Mới qua mười ngày kể từ hôm bị bác Cả Khang tịch thu diều ở bãi đình, bãi bồi bên kia sông Đáy bỗng mọc lên một dãy lều bạt trắng toát, dựng san sát như nấm sau mưa rào.
Cờ hiệu thêu kiếm vàng của Thiên Kiếm Tông phần phật trong gió sớm.
Đám đệ tử áo trắng đeo kiếm dài đi lại tuần tra, thỉnh thoảng lại có kẻ cưỡi phi kiếm rẽ nước bay là là trên mặt sông, làm lũ vịt nhà thím Tám sợ hãi đập cánh kêu quang quác, dạt hết vào chân cầu ao.
Họ đến sớm hơn hẹn rằm năm ngày.
Đăng đang đứng ở sân phơi giấy, tay còn cầm chiếc chổi đót quét bụi bèo, thì một tiếng xé gió chói tai rít lên từ tầng mây cao.
Không khí đặc quánh lại, nằng nặng như trước cơn giông mùa hạ, nhưng không mang hơi ẩm của đất trời mà tanh nồng mùi kim loại rỉ sét.
Một luồng áp lực vô hình dội xuống khiến lồng ngực cậu thắt lại, chân run lên một nhịp.
Trên nền trời xám đục, một bóng người đứng sừng sững trên thanh cự kiếm màu xích đồng lướt qua ngọn tre làng Yên Thái.
Người nọ khoác đại bào đỏ sẫm viền vàng, râu tóc hoa râm bay ngược ra sau, mắt sáng quắc như đuốc lăng nhục nhìn xuống mái đình rêu phong.
Hạ Hầu Liệt.
Một vị trưởng lão Kim Đan đích thân giá lâm.
Không một lời cảnh cáo, lão chỉ khẽ phất tay áo rộng.
Một vệt sáng đỏ rực dài cả trượng bén ngót như lưỡi hái bổ xé không trung, xẹt qua nóc chợ gốm.
“Rắc...
Ầm!”
Cây gạo cổ thụ đầu chợ — nơi mấy đời trẻ con làng Yên Thái trèo hái hoa đỏ mỗi tháng Ba, gốc to ba người ôm không xuể — bị chém ngang thân ngọt xớt.
Nửa thân trên đầy cành lá trĩu nặng đổ ập xuống bãi đất trống, bụi mù bốc lên cuồn cuộn, kéo theo tiếng ngói vỡ loảng xoảng từ mấy gian quán nước ven đường.
Vết cắt phẳng lỳ, cháy xém đen thui bốc lên làn khói khét lẹt của kiếm hoả.
Đăng há hốc mồm, chiếc chổi đót trên tay rơi bịch xuống đất.
Đó là sức mạnh của một đòn tuỳ tiện từ tu sĩ Kim Đan.
Không cần bùa chú rườm rà, chỉ một cái vung tay đã xoá sổ một gốc đại thụ trăm năm.
Tiếng la hét lập tức nổ tung khắp chợ.
Người ta quẳng cả thúng gạo, gánh rau, bồng bế con cái chạy tháo thân về phía ngõ xóm.
Mấy bà bán ốc trượt chân ngã dúi dụi, nước ốc đổ lênh láng ra đường gạch.
Tiếng mõ đình gõ dồn dập, đứt quãng như tiếng thở gấp của kẻ sắp chết đuối.
Bác Cả Khang từ điếm canh xộc xệch chạy ra, chiếc nón cùi rách rơi lủng lẳng sau lưng, miệng lắp bắp gọi dân phu nhưng chẳng ai nghe thấy giữa mớ âm thanh hỗn loạn.
Hạ Hầu Liệt không thèm nhìn xuống đống đổ nát lấy nửa lần.
Thanh cự kiếm lượn một vòng trên không rồi thong thả quay đầu về phía bờ sông bên kia, để lại tiếng cười trầm đục vang rền cả mặt nước:
“Hạn tới trăng rằm.
Hoặc giao linh mạch dưới gò, hoặc san phẳng Yên Thái!”
Bụi đất lắng dần trên những mảnh ngói vỡ.
Đăng siết chặt hai nắm tay, móng bấm sâu vào lòng bàn tay đến phát đau, đôi mắt cậu ghim chặt vào vệt khói xám đang tản ra trên ngọn cây gạo cụt.
