở.
Lịch sử bằng xương bằng thịt đang đứng cách tôi chỉ vài chục bước chân, sống động và rực lửa đến mức gáy tôi nổi gai ốc.
“Ai là người chịu trách nhiệm giao số tên đúc thép này?”
Một viên lại dịch mặc áo nẹp sắt, tay cầm thẻ tre và bút lông bước sát mép nước, cất giọng trầm đục hỏi dồn.
Ông ta liếc nhìn những bó tên ba khía, mắt sáng lên vẻ kinh ngạc:
“Số tên này tôi cứng hơn hẳn tên thường, lại nhẹ đuôi.
Tướng quân dặn phải ghi rõ họ tên phường thợ, chủ lò để sau khi phá giặc còn tâu lên triều đình nghị thưởng.”
Tôi hoảng hồn.
Cái “luật cánh bướm” lập tức réo ầm trong óc.
Ghi tên Đinh Lãng vào sổ quân lương ư?
Để sau này người ta đọc thấy một gã rể hư mang bằng kỹ sư chưa tốt nghiệp dính líu vào trận phục kích Chương Dương chắc?
Tuyệt đối không.
Tôi vội kéo sụp vành nón mê che nửa mặt, vai rụt lại, bóp méo giọng cho the thé như phu thuyền vùng hạ lưu:
“Dạ… bẩm quan bác, thảo dân chỉ là thợ rèn mướn đưa đò thôi ạ.
Chủ lò dặn chở tới giao đủ thẻ là xong việc.
Tên con là thợ Tèo, ở xóm Lò làng Kẻ Sắt.
Quan bác cứ ghi là thợ Tèo, hay dân phu lộ Hồng giao nộp là được rồi ạ!
Giặc sắp đến mông rồi, các bác cho bốc hàng nhanh kẻo lỡ con nước!”
Viên lại dịch ngẩn ra nhìn tôi, định gặng hỏi thêm nhưng tiếng quát đốc thúc dỡ hàng phía sau đã cắt ngang.
Mai Đào bên kia mạn thuyền liếc nhìn tôi, khóe môi khẽ giật giật như muốn mắng mà đành nhịn xuống.
Khoang thuyền nhẹ bẫng sau khi dỡ hết hàng, chiếc thuyền nan rẽ sương ngược dòng trở về.
Trời tang tảng sáng, mặt sông xám ngoét và buốt lạnh.
Tôi ngồi thu lu trong lòng thuyền, vừa thở phào vì đã trót lọt tống cái tên “thợ Tèo” vào sổ quân lương thì từ màn sương mờ bên tả ngạn, một chiếc thuyền chiến đột ngột xé nước lao ra.
Mũi thuyền khắc đầu sói sơn đen, sàn le lói mấy ngọn đuốc da bò — thuyền tuần tiễu của giặc Nguyên!
Chưa kịp định thần, một tiếng thét lơ lớ vang lên, tiếp theo là tiếng dây cung bật tanh tách như mưa rào.
“Cúi xuống!”
Tiếng Mai Đào hét giật ngược.
Tôi chưa kịp rụt cổ thì tên nhọn đã cắm phầm phập vào be thuyền, rách toạc cả nẹp tre.
Một mũi sượt sát vành tai, gió rít buốt gáy.
Giữa lúc tôi đờ đẫn, một bóng đen ập tới đè nghiến lấy tôi.
Mùi mồ hôi quyện mùi bồ kết thân thuộc xộc vào mũi — Đào lấy trọn lưng mình chắn trước mặt tôi.
*Phập!*
Âm thanh nặng trịch cắm vào da thịt.
Bờ vai nàng giật thót rồi đổ sụp xuống.
Đào cắn chặt môi đến bật máu, không kêu nửa lời, nhưng bàn tay ghì cổ áo tôi mềm oặt đi.
Tôi quờ tay lên vai nàng, lòng bàn tay lập tức ướt đẫm máu tươi ấm nóng đến rợn người.
