Tiếng mái chèo khua nước bì bõm đằng xa dội vào bờ sậy khiến Mai Đào giật mình, ấn mạnh đầu thằng Cu Tý xuống lớp bùn nhão.
Nàng siết chặt cán dao găm giắt bên hông, cả thân hình dán sát vào gốc lau rậm rạp, bùn non tanh nồng ngập lên đến mép cằm.
Gió đêm tháng Hai thổi ràn rạt qua bãi sông, lạnh buốt thấu vào tận xương tủy.
Cách bụi lau chưa đầy hai trượng, chiếc thuyền tuần của quân Nguyên rẽ màn sương xám lướt qua.
Ánh đuốc trên mũi thuyền hắt quầng sáng vàng vọt xuống mặt nước.
Trên thuyền, mấy tên lính đội nón chóp nhọn, áo giáp da bóng nhẫy, tay lăm lăm giáo dài đảo mắt quanh mép nước.
Tiếng xì xồ rợn người vẳng lại, sắc nhọn như dao cạo trên đá.
Mai Đào nín thở, lồng ngực thắt lại đến đau nhói, hàm răng cắn chặt môi dưới để ngăn tiếng thở dốc.
Mãi đến khi chiếc thuyền tuần trôi hẳn về phía hạ lưu, chỉ còn lại vệt đuốc leo lét xa dần, nàng mới khẽ cựa mình thở hắt ra.
“Đào... chị Đào ơi, vai em gãy mất rồi...” Thằng Cu Tý rên rỉ nghẹn trong cổ họng, mặt tái mét, một bên vai xệ hẳn xuống, cánh tay buông thõng run lẩy bẩy.
Hồi chiều né chiếc thuyền giặc chở đầy ngựa ở khúc quanh, nó ráng sức bẻ lái thúc thuyền vào ghềnh đá ngầm nên trẹo khớp, nãy giờ chỉ biết cắn răng chịu trận.
Gã tay chèo còn lại tên Khoát cũng thở không ra hơi, hai bàn tay phồng rộp rớm máu vì chèo ngược dòng suốt một ngày một đêm.
Nhìn dòng sông đen ngòm phía trước dày đặc sương mù và lẩn khuất những mũi thuyền giặc lùng sục, Mai Đào biết không thể liều mạng đi tiếp bằng đường thủy.
“Kéo thuyền lên cồn cát!” Nàng thì thào dứt khoát.
Ba người bì bõm kéo chiếc thuyền nan nhỏ vào sâu trong hốc lau, bẻ cành bần, cành sú phủ kín mít như một đống rác trôi dạt.
Mai Đào vỗ vai Cu Tý, đỡ lấy cái đãy nhỏ trên lưng nó rồi quay sang bảo Khoát:
“Bỏ sông.
Đi bộ xuyên rừng về khe suối.
Có chết đói cũng phải lết về trước khi trời sáng.”
Nàng thò tay vào ngực áo, chạm phải miếng giấy bản gập tư được bọc kín trong mảnh vải dầu.
Tấm giấy cộm lên trước ngực, mang theo hơi ấm da thịt nàng.
Đó là biên nhận có đóng dấu triện của quân Tiết chế, mực son đỏ lòm ghi rõ mười ba trăm đầu tên đồng ba khía đã nộp đủ, không thiếu một chiếc.
Nghĩ đến tờ giấy, Mai Đào lại thấy tức anh ách trong bụng.
Trước khi nàng rời xưởng, cái thằng Tèo dở hơi ấy cứ túm quai nón nàng mà dặn đi dặn lại, mặt mũi nghiêm trọng như thể sắp tận thế: “Đào phải bắt họ ký biên nhận bàn giao, ghi rõ số lượng, giờ nhận, gọi là ghi log... thiếu một chữ là không khớp dữ liệu đâu đấy!”
“Mẹ kiếp cái thằng Tèo,” nàng vừa gạt gai mây mở đường, vừa lẩm bẩm chửi đổng qua kẽ răng.
“Log với chả liếc!
Giặc nó dí giáo sát đít mà còn đòi đủ thủ tục giấy tờ.
Về đến nơi bà đập nát cái mặt vênh váo của mày ra!”
Nói thì chửi rủa thế cho đỡ sợ ma rừng và át đi cái rét căm căm, nhưng bàn tay nàng vẫn ép chặt lấy ngực áo, giữ cho tờ biên nhận không bị ngấm một giọt mồ hôi.
Rừng đêm tối như hũ nút, gai cào rách toạc cả gấu quần, Mai Đào dắt Cu Tý từng bước lần theo vệt cỏ hướng về phía dãy núi mờ xa.
Sương sớm tan dần trên lối mòn men chân núi trơn nhẫy lá mục, phảng phất mùi tro tàn từ xa đưa lại.
Mai Đào vừa dìu Cu Tý qua một gò đá thì thấy bóng người nhấp nhô phía trước, tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt bị ai đó vội bịt miệng.
Nhận ra không phải lính giặc, nàng bước khỏi bụi rậm.
Đó là một đoàn dân chạy loạn đói rách, gồng gánh bồ sọt lép kẹp, lầm lũi dắt díu nhau đi như những chiếc bóng giữa rừng sương.
Mai Đào cất tiếng khẽ khàng:
“Bà con từ mạn nào dạt về đấy?”
Một ông lão râu tóc bạc phơ ngồi thụp xuống tảng đá ven đường, thở dốc từng cơn ran ngực:
“Chạy từ mạn Thiên Mạc sang đây cháu ơi...
Giặc tràn như kiến cỏ, đốt phá sạch cả rồi.”
Mai Đào bước tới gần, lòng thắt lại:
“Thế... quân triều đình đâu?
Các vương hầu đâu cả rồi cụ?”
Môi ông lão run bần bật, đôi mắt đục ngầu ầng ậng nước bỗng bốc lên một tia giận dữ cay đắng khôn cùng.
Ông đập mạnh bàn tay trơ xương xuống gối:
“Vương với chả hầu!
Chiêu Quốc vương... thằng Ích Tắc dắt cả đàn thê thiếp con cái ra quỳ gối hàng giặc rồi!
Nó mở đường cho ngựa giặc đuổi theo giá ngự!”
Lời nói như sét đánh ngang tai.
Mai Đào chết lặng, máu dồn thẳng lên thái dương giật thình thịch.
Trần Ích Tắc, chú ruột hoàng đế, học rộng tài cao nức tiếng... lại đi dập đầu làm nô lệ cho loài sài lang!
Nàng nhớ những đêm thức trắng bên lò rèn Kẻ Sắt, nhớ mồ hôi khét lẹt trên lưng cha, nhớ cả giọt nước mắt câm lặng của thằng Tèo khi hay tin tướng Trần Bình Trọng thà chết không chịu làm vương đất Bắc.
Người ta tuẫn tiết vì non sông, còn kẻ mang họ rồng giống phượng lại vẫy đuôi trước gót giặc!
Một cục nghẹn đắng ngắt trào lên cổ họng.
Mai Đào nghiến răng nhổ toẹt bãi nước bọt xuống rãnh nước ven đường, bóp nát cành củi khô đang cầm làm gậy dò đường.
Cành củi gãy vụn rắc một tiếng, dằm nhọn đâm vào lòng bàn tay chai sạn ứa máu mà nàng chẳng hề thấy đau.
Lúc ấy, một bà cụ lưng còng, mặt gầy gộc chằng chịt nếp nhăn lật đật bước lại.
Bà nhìn bàn tay rớm máu của nàng, rồi nhìn sang Cu Tý đang ôm cánh tay trẹo ngồi thở dốc vì đói lả.
Bà cụ thò tay vào cạp váy, lôi ra gói lá chuối khô đã rách mép, bên trong là nắm cơm độn ngô khô cứng.
Bà cụ dằn nắm cơm vào lòng bàn tay Mai Đào, giọng khàn khàn mà chắc nịch như đanh đóng vào vách đá:
“Cầm lấy mà ăn cho có sức mà đi, con gái.
Vương hầu hàng thì có, chứ dân thì không hàng đâu!”
Sống mũi Mai Đào cay xè.
Bụng nàng lúc này cồn cào cắn xé sau hai ngày hai đêm nhịn đói, chỉ húp nước suối cầm hơi.
Nhưng nhìn thằng Cu Tý đang run rẩy, nàng cắn chặt môi, gói kỹ mảnh lá chuối lại rồi nhét thẳng vào túi áo nó, mình nhịn.
Bà cụ đã quay lưng, lầm lũi bước theo đoàn người trườn sâu vào màn sương xám.