Mùi khói khét của thân cây gạo cháy vẫn còn lẩn quất trong gió khi Đăng cắm đầu chạy qua rặng dâm bụt, hướng thẳng về phía đền Mẫu.
Trái ngược với cảnh hỗn loạn nháo nhác ngoài chợ và tiếng mõ giục giã nơi đình làng, không gian quanh ngôi đền cổ tĩnh mịch đến lạ lùng.
Hàng cau thẳng tắp đứng lặng phắc dưới nắng trưa nhạt, chỉ có tiếng lá rơi khô khốc trên sân gạch rêu phong.
Đăng bước qua bậc thềm đá xanh mòn vẹt, cởi guốc gỗ đặt sang một bên rồi quỳ sụp xuống chiếu cói trước gian tiền tế.
Mùi trầm hương thoang thoảng quện với mùi ẩm mốc của những cây cột gỗ lim trăm tuổi xộc vào mũi, khiến lồng ngực đang đập thình thịch của cậu dần lắng lại.
Bà Ba Thoải đang ngồi trên chiếc tràng kỷ con bên mép hương án, tay lần tràng hạt gỗ mun, mắt lim dim như đang tụng niệm điều gì.
Bộ áo nâu sồng phẳng phiu không một nếp nhăn, mái tóc vấn khăn rằn gọn gàng, khuôn mặt bà phẳng lặng tựa mặt nước giếng khơi, dường như tiếng ầm ầm long trời lở đất vừa rồi ngoài bãi chợ chẳng mảy may lọt qua nổi mái ngói đền.
“Cụ...” Đăng khẽ gọi, hai bàn tay áp chặt xuống mặt gạch lạnh buốt.
“Con xin cụ... cho bọn con dùng gò đất sau đền.”
Chuỗi tràng hạt trong tay bà Ba khẽ khựng lại, rồi lại tiếp tục lăn chầm chậm qua từng đốt ngón tay gầy guộc.
Bà không mở mắt, cũng chẳng cất lời.
Đăng cắn môi, dập đầu thêm một cái rồi nói dồn, hơi thở còn vướng chút run rẩy:
“Giặc đã đến mé sông, cây gạo đầu chợ bị chặt đứt đôi rồi cụ ạ.
Bác Cả cấm thả diều ngoài bãi đình, mà chỉ có gò sau đền mới đủ cao, gió từ sông thổi lên mới nâng nổi diều mồi nhử.
Bọn con phải thử... nếu không thì rằm này, cả làng Yên Thái chẳng còn đất mà xeo giấy nữa.”
Sự im lặng bao trùm lấy gian đền.
Giữa khoảng không đặc quánh ấy, chỉ còn nghe tiếng bấc đèn dầu lách tách nổ và tiếng gió rít nhè nhẹ qua khe cửa bức bàn.
Đăng quỳ trơ trọi, sống lưng ớn lạnh.
Cậu cảm thấy ánh mắt của các pho tượng sơn son thiếp vàng trên bàn thờ dường như đang dõi xuống đỉnh đầu mình, nghiêm cẩn và xa xăm.
Cậu biết gò sau đền là chốn cấm kỵ, từ thuở cha sinh mẹ đẻ chưa đứa trẻ nào trong làng dám bén mảng leo lên nhặt quả qué hay đuổi dế.
Thời gian trôi chậm như dòng nước ngâm vỏ dó mùa đông.
Mãi đến khi chân Đăng bắt đầu tê dại, bà Ba Thoải mới khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ.
Bà mở mắt.
Đôi mắt già nua đùng đục nhưng sâu thẳm nhìn xoáy vào Đăng, như muốn xuyên qua lớp áo cộc lấm lem để nhìn thấu tận ruột gan cậu.
Rồi bà thò tay vào dải yếm, rút ra một chùm chìa khoá bằng đồng đen bóng loáng, trên đó có độc một chiếc chìa dài ngoằng, khắc những đường rãnh ngoằn ngoèo kỳ lạ.
“Leng keng.”
Bà thả chiếc chìa khoá xuống chiếu trước mặt Đăng.
“Mở kho phía chái tây mà lấy nan tre ngâm với dây gai cũ,” giọng bà Ba trầm đục, khô khốc như tiếng gỗ gõ vào nhau.
“Chỉ một điều thôi.”
Đăng vội ngước lên, hai mắt mở to.
Bà Ba nhìn thẳng vào mắt cậu, từng lời rành rọt buông xuống:
“Làm gì trên gò thì làm.