Cán tên gỗ cắm sâu hoắm ngay mỏm vai trái, xé toạc lớp áo chàm.
“Đào!
Đào ơi!” Giọng tôi nghẹn đắng.
Phía sau, tên giặc tiếp tục bắn xối xả xuống mặt nước, găm tua tủa quanh mạn.
Thuyền giặc hò hét đuổi sát nút, tiếng dầm đập nước dồn dập như thúc trống.
Đúng lúc hiểm nghèo ấy, một tiếng gầm gừ phát ra từ đuôi thuyền.
Trọng Đạt — kẻ ngày thường thấy con gián cũng nhảy dựng, kẻ từng run lẩy bẩy quỳ nhận tội — lúc này hai mắt đỏ ngầu, hàm răng nghiến chặt đến rỉ máu khóe miệng.
Anh ta không hề cúi đầu né tên, hai cánh tay gầy guộc chằng chịt gân xanh, dồn trọn sức tàn ấn mạnh mái chèo xuống dòng nước xiết.
“Ngồi im đấy!
Giữ lấy nó!” Trọng Đạt gào lên, giọng vỡ vụn.
Mái chèo trong tay anh ta vung lên điên cuồng, chém rẽ từng đợt sóng ngầm.
Thuyền chồm lên, lướt vút đi.
Tên cắm sát mép chèo nhưng Trọng Đạt dường như không bận tâm.
Bằng một cú bẻ lái liều lĩnh suýt lật úp thuyền, anh ta đâm thẳng mũi thuyền xuyên qua bức tường lau sậy rậm rạp bên bờ hữu ngạn.
Tán sậy ken đặc quất rát rạt vào da thịt rồi lập tức nuốt chửng chúng tôi vào bóng tối thăm thẳm.
Tiếng tên găm vào thân sậy xa dần, tiếng giặc hò hét tắt ngấm sau khúc ngoằn ngoèo của con lạch.
Thuyền trôi chậm lại giữa làn nước lặng.
Trọng Đạt buông dầm, ngã vật ra sàn, lồng ngực phập phồng dữ dội.
Hai bàn tay anh ta rách toạc rỉ máu đầm đìa, nhưng mắt vẫn trừng trừng nhìn về phía chúng tôi.
Tôi ôm ghì bờ vai run rẩy của Đào, sững sờ nhìn người anh vợ.
Lần đầu tiên từ ngày bước chân vào phủ họ Vũ, tôi mới thấy gã công tử bột này gan góc đến nhường ấy.
Túp lều nát giữa đầm sậy sặc mùi bùn tanh ẩm mốc.
Trọng Đạt gục ngoài cửa canh chừng, kiệt sức thở không ra hơi.
Bên trong, ngọn đèn dầu leo lét hắt bóng hai chúng tôi lên vách nứa rách.
Mai Đào nằm nghiêng trên ổ rơm mục, mặt trắng bệch, cắn chặt thanh gỗ nhỏ để khỏi rên rỉ.
Máu đỏ lòm thấm đẫm nửa vạt áo chàm.
Nhìn cảnh ấy, dạ dày tôi quặn lên buồn nôn dữ dội.
Tôi sợ máu.
Kiếp trước, chỉ cần đứt tay tôi đã xây xẩm mặt mày, vậy mà giờ đây trước mắt tôi là miệng vết thương sâu hoắm trên vai con gái nhà người ta.
Tay tôi run bắn, run đến mức không cầm vững kìm sắt.
Nhưng thấy mồ hôi vã ra như tắm trên trán Đào, tôi biết mình không có đường lùi.
Tôi quỳ sụp xuống, lẩm bẩm dỗ nàng hay tự trấn an chính mình:
“Đừng sợ... tôi làm được.
Sẽ xong ngay thôi.”
Nồi nước con bắc trên bếp củi sôi sùng sục.