Mai Đào nuốt khan một ngụm nước bọt để chặn cơn đói, quệt mồ hôi lạnh trên trán rồi ngoái lại giục hai gã thợ:
“Đi!
Phải về xưởng trước khi trời đứng bóng!”
Sương sớm còn đọng nặng trên ngọn cỏ tranh khi ba bóng người xiêu vẹo rẽ cành lá lách vào hẻm đá.
Tiếng nước suối róc rách quen thuộc khiến hai đầu gối Mai Đào mềm nhũn, rã rời.
Thế là trọn vẹn ba ngày ba đêm luồn rừng trốn giặc, mãi đến sáng ngày thứ tư này mới về được tới xưởng.
Thằng Cu Tý ngã quỵ xuống bãi cỏ, thở dốc như vừa trút được gánh nặng nghìn cân.
Chưa kịp cất tiếng gọi, tiếng đá lạo xạo dồn dập đã vang lên phía dốc.
Từ mỏm đá cao nhô ra bờ suối, một bóng người gầy nhẳng nhảy bổ xuống, trượt chân suýt ngã sấp mặt nhưng vẫn lồm cồm bò dậy lao thẳng về phía nàng.
Là cái thằng Tèo.
Quần áo hắn xốc xếch, tóc tai bù xù như tổ quạ, đôi mắt trũng sâu thâm quầng như thể suốt bốn ngày qua hắn chưa từng chợp mắt lấy một canh giờ.
Hắn nhào tới, chẳng nói chẳng rằng giang hai tay ôm chầm lấy nàng.
Mai Đào sững sờ.
Mùi mồ hôi chua nồng lẫn mùi bồ hóng quen thuộc của hắn ập vào mũi, chân thực và ấm nóng làm nàng choáng váng.
Lồng ngực hắn phập phồng dữ dội, cánh tay siết mạnh như sợ buông ra thì nàng sẽ biến mất vào rừng sâu.
Tim nàng bỗng hẫng đi một nhịp, hai má nóng bừng râm ran.
Nhưng chớp mắt sau, hắn như sực tỉnh, vội buông nàng ra rồi lùi phắt lại hai bước, mặt đỏ lựng, tay huơ loạn xạ:
“Tôi... tôi chỉ kiểm tra xem có hỏng hóc gì không thôi!
Bốn ngày ròng rã bặt vô âm tín, phải kiểm kê hàng tồn kho chứ!
Phải soát lỗi vật lý xem có sứt mẻ gì không... chứ không có ý gì đâu đấy nhé!”
Cái thói ba hoa lấp liếm của hắn làm cơn ngượng ngùng trong Mai Đào thoắt biến thành nỗi bực mình buồn cười.
Nàng nghiến răng, giơ nắm đấm thụi thẳng vào bả vai hắn một cú rõ đau:
“Tồn kho cái mả bố nhà mày!
Đồ dở người!”
Hắn xuýt xoa ôm vai, nhưng khóe miệng lại toe toét cười, đôi mắt sáng rực lên.
Mai Đào thò tay vào ngực áo lôi bọc vải dầu ra:
“Đủ một nghìn ba trăm cái.
Giấy biên nhận có triện đỏ đàng hoàng đây.
Khỏi lo mất sổ gạo!”
Cách đó vài bước, dưới mái lều nứa, Diệu Hoa ngồi bên phiến đá phẳng với cuốn sổ da trâu mở sẵn.
Nàng ta không vồ vập chạy ra, nhưng ngón tay cầm bút lông chấm mực son khẽ run lên một thoáng khi thấy ba người bằng xương bằng thịt trở về.
Diệu Hoa ngước nhìn Mai Đào, đôi mắt đen láy phẳng lặng, rồi cúi xuống, dứt khoát vạch nốt nét son đỏ tươi khép kín dòng chữ ghi chuyến hàng mùng năm tháng Hai.
Nét mực đỏ au, thẳng tắp.
Một lát sau, Diệu Hoa bưng bát sành bốc khói bước lại gần, đưa về phía Mai Đào:
“Ăn đi cho ấm ruột,” giọng Diệu Hoa nhỏ nhẹ, không còn vẻ xa cách của tiểu thư phủ quan, mà đượm vẻ mệt mỏi lẫn nhẹ nhõm.
“Cả xưởng chỉ còn ngần này gạo.”
Mai Đào đón lấy bát cháo loãng lấm tấm vài hạt muối.
Hơi nóng phả lên sống mũi cay nồng.
Nàng ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt Diệu Hoa đang chăm chú nhìn mình—nhìn vạt áo rách tươm, nhìn những vết gai cào rớm máu trên cánh tay thô ráp của nàng, và dường như nhìn cả nỗi nhọc nhằn nàng vừa mang qua vòng vây giặc.
Đứa con gái thợ rèn quen tay búa tay đe và tiểu thư cành vàng lá ngọc đứng giữa góc rừng heo hút nhìn nhau thật lâu.
Không ai nói thêm lời nào, nhưng Mai Đào cảm nhận rất rõ một sự gắn kết kỳ lạ vừa lặng lẽ nhen nhóm giữa hai người.
Húp cạn bát cháo, Mai Đào bước sang mé lò cạnh bờ suối.
Dưới gốc dẻ gai, đống gạch chịu lửa vỡ vụn nằm ngổn ngang, ruột xốp rỗng như bánh khảo gặp nước.
Thằng Tèo ngồi xổm, cầm mảnh vỡ gõ lạch cạch xuống đất, mặt méo xệch:
“Lại xịt rồi.
Bug số sáu mươi ba.
Tỉ lệ bùn trấu đúng bài rồi mà vừa quá lửa đã nứt toang.”
Nàng nhặt một mảnh vỡ, lấy ngón cái miết mạnh.
Đất rừng đỏ quạch cọ vào tay ráp rúa, lạo xạo cát thô và sỏi dăm.
Nàng quẳng xuống, bĩu môi:
“Đất đồi lẫn toàn sỏi cát, mày cứ xúc vào đóng khuôn thì nứt là phải!”
“Chứ không nặn luôn thì làm thế nào?
Ở đây đào đâu ra đất sét mịn như bãi sông?”
Mai Đào nhớ lại những trưa hè nhìn cha đãi đất sau chái bếp Kẻ Sắt:
“Không mịn thì phải đãi.
Thầy tao nặn nồi rót đồng toàn lấy đất đồi đổ vào chum, quấy thật lực cho tan thành bùn loãng.
Chờ một lát cho sỏi cát lắng xuống rồi gạn nước đục sang chum khác.
Để qua đêm cho đất mịn chìm xuống đáy, chắt hết nước trong đi là được đất dẻo quánh, nặn gì chả được!”
Mắt thằng Tèo sáng rực lên.
Hắn bật dậy suýt ngã:
“Lọc dữ liệu đầu vào!
Lắng cặn phân tầng!
Thế mà tôi không nghĩ ra!”
Hắn hoa chân múa tay:
“Phải gạn bốn lần!
Bốn vòng lọc mới loại hết tạp chất, đưa độ mịn về chuẩn quy cách!”
“Bốn lần cái đầu mày!” Nàng gắt, giơ nắm đấm.
“Mịn quá nung lên co ngót lại nứt toác!
Hai lần thôi, gạn lắm chỉ tổ tốn công mà đất quánh dính không thoát được hơi.”
“Hai lần sao sạch sạn?
Ít nhất phải ba lần!”
“Hai lần!
Tao theo thầy làm nghề từ năm bảy tuổi, hay mày biết rõ hơn thợ Kẻ Sắt?”
Hai đứa cãi nhau om sòm giữa bãi rừng, khiến mấy bác thợ rèn gần đấy ngoái nhìn rồi cười rung râu.
Cuối cùng, nàng dằn giọng chốt hai lần rưỡi: gạn hai lượt nước, còn lượt bùn đáy chum thứ hai thì lấy tay vò lọc lại.
Mấy chiếc chum sành vỡ miệng được vần ra suối.
Mai Đào xắn quần tới bẹn, cùng Lãng khuấy bùn, gạn nước, chắt lấy lớp đất mịn dẻo quánh như sáp ong.
Đất mới trộn trấu giã nhỏ, nhồi kỹ đến bóng lộn rồi đóng khuôn nung thử.
Hoàng hôn buông xuống khe núi cũng là lúc mẻ gạch nguội.
Mai Đào nín thở dùng kìm gắp thỏi gạch đầu tiên ra.
Thỏi gạch đanh chắc, đỏ au, không một vết rạn chân chim.
Nàng gõ nhẹ mũi kìm vào cạnh gạch.
Một tiếng “keng” thanh mảnh, giòn giã vang lên giữa vách đá.
Thằng Tèo thở phào một hơi dài thượt, khóe mắt giãn ra, nụ cười nhẹ nhõm nở trên môi.