Tuyệt đối không được đào một tấc đất nào dưới chân.”
Khi Đăng cầm chiếc chìa khoá đồng chạy về sân đình, một cảnh tượng chưa từng thấy đã bày ra.
Hàng chục thớ giấy dó loại tốt nhất xếp thành từng chồng cao ngất dưới bóng cây đa.
Bố cậu, ông Phan Lộc, áo cộc đẫm mồ hôi, đang vung tay giải thích với mấy ông thợ xeo giấy lớn tuổi:
“Các bác cứ tiếc của giấu giấy trong bồ, đến lúc kiếm tu bên kia sông đốt trụi cả làng thì giữ cho chuột gặm à?
Đem hết ra đây!
Thằng Đăng bảo giấy càng dai, ăn chu sa càng đều thì diều bay càng trúng!”
Nhìn vệt khói xám nơi cây gạo đầu chợ còn chưa tan, mấy ông thợ cắn răng gật đầu, vội vã chạy về nhà vác thêm từng bó giấy mới bóc từ bàn sấy ra góp.
Dưới mái hiên đình râm mát, một dây chuyền làm việc kỳ lạ hình thành.
Mấy bà, mấy chị quây quần quanh những phiến mộc bản gỗ thị do Đỗ Cầm và cánh thợ mộc đục sẵn.
Chổi lông thỏ quét xoèn xoẹt lớp mực chu sa pha thạch anh đỏ au, áp giấy dó lên, xơ mướp miết nhẹ một đường.
Từng tấm phù mồi đỏ rực với những đường âm môn, dương môn sắc lẻm lập tức hiện hình, toả ra mùi khoáng thạch the the lẫn mùi keo vỏ mò.
Ở góc sân, thằng Tí dẫn lũ trẻ thoăn thoắt vót nan, phết hồ dán cánh diều.
Nan tre ngâm kho đền Mẫu dẻo quánh, uốn cong vút mà không nứt thớ.
Tiếng cười đùa lanh chảnh của tụi nhỏ xua bớt phần nào bầu không khí ngột ngạt đang đè nặng từ bờ sông.
“Bậy!
Bậy hết sức!
Nghề thánh thần thông thiên thấu địa mà đem in như in tranh gà lợn thế này thì ra thể thống gì!”
Một giọng the the cất lên.
Lão Ất chống gậy đứng ở bậc tam cấp, vạt áo the thâm run bần bật.
Đôi mắt kèm nhem của lão nhìn trân trân vào đống phù đỏ lòm, hai chòm râu dê rung lên như vừa thấy sự sỉ nhục lớn nhất đời mình.
Đăng chưa kịp bước tới, ông Lộc đã huých vai lão một cái:
“Kìa bác Ất, lúc này còn câu nệ vẽ tay với in khắc!
Cây gạo ngoài kia đứt đôi rồi, bác không phụ một tay thì cái nghiên mực của bác cũng chẳng còn chỗ mà đặt đâu!”
Lão Ất hứ một tiếng rõ to, lẹt xẹt đôi guốc mộc tiến lại gần chiếc mẹt tre phơi phù, hậm hực bốc một lá soi ngược ánh mặt trời.
Lão dí sát mắt vào từng đường chu sa, dường như muốn tìm một nét đứt để mắng cho bõ ghét, nhưng càng soi, trán lão càng nhăn tít lại.
“Đứa nào... đứa nào đục cái ngã ba dương môn này?” Lão làu bàu, giọng bớt gay gắt.
“Nét hơi mảnh, linh khí chạy qua dễ bị nghẽn ở đuôi mắt cua...”
Chẳng đợi ai trả lời, lão buông gậy đánh cộp, ngồi bệt luôn xuống mép chiếu cạnh thau chu sa.
Lão rút phắt cây bút lông cùn dắt sau tai, chấm mực rồi quệt một nét bổ khuyết cực nhanh vào lá phù.
“Đưa hết mấy lá vừa dập qua đây!” Lão gắt gỏng, nhưng tay đã thoăn thoắt đón lấy xấp phù tiếp theo.
“Mắt mũi lũ chúng mày kèm nhem, hở một ly là cháy đen cả cánh diều chứ chẳng đùa!”
Đăng đứng lặng nhìn người thầy phù duy nhất của làng tỉ mẩn nắn từng nét mực dưới mái hiên rêu phong, trong lòng bỗng dâng lên một luồng ấm áp lạ thường.