Tôi thả cuộn chỉ tơ cùng cây kim cong đã mài nhẵn vào luộc kỹ, rồi rút bầu rượu chưng cất nặng độ đem từ xưởng rèn ra.
Nghiến răng, tôi nín thở gắp mảnh ngạnh đồng cắm ngập trong thớ thịt ra ngoài.
Máu lại ứa ròng ròng.
Tôi dốc thẳng bát rượu mạnh vào miệng vết thương.
Mùi men cay xộc bốc lên nồng nặc.
Cả người Đào giật nảy, răng nghiến chặt vào thanh gỗ ken két đến rợn người, nhưng nàng không hề kêu khóc.
Để át đi nỗi khiếp đảm nghẹn ứ cổ họng, tôi vừa run rẩy xỏ chỉ vào kim, vừa lải nhải:
“Rượu này cất kỹ lắm, bảy mươi độ lận, dùng để diệt trùng đấy.
Cô biết không, có những con bọ nhỏ li ti mắt thường không thấy được, gọi là vi khuẩn.
Chúng nó thích nhất là chui vào chỗ rách thịt này làm mủ, làm sốt rét.
Phải rửa thật sạch, khâu lại thật kín...
Khâu thịt người cũng như ghép mép thép thôi, tôi khéo tay nhất vùng mà, đừng sợ...”
Từng mũi kim đâm qua thớ thịt run rẩy dưới bàn tay ướt đẫm mồ hôi của tôi.
Mỗi đường chỉ kéo qua, tôi như muốn ngất đi vì sợ, nhưng mắt vẫn căng ra, không dám chệch nửa phân.
Đến khi buộc xong mối chỉ cuối cùng và rịt bột thuốc lá cầm máu lên vai nàng, hai chân tôi đã tê dại.
Nhưng cơn hiểm nghèo vẫn chưa qua.
Toàn thân Đào bỗng run bần bật, trán nóng rực như hòn than trong lò.
Nàng bắt đầu sốt mê sảng.
Bàn tay chai sạn đầy vết sẹo lò rèn của Đào quờ quạng trong không khí, rồi bất thần túm chặt lấy cổ tay tôi.
Nàng siết chặt đến mức móng tay bấm sâu vào da thịt, đôi mắt hé mở lờ đờ qua làn hơi sốt:
“Đừng chạy lung tung... trúng tên đấy...
Thằng Tèo... thằng Tèo nhát nhất... mà tôi thương...”
Tiếng nàng lịm dần vào hơi thở dồn dập.
Tôi ngồi sững bên ổ rơm, cổ họng nghẹn đắng, sống mũi cay xè.
Tôi đắp vạt áo ướt lên trán nàng, rồi cứ thế ngồi ghì chặt lấy bàn tay thô ráp ấy suốt đêm dài dằng dặc.
Đêm ấy, giữa tiếng gió sậy rít qua vách lều, tôi không thể tìm nổi một câu đùa nào nữa.
Sang ngày thứ ba, tin tức từ sông lớn dội vào đầm sậy dồn dập như thác lũ.
Trọng Đạt chạy thục mạng từ mé bến vào lều, chân ngập bùn, mặt mũi lem nhem nhưng hai mắt sáng rực.
Anh ta ngã dúi dụi ở bậu cửa, thở không ra hơi:
“Thắng... thắng lớn rồi chú Lãng ơi!
Thượng tướng Quang Khải đánh tan tác trại giặc ở bến Chương Dương!
Thuyền chiến giặc bị thiêu rụi đỏ rực cả khúc sông, quân ta thừa thắng tràn vào thu lại kinh thành Thăng Long rồi!”
Tiếng hò reo ngoài lạch sậy dội vào, rung cả vách nứa.
Người ta ôm nhau khóc, dầm gõ chan chát vào mạn thuyền vang động cả góc đầm.
Đến trưa, một tốp lính tuần rẽ lau ghé qua loan tiếp tin chấn động: đạo quân của Toa Đô từ Thanh Hóa tiến ra đã bị triều đình chặn đánh tơi bời ở Tây Kết.
Toa Đô trúng tên tử trận, bị chém lấy đầu ngay giữa trận tiền.
Đạo quân bách chiến bách thắng của giặc tan tành từng mảng.
Đến chập tối, một người chở dưa ngang qua lách thuyền vào đưa thêm tin sốt dẻo: Trấn Nam Vương Thoát Hoan dắt tàn binh tháo chạy thục mạng lên biên ải phía bắc.
Vì quá khiếp sợ những trận mưa tên đồng phục kích dọc rừng sâu, gã thái tử nhà Nguyên phải chui tọt vào ống đồng, để quân lính khiêng chạy ngày đêm mới giữ được cái mạng về nước.
Cả bến sậy râm ran tiếng cười hả hê.
Mọi người reo hò, mừng tủi đến rơi nước mắt vì thoát khỏi kiếp lầm than.
Tôi ngồi trong bóng tối của gian lều, nghe tiếng hò reo ngoài kia mà lồng ngực nghẹn ứ.
Tôi rút cuốn sổ tay bọc da vụn giấu trong bọc áo ra.
Dưới ánh đèn dầu leo lét, bằng mẩu than củi đã vẹt đầu, tôi run run viết vào góc trang giấy ba chữ nắn nót: * “Đúng như sử.”*
Từng nét chữ in hằn lên mặt giấy nhám ráp.
Đúng từng mốc thời gian, đúng từng cái tên, đúng cả cái chết của Toa Đô lẫn chiếc ống đồng nhục nhã của Thoát Hoan mà hậu thế bảy trăm năm sau vẫn đọc vanh vách trong sách giáo khoa.
Nhưng sử sách chưa bao giờ chép lại mùi máu tanh nồng đặc quánh trong túp lều này.
Sử không ghi tiếng rên đứt quãng giữa đêm, cũng không chép lại bờ vai gầy rách toạc của đứa con gái làng rèn đã lấy thân mình đỡ tên cho một kẻ hèn nhát.
Bên cạnh tôi, Mai Đào vẫn nằm mê man trên ổ rơm mục.
Cơn sốt chưa chịu lui, đôi môi khô nẻ rớm máu, trán nàng hầm hập như một hòn than đượm.
Bàn tay chai sạn của nàng thỉnh thoảng lại co giật, quờ quạng níu chặt lấy vạt áo tôi như sợ rơi xuống vực sâu.
Một nỗi nhẹ nhõm vô bờ tràn qua huyết quản vì biết nước Đại Việt đã thắng, đại nạn lần thứ hai đã tạm qua.
Nhưng trào lên ngay sau đó là vị chua xót đắng nghét nơi cuống họng.
Hào quang của những trận Chương Dương, Tây Kết lẫy lừng ngoài kia rực rỡ là thế, mà cái giá của nó lại đang nằm thoi thóp, bỏng rát ngay dưới bàn tay tôi.
Tôi ghì chặt lấy những ngón tay thô ráp của nàng, nhúng lại chiếc khăn ướt đắp lên trán Đào, thấy mắt mình nhòe đi giữa mùi khói dầu tù mù.
Gió cuối hè thổi rát những bãi lau xơ xác dọc bờ sông Lục Đầu, cuốn đi mùi khét của tro tàn.
Xóm lò Kẻ Sắt sau mấy tháng tiêu thổ chỉ còn lại những khung cột cháy sém trơ trọi giữa trời, nhưng tiếng người gọi nhau dựng lại mái rạ đã râm ran khắp bến.
Dưới chân triền đê cũ, tôi cùng ông Mai Cả và mấy anh em thợ vác cuốc xẻng cắm sâu vào lớp đất sét pha vôi.
Lớp bao tải tẩm dầu và da trâu bọc kín dần lộ ra sau những nhát cuốc cẩn trọng.
Khi cạy tung nắp hòm gỗ dày, cả xưởng đồng thanh reo lên một tiếng nhẹ nhõm.