Đêm đó, chiếc guồng nước kẽo kẹt quay đều dưới suối.
Gió từ bễ lò thổi bùng lên, ngọn than đỏ rực liếm láp vách lò mới dựng, hắt quầng sáng ấm áp soi rõ từng gương mặt thợ rèn trong lòng rừng sâu.
Sương chiều buông nhanh xuống thung lũng, trùm màu xám đục lên rặng sau sau đầu nguồn.
Ngọn lửa trong lò mới dựng vừa nhóm lên ấm sực, tiếng đe búa của cánh thợ rèn bắt đầu gõ nhịp chan chát thì ngoài cửa rừng bỗng rộ lên tiếng bước chân chạy dồn dập, giẫm cành khô tanh tách.
Mai Đào quay phắt lại, bàn tay theo thói quen nắm chặt lấy cán búa nguội giắt bên hông.
Bóng người từ màn sương nhào tới, thở hồng hộc như trâu đầm.
Là Trọng Đạt.
Cái đãy muối trên vai gã tuột xuống, xệ một bên hông, từng vệt muối trắng rách miệng bao rơi vãi dọc lối cỏ.
Vạt áo the rách tươm dính đầy gai góc, còn gương mặt công tử ngày thường lúc này tái mét như tro tàn, môi thâm sì, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra từng tiếng lách cách.
Gã vấp phải rễ cây mục bên bờ suối, ngã dúi dụi suýt đập mặt vào đống xỉ than ven đường.
Diệu Hoa buông vội cuốn sổ da trâu, rảo bước tới đỡ anh trai dậy:
“Anh Đạt?
Muối đổi được chưa?
Có chuyện gì ngoài ấy mà anh chạy bạt vía thế?”
Trọng Đạt bám chặt lấy cánh tay em gái, lồng ngực phập phồng dữ dội không thốt nên lời.
Gã nuốt khan mấy bận, tròng mắt dại đi vì hoảng loạn tột cùng, lắp bắp mãi mới thành tiếng:
“Giặc... giặc lùng tới chợ Cung rồi!
Suýt nữa... tôi không về được!”
Mấy người thợ rèn đang quai búa vội buông tay, bước lại vây quanh.
Mai Đào nheo mắt nhìn vẻ thất thần của gã, bước tới gần thêm một bước, giọng đanh lại:
“Bao nhiêu đứa?
Chúng nó có đi sâu vào mạn này không?”
“Độ mươi tên kỵ binh...” Trọng Đạt quệt vội mồ hôi lạnh túa ra ròng ròng trên trán, giọng run lẩy bẩy như người sốt rét.
“Chúng đi cướp thóc.
Nhưng... không phải tự dưng chúng mò vào được tận hang cùng ngõ hẻm ấy đâu.
Có đứa dẫn đường!”
Lãng từ bên bễ lò cũng bước tới, mặt mày còn lem luốc nhọ than, chăm chú lắng nghe từng lời.
Trọng Đạt nuốt ực một cái, hơi thở đứt quãng tiếp tục kể:
“Không phải người làng.
Gã dong dỏng cao, gầy kều, vai bên cao bên thấp lệch hẳn.
Áo ngắn xắn tới nách... bắp tay có vết sẹo đỏ dài ngoằng như con rết.
Hắn nói tiếng Kinh rành rọt, dẫn tụi giặc đi sục từng hốc rơm, vồ từng bao thóc giấu dưới hầm.”
Mai Đào cau mày.
Vai lệch, bắp tay có sẹo đỏ... hình dong ấy nghe quen đến rợn người, tựa như những tay dao búa nàng từng thoáng thấy lảng vảng quanh các bến thuyền năm ngoái.
Trọng Đạt hạ thấp giọng, hai mắt trợn trừng như vừa nhìn thấy ma quỷ giữa ban ngày:
“Chưa hết...
Lúc lính Nguyên dắt ngựa đi, tôi nấp sau đụn rơm nghe rõ mồn một.
Gã sẹo đỏ túm cổ áo một ông lão trong chợ, dí dao gặng hỏi... hỏi quanh dãy núi này có thấy khói than hay nghe tiếng đe búa của 'lò rèn trong rừng' nào không!”
Ngón tay Mai Đào siết cứng quanh chuôi búa sắt, cảm giác buốt lạnh thấu vào tận xương tủy.