Yên Thái có thể chỉ là một làng quê nghèo xơ xác, nhưng lúc này đây, dường như chẳng một ai chịu đứng ngoài cuộc.
Đêm đã khuya hẳn.
Tiếng mõ cầm canh từ điếm vọng lại từng tiếng cộc cằn, rời rạc giữa màn sương lạnh.
Cả làng Yên Thái như kiệt sức sau một ngày ròng rã in phù, vót nan; ngọn đèn dầu cuối cùng dưới mái đình cũng vừa tắt ngấm, chỉ còn lại mùi chu sa ngai ngái quẩn quanh trong bóng tối.
Đăng trở mình mãi không sao chợp mắt.
Hình bóng cây gạo cổ thụ đổ ập xuống và vết chém bén ngót của luồng kiếm khí đỏ rực ban sáng cứ chập chờn trước mi mắt.
Cậu khoác vội chiếc áo cộc chàm, lẳng lặng bước ra bờ sông hứng chút gió đêm cho nguội bớt lồng ngực.
Gió từ mặt nước phả lên lành lạnh, mang theo hơi bùn tanh nồng.
Phía bờ bên kia, dãy lều bạt trắng muốt của Thiên Kiếm Tông cắm san sát, những đốm lửa trại lập loè trong sương dày tựa như một bầy mắt thú dữ đang rình rập.
Trên mỏm đá nhô ra mép bến, một bóng người cao gầy đang ngồi bó gối một mình.
Đăng nhận ra vạt áo xanh xám quen thuộc của Tô Mặc.
Anh ngồi bất động như một pho tượng đá giữa làn sương, hai bàn tay chụm lại trước ngực.
Đăng toan cất tiếng gọi thì chợt khựng lại.
Từ giữa những ngón tay của Tô Mặc, một luồng ánh sáng xanh lơ kỳ dị khẽ rỉ ra, hắt lên sườn mặt góc cạnh của anh vệt sáng lạnh buốt.
Đó là một tấm gương tròn nhỏ bằng đồng xanh cỡ lòng bàn tay, không viền chạm trổ nhưng mặt phẳng lì như nước đóng băng.
Dường như có những đường vân sáng li ti đang chạy thoăn thoắt trên bề mặt ấy, lấp loáng như tơ nhện dệt trong đêm.
Tô Mặc chăm chú nhìn vào tấm gương, chân mày hơi nhíu, vẻ mặt nghiêm nghị xa xăm khác hẳn dáng vẻ hay cãi vặt thường ngày.
Tiếng sỏi vụn lạo xạo dưới gót chân Đăng khẽ vang lên.
Chỉ trong chớp mắt, bàn tay Tô Mặc thoăn thoắt lật ngược lại.
Ánh sáng xanh phụt tắt.
Tấm gương đã biến mất tăm vào sâu trong tay áo rộng, nhanh và gọn ghẽ như thể luồng sáng vừa rồi chỉ là một ảo ảnh sương đêm.
Tô Mặc không ngoái đầu lại, chỉ buông một câu đều đều:
“Nửa đêm không ngủ, mai lấy sức đâu mà giữ dây lèo?”
Đăng bước tới, ngồi bệt xuống tảng đá cạnh anh, mũi chân khẽ chạm vào mép nước dập dềnh.
“Em không ngủ được,” Đăng thú thật, mắt ngập ngừng nhìn sang cổ tay áo Tô Mặc.
“Ban nãy... cái gì sáng thế anh?”
Tô Mặc im lặng hồi lâu.
Đôi mắt anh dán chặt vào những đốm lửa trại đỏ quạnh bên kia bờ sông Đáy, nơi những thanh phi kiếm thỉnh thoảng lại vút lên tuần tra, xé toạc màn đêm.
Gió sông thổi lồng qua hai ống tay áo anh phần phật.
Khóe môi Tô Mặc khẽ nhếch lên một nụ cười nhàn nhạt, phảng phất chút tự giễu.
“Một món đồ cũ thôi,” anh nói khẽ, giọng trầm hẳn xuống.
“Tự nhiên thấy nhớ nhà.”
Đăng nhìn sang góc nghiêng của Tô Mặc.
Đôi mắt người cựu đệ tử lúc này dường như trĩu nặng một gánh nặng vô hình nào đó, sâu hoắm và mịt mùng.
Nhà của anh ở đâu?
Một góc nào đó ở Trung Thổ, hay một nơi nào khác còn xa xôi hơn cả những rặng núi phủ tuyết ngoài lời kể của đám lái buôn?
Nhìn bóng lưng cô độc ấy, Đăng nuốt lại những tò mò đang chực trào lên cổ.
Cậu hiểu trong làng này, mỗi người thợ đều có một góc giấu kín trong rương đồ nghề, không ai ép ai phải lật mở.
“Vâng,” Đăng chỉ đáp gọn lỏn một tiếng, rồi ngồi lặng bên anh, để mặc tiếng sóng vỗ bì bọp vào mạn thuyền nan trôi đi trong đêm tối.
Sương sớm trên mặt sông Đáy vừa tan theo ráng hồng của buổi bình minh ngày rằm, để lộ ra cảnh tượng kỳ vĩ chưa từng có trên gò đất sau đền Mẫu.
Ba trăm con diều xếp san sát nhau kín cả triền cỏ xanh rờn, tựa như một đàn chim khổng lồ mang sắc lông đỏ rực đang nép mình chờ gió.
Mặt giấy dó Yên Thái dai mịn phủ kín khung nan tre ngâm dẻo quánh, từng nét chu sa đồ theo mộc bản gỗ thị ánh lên sắc đỏ thắm dưới ánh nắng sớm.
Ở chính giữa sống lưng mỗi con diều, then đồng nhỏ xíu của Đỗ Cầm khóa chặt lấy dương môn hình mắt cua, lạnh ngắt và sắc sảo.
Hàng trăm cuộn dây gai xe chặt gắn ống suốt tre xếp ngay ngắn bên cạnh, thằng Tí và đám trẻ con làng ngồi canh từng con diều, tay áo xắn cao, đứa nào đứa nấy nín thở, vẻ nghịch ngợm thường ngày biến đâu sạch.
Đăng quỳ một gối bên mép gò, miết ngón tay lên mép cánh con diều đầu đàn.
Gió sớm từ lòng sông bắt đầu thổi thốc lên triền dốc, làm ba trăm cánh diều khẽ rung bần bật, phát ra những tiếng xao xác nối nhau như tiếng thở của một thực thể sống đang cựa mình.
Cạnh cậu, Đỗ Cầm đang kiểm tra lại lần cuối những mối hàn chì, trán lấm tấm mồ hôi dù trời còn se lạnh.
Tô Mặc đứng khoanh tay đón gió, vạt áo phần phật, ánh mắt xa xăm dán chặt sang dải đất bồi bên kia sông.
Đúng lúc ấy, mặt nước sông Đáy bỗng chao đảo dữ dội.
“U... u... u... uồm!”
Một tiếng tù và trầm đục, sắc nhọn xé toạc bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm.
Âm thanh mang theo luồng linh áp kinh người cuộn từ bờ bắc dội sang, làm rung chuyển cả những rặng tre già ven đê, nước dưới sông bắn lên từng đợt bọt trắng xóa.
Từ khu trại bạt trắng muốt của Thiên Kiếm Tông, hàng chục đạo kiếm quang màu vàng kim đồng loạt vút thẳng lên tầng mây, kết thành một trận hình sắc lẹm hình mũi tên chĩa thẳng sang Yên Thái.
Cờ đại thêu hình kiếm lệnh bay phần phật giữa tiếng gầm rú của pháp bảo khởi động.
Trận chiến đã điểm.
Đăng đứng bật dậy, tim đập thình thịch như đánh trống trong lồng ngực.
Cậu ngoái nhìn xuống khoảng sân rộng trước cửa đình làng.
Giữa đám dân làng đang nhớn nhác dạt về hai bên mép đường gạch, bác Cả Khang đứng chôn chân ở bậc tam cấp.
Chiếc nón cùi rách rơi lủng lẳng bên hông, chùm chìa khóa điếm canh đeo bên sườn va vào nhau lách cách theo từng nhịp run rẩy của bắp chân.
Khuôn mặt vuông vức thường ngày đỏ gay vì quát tháo nay trắng bệch ra như tờ giấy dó ngâm nước vôi, không còn một giọt máu.
Hai bàn tay hộ pháp buông thõng bên hông, các ngón tay co quắp lại nhưng không sao nhấc lên nổi.
Bác trân trân nhìn luồng kiếm khí chói lòa đang bắt đầu rẽ mây vượt sông, môi mấp máy vài lần nhưng tuyệt nhiên không thốt ra nổi nửa lời.