Từng bộ khuôn đúc mũi tên ba khía, khuôn bản lề, vòng bi gốm và những thanh thước mẫu bằng đồng vẫn nằm im lìm trong lớp mỡ trâu chống gỉ, nguyên vẹn không sứt mẻ lấy một góc.
Mai Cả run run áp bàn tay chai sần lên mặt thước, khóe mắt già nua đỏ hoe.
Giữ được khuôn, giữ được thước là giữ được hồn cốt của làng rèn.
Ngay chiều hôm ấy, bễ lò đầu tiên đã đỏ lửa phì phò.
Khói than bốc lên quyện mùi sắt nung quen thuộc làm sống mũi tôi cay cay.
Thế nhưng vừa quay lưng lại, tôi đã hoảng hồn thấy Mai Đào đang một tay kẹp thỏi thép đỏ vào đe, tay kia toan với lấy cây búa tạ.
Bờ vai trái của nàng vẫn quấn tầng tầng lớp lớp băng vải trắng toát tẩm thuốc, mùi lá ngải nồng nặc.
“Bỏ xuống ngay!” Tôi lao tới giật phắt cây búa khỏi tay nàng, gắt: “Vết thương vừa mới liền da non, cô định bục chỉ ra để tôi phải luộc kim khâu lại lần nữa đấy à?”
Đào lườm tôi một cái sắc lẹm, nhưng khóe môi lại khẽ cong lên nét cười bướng bỉnh:
“Thợ rèn nghe tiếng búa gõ đe mà bắt ngồi khoanh tay thì thà bảo tôi nhảy xuống sông Lục Đầu còn hơn.
Thằng Tèo nhà anh đừng có mà lắm điều!”
Nói thì cứng cỏi thế, nhưng khi tôi ấn nàng ngồi xuống chiếc chõng tre bên cạnh lò, Đào cũng ngoan ngoãn ngồi yên, chỉ đưa mắt nhìn theo từng nhịp búa đập của tôi.
Ánh nhìn dường như dịu lại rất nhiều sau những ngày thập tử nhất sinh trong đầm sậy.
Dưới chái nhà vừa lợp tạm cách đó không xa, Diệu Hoa ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn con.
Chiếc áo tứ thân màu gụ đã bạc màu vì gió bụi nhưng vạt áo vẫn phẳng phiu.
Nàng cẩn thận vuốt lại từng mép giấy trong cuốn sổ bìa da trâu — nơi ghi chép tỉ mỉ từng cân than củi, từng thỏi sắt thô nhập về và số lượng hàng ngàn mũi tên đã xuất ra bãi cát Chương Dương.
Sau khi kiểm đếm lần cuối, Diệu Hoa cẩn thận xếp cuốn sổ vào đáy chiếc hòm gỗ lim nhỏ, gài then đồng lại.
Nàng nhúng bút lông vào nghiên mực tàu, nắn nót viết lên nắp hòm hai chữ chân phương: *Ất Dậu*.
Khép lại một mùa hè máu lửa được đánh đổi bằng mồ hôi và xương máu.
Đúng lúc Diệu Hoa gác bút thì tiếng bước chân gấp gáp ngoài ngõ xưởng vọng vào.
Một người phu trạm áo quần dính đầy bụi đường, trên ngực áo có thêu phù hiệu cánh buồm của thương thuyền Vân Đồn, thở không ra hơi đưa tới một phong thư nhỏ niêm phong bằng sáp đỏ.
Tôi nhận lấy phong thư, cạy lớp sáp niêm, rút ra một mảnh giấy hoa tiên mỏng tanh.
Nét mực phóng khoáng, sắc sảo đầy vẻ tinh quái của Hà Thanh Liên hiện ra trước mắt.
Không có lời thăm hỏi dài dòng, chỉ vỏn vẹn một dòng duy nhất:
* “Biển chưa yên đâu, chàng thợ ạ.”*