Gió mùa đông bắc thốc qua rặng tre sau đền Mẫu, mạnh đến nỗi vạt áo chàm của Đăng bay phần phật, quất vào sườn đau điếng.
Mùi phù sa sông Đáy nồng ngái lẫn trong hơi lạnh cắt da, quyện với mùi keo vỏ dó và hồ nếp vừa khô tới trên từng vành khung tre.
Hai lòng bàn tay cậu nóng rực mồ hôi, ướt đẫm cả đoạn dây gai thô ráp đang ghì chặt lấy cổ tay.
“Thả neo!
Đẩy sáo lên!”
Tiếng Đăng hét vừa dứt, hàng chục thợ xeo giấy và đám thanh niên trong làng đồng loạt đạp chân vào đất sét gò đền, nghiến răng giật mạnh tay kéo.
Ba trăm con diều cánh võng đồng loạt vươn mình, nuốt trọn luồng gió dữ dội rồi bốc ngược lên trời cao.
Tiếng sáo khoét bằng gióng nứa cụt đầu đền rền rĩ, từ tiếng vo ve khe khẽ ban đầu nhanh chóng nhập lại thành một hồi vi vu trầm bổng, tầng tầng lớp lớp cuộn trào như tiếng sấm rền lăn dài trên bãi ngô mùa nước cạn.
Đăng ngửa cổ nhìn lên, nín thở.
Dưới ánh sáng đùng đục của buổi sáng rằm, ba trăm cánh diều giấy dó phồng căng như những tấm mộc khổng lồ che rợp khoảng không gò đền.
Trên mỗi thân diều, then đồng do Đỗ Cầm đục rãnh tỉ mỉ bắt đầu rung lên bần bật theo từng nhịp gió rít.
Nét chu sa in bằng mộc bản gỗ thị chạy dọc sống tre, dẫn luồng khí mỏng manh từ then đồng qua cổng dương môn rồi khép kín mạch ở âm môn nơi đuôi diều.
Chỉ một cái chớp mắt, hiện tượng mà Đăng cùng Tô Mặc tính toán suốt mấy đêm đã phát tác trọn vẹn.
Then đồng dao động kích hoạt các thớ linh khí tự nhiên vốn chỉ đáng giá nửa đồng kẽm, ép chúng chạy luẩn quẩn qua ba tầng phù mồi, khuếch đại thành từng gợn sóng giả lập rồi phóng thích ra không gian.
Ánh đỏ lân tinh bùng lên trên từng cánh diều, chói lòa và rực rỡ, tỏa ra từng đợt linh áp gắt gao như thể hàng trăm thanh cực phẩm phi kiếm đồng thời tuốt vỏ, biến cả bầu trời Yên Thái thành một vầng mây rực lửa.
Bên kia bãi bồi, hàng chục đạo kiếm quang đang lao sang như mũi tên xé gió bỗng nhiên chững khựng lại giữa không trung.
Đăng nheo mắt nhìn qua mặt sông sủi bọt trắng xóa.
Đội hình kiếm trận sắc lẹm của Thiên Kiếm Tông rối loạn thấy rõ, kiếm khí sắc lạnh tản mát ra tứ phía.
Những kiếm tu chân truyền vốn ngự kiếm bay thẳng hàng chợt dạt sang hai bên, mũi kiếm chao đảo, lưỡng lự không dám xông tới.
Đăng có thể đoán ra điều gì đang diễn ra trong đầu bọn họ: với đám tu sĩ ỷ vào thần thức để dò xét, bầu trời phía trên gò Yên Thái lúc này không phải là ba trăm con diều dán bằng giấy dó năm đồng một tờ, mà là ba trăm cỗ pháp bảo bậc cao đang ngùn ngụt uy lực, sẵn sàng nghiền nát bất cứ ai dám manh động bước vào phạm vi sát thương.
Một trận thế ngập trời, uy nghiêm đến mức dường như khiến ngay cả những kẻ tự phụ nhất Trung Thổ cũng phải dựng tóc gáy.
Đăng siết chặt cuộn dây gai trong tay, lồng ngực đập dồn từng nhịp vừa căng thẳng vừa hả hê khôn tả.
Bên kia sông, một tiếng gầm chói tai xé toạc không gian bãi bồi.
Đăng thấy ba cỗ chiến xa bằng huyền thiết đen trũi rung chuyển dữ dội.
Ống nòng khổng lồ khắc chằng chịt phù văn rực lửa, rồi từ miệng nòng, một khối cầu lôi hỏa xanh biếc to như cái cối xay vọt thẳng lên trời, kéo theo chiếc đuôi khói đen sặc mùi lưu huỳnh.
“Thiên Hoả Lôi Toa!” Tiếng ai đó trong đám thợ làng sau lưng Đăng thất thanh.
Khối lôi hoả rít lên điên cuồng, xé gió lao thẳng vào giữa bầy diều đang lượn lờ trên gò đền.
*Uỳnh!*
Vầng sáng chói lòa bùng nổ trên tầng không, hơi nóng phả rát mặt Đăng dù đứng cách xa hàng trăm trượng.
Tiếng nổ đanh gọn làm đất dưới chân rung rinh.
Ba con diều trúng luồng hỏa khí lập tức tan thành tro bụi, tàn giấy đỏ lấm tấm rơi lả tả xuống mặt sông như hoa gạo rụng.
Nhưng chỉ có thế.
Gần ba trăm con diều khác vẫn chao liệng trên nền trời rực sáng, tiếng sáo chỉ khựng lại một nhịp rồi lại nương theo khí nóng bốc cao hơn, vi vu rền rĩ.
“Một phát.”
Tô Mặc đứng cạnh Đăng, hai tay giấu trong tay áo thụng, mắt nhìn làn khói vừa tan, giọng bình thản đến lạ lùng: “Một trăm hai mươi khối hạ phẩm linh thạch bay đi trong chớp mắt.
Đổi lấy mười lăm đồng kẽm tiền giấy dó của cậu.”
Chưa dứt lời, cỗ Lôi Toa thứ hai và thứ ba bên kia sông lại đồng loạt gầm rống.
Hai vệt sáng liên tiếp nổ tung giữa không trung, thiêu rụi thêm năm cánh diều, nan tre gãy văng tung tóe.
“Phát thứ hai, phát thứ ba.
Hai trăm bốn mươi khối nữa,” Tô Mặc lẩm bẩm, ngón tay điểm lia lịa trên cổ tay áo như gảy bàn tính.
Đăng liếc thấy khóe môi anh giật nhẹ, dường như đang cố nén một nụ cười mỉa mai.
“Cứ bắn thế này, chưa tới trưa là cạn nửa kho dự trữ của một phân đà.”
Hạ Hầu Liệt bên kia sông dường như đã sốt ruột đến phát cuồng.
Đăng nheo mắt nhìn qua mặt nước mờ mịt khói sóng, thấy bóng áo choàng gấm viền vàng của lão trưởng lão vung lên lia lịa, quát tháo đám đệ tử nạp đạn không ngớt.
Đám kiếm tu cuống cuồng khuân những hòm linh thạch sáng rực đổ vào miệng lò, mồ hôi nhễ nhại, vẻ cao ngạo ban nãy biến sạch bóng.
*Đùng!
Đùng!
Đoàng!*
Lôi Toa liên tục khai hỏa.
Tiếng nổ dồn dập như pháo Tết, bầu trời Yên Thái chốc chốc lại bùng lên những cụm lửa rực rỡ.
Cứ mỗi phát nổ đinh tai, Đăng lại thấy Tô Mặc nhẩm tính, giọng đều đều:
“Phát thứ bảy... tám trăm tư...
Phát thứ chín... hơn một ngàn linh thạch rồi.
Cậu Đăng này, số linh thạch họ vừa đốt trên đầu chúng ta đủ để mua đứt cả chợ phiên phủ Đoan Hùng trong ba năm đấy.”
Nhìn những tàn tro giấy dó năm đồng lững lờ trôi theo gió, Đăng thấy sống mũi cay sè vì khói, nhưng trong lồng ngực lại dâng lên cảm giác khoan khoái kỳ lạ.
Hóa ra pháp bảo tiền rừng bạc biển của đám tu sĩ Trung Thổ, khi đem tính bằng hạt gạo đồng kẽm của dân làng xeo giấy, cũng chỉ nực cười đến thế là cùng.
Tiếng gầm rú đinh tai đột ngột tắt lịm, chỉ còn lại những tràng phì phò nghẹn ứ bốc lên từ ba cỗ Lôi Toa.
Đăng chớp mắt, cố xua đi màn khói khét lẹt đang lượn lờ trước mặt.
Bên kia bãi bồi, các cỗ chiến xa bằng huyền thiết đỏ rực như sắt nung trong lò rèn, phù văn trên thân nòng chớp tắt hỗn loạn rồi xì ra từng luồng khói đen kịt.
Mấy tay chân truyền Kim Đan vốn ngạo nghễ đạp phi kiếm lúc này lảo đảo đáp xuống bãi cát.
Đăng nhìn thấy có kẻ ngã quỵ cả hai đầu gối, hai tay chống đất nôn thốc nôn tháo, sắc mặt xám ngoét như người mất máu.
Những chiếc rương gỗ bọc đồng đựng linh thạch nằm chỏng chơ quanh trận địa, nắp mở toang, bên trong rỗng tuếch không còn một mảnh vụn lấp lánh.
Linh lực của đám kiếm tu dường như cũng bị cỗ máy ngốn sạch cùng đống đá quý, chẳng ai nhấc nổi mũi kiếm lên quá ngực.
“Hết đạn rồi!” Đỗ Cầm đứng trên mỏm đá gò đền hét lớn, mái tóc ngắn bết vào trán vì mồ hôi.
Cô giơ cao lá cờ vải đỏ viền tua rua vàng, quay sang Đăng nhếch mép: “Đến lượt làng Đúc Thượng và Yên Thái trả lễ!”
“Phất cờ đi!” Đăng gào lên, lồng ngực như muốn vỡ tung vì phấn khích.
Lá cờ lệnh đồng loạt hạ xuống.
Phía sau chái đền Mẫu, đợt dây neo thứ hai lập tức bật mở.
Một trăm cánh diều khổ lớn, mình dán kín những bản khắc gỗ phù Tụ Thủy màu xanh chàm, vút thẳng lên không rồi nương theo gió mùa chúi mũi lao dốc xuống bờ sông đối diện.
Then đồng của Đỗ Cầm rít lên ken két, đóng mạch các cổng âm dương, kích hoạt toàn bộ phù đồ mượn hơi ẩm nồng nặc của dòng sông Đáy.
Không phải sấm sét hay kiếm quang tàn sát.
Hàng trăm con diều lao thẳng vào trận địa pháo, rồi đồng loạt bung xòe thành từng cụm phù văn xanh biếc.
Mặt sông Đáy dâng lên thành những cột nước khổng lồ cuốn theo phù sa đỏ ngầu, đổ ập xuống lòng ba cỗ Lôi Toa đang đỏ rực.
Tiếng xèo xèo rợn người bốc lên ngùn ngụt.
Hơi nước trắng xóa che lấp cả một góc bãi bồi, mùi kim loại nung gặp nước lạnh tanh nồng phả sang tận bờ bên này.
Lò hỏa của ba cỗ pháp bảo đắt giá bị dập tắt ngấm, nguội ngắt và nứt toác từng mảng lớn.
Đám đệ tử Thiên Kiếm Tông ướt như chuột lột, đứa ôm đầu chạy dạt, đứa trượt chân ngã chúi mũi vào bùn lầy bãi sông.
Không một ai mất mạng, nhưng sự bẽ bàng hiện rõ trên từng khuôn mặt lấm lem.
Giữa đám mây hơi nước mịt mù, một đạo kiếm quang xanh lè loạng choạng bay vút lên cao.
Đăng thấy rõ Hạ Hầu Liệt đứng trên mũi phi kiếm, áo gấm viền vàng bết chặt vào người vì nước bùn, chòm râu dài cháy sém một bên.
Lão nhìn xuống đống sắt vụn nguội ngắt dưới bãi cát, rồi lại trừng trừng nhìn sang đàn diều giấy rẻ tiền vẫn đang phần phật chao lượn trên nền trời gò đền.
Sắc mặt lão chuyển từ đỏ gay sang xanh mét như tàu lá chuối non.
“Rút!
Mau lui quân qua sông!”
Tiếng thét the the của lão trưởng lão bị gió mùa xé vụn.
Đám kiếm tu tơi tả bên dưới như vớ được phao cứu sinh, cuống cuồng lôi những cỗ chiến xa sứt sẹo trèo lên thuyền, vội vã tháo chạy về bờ bắc.
Tiếng hò reo trên gò đền bùng lên như vỡ bờ khi chiếc thuyền cuối cùng chở đám kiếm tu Trung Thổ dạt dần ra giữa dòng nước xiết.
Lũ trẻ con chạy túa ra khỏi các bụi rậm, reo hò ầm ĩ.
Thằng Tí nhảy cẫng lên giữa bãi đất, hai tay vung vẩy một đoạn khung tre gãy, vừa cười vừa huơ lên trời làm điệu bộ chém kiếm.
Đăng thở hắt ra một hơi dài, buông lỏng những ngón tay đã hằn sâu vệt dây gai đỏ ửng.
Cậu toan bước lại gần Đỗ Cầm để chia sẻ nụ cười nhẹ nhõm thì bỗng một tiếng rít the thé, chói gắt xé toạc tầng không.
Đó không phải tiếng sáo diều, cũng chẳng phải tiếng gió mùa.
Từ khoảng trời mù mịt khói xám phía trên dòng sông, một khối sắt đen sì to cỡ chiếc mũ cối đang xoay tít, đỏ rực như hòn than trong bễ thổi, lao vun vút xuống gò đền.
Đó là một mảnh vỡ từ miệng lò Thiên Hoả Lôi Toa bị nổ toác ban nãy, cuốn theo tàn dư lôi hoả xanh lét, kéo lê một vệt khói khét lẹt cắm thẳng về phía bãi thả diều.
“Tí!
Chạy đi!” Đăng hét lạc cả giọng.
Cậu dợm chân lao tới, nhưng khoảng cách hơn hai mươi bước cùng nền đất sét trơn trượt sau cơn gió ẩm khiến đôi chân cậu khựng lại trong tích tắc định mệnh.
Thằng Tí dường như chẳng nghe thấy gì giữa mớ âm thanh hỗn độn của ngày thắng trận.
Nó vẫn ngửa mặt toe toét cười, ngơ ngác nhìn bóng đen đang phóng như sao băng chụp xuống đỉnh đầu.
Một bóng người vụt qua khóe mắt Đăng.
Nhanh đến mức cậu không kịp nhìn rõ vạt áo.
Ông Phan Lộc, người bố quanh năm chỉ quen lom khom bên khuôn xeo giấy, người mà Đăng ngỡ cả đời chẳng bao giờ bước chân chạy nhanh quá một nhịp thở, bỗng chồm tới như một con sóc rừng.
Đôi bàn chân thô kệch, chai sạn đạp tung đám cỏ mật ướt đẫm, cả thân hình gầy guộc của ông đổ ập xuống, đè nghiến thằng Tí vào lòng đất sét gò đền.
*Xoẹt!
Xèo xèo!*
Mảnh huyền thiết nung đỏ mang theo uy lực lôi hoả quét sượt qua mép đá, cày một rãnh sâu hoắm trước khi vùi trọn vào nửa lưng ông Lộc.
Khói đen bốc lên nghi ngút.
Tiếng vải thô cháy bùng kèm theo mùi khét lẹt của da thịt cháy xém xộc thẳng vào mũi Đăng, nồng nặc và tanh tưởi đến buồn nôn.
Không có tiếng thét xé ruột xé gan nào.
Ông Lộc chỉ thở hắt ra một tiếng cộc lốc, nặng trịch như bị một tảng đá giáng thẳng vào ngực.
Đôi bàn tay gân guốc của ông vẫn bấm chặt lấy hai bả vai thằng bé, ghì cứng nó dưới bụng mình như gà mẹ giấu con dưới cánh diều hâu.
Mảnh kim loại nguội dần, kêu lách tách rồi lăn tịt sang bên, để lại một mảng lưng áo chàm cháy rụi, da thịt đỏ au phồng rộp, lấm lem tro đen và rỉ máu tươi.
“Bố!”
Tiếng gào của Đăng nghẹn lại nơi cuống họng.
Đất trời quanh cậu như sụp đổ tan tành, mọi tiếng cười nói, tiếng gió gầm rú và tiếng sáo trên cao phút chốc biến sạch bách, chỉ còn lại tiếng thở dốc đứt quãng của bố dưới nền đất lạnh.
Cậu quỳ sụp xuống, hai đầu gối dập mạnh vào đá buốt nhói, hai bàn tay run rẩy giơ ra giữa không trung mà không dám chạm vào người ông, nỗi kinh hoàng bóp nghẹt lồng ngực.
Tiếng trống hội từ phía sân đình dội về từng hồi thùng thình, át cả tiếng gió mùa qua rặng tre.
Ngoài ngõ xóm, tiếng người í ới gọi nhau mổ lợn khao làng, tiếng bát đũa lách cách quyện cùng những tràng cười sảng khoái.
Cả Yên Thái như say trong chiến thắng của những kẻ áo vải vừa dùng thứ đồ chơi năm đồng đuổi cút đám tu sĩ ngạo mạn xứ Trung Thổ.
Nhưng trong gian chái lợp tranh nhà Đăng, không khí lại đặc quánh mùi khét lẹt và vị ngai ngái của thuốc giã.
Ánh đèn dầu leo lét hắt lên vách đất những cái bóng chập chờn.
Trên chiếc chõng tre ọp ẹp, ông Phan Lộc nằm sấp, trán tì vào mép gối đẫm mồ hôi.
Nửa lưng bên phải của ông phủ kín những bọng nước phồng rộp to bằng miệng chén, tím tái xen lẫn da thịt cháy xém do hỏa độc của mảnh Lôi Toa găm lại.
Mỗi nhịp thở của ông đều kéo theo một tiếng rên khẽ nén chặt, hai bàn tay thô ráp bấm chặt vào dát tre đến trắng bệch đầu ngón.
Đăng quỳ bên mép chõng, hai ngón tay run rẩy miết lớp mỡ trăn trộn bột lá bỏng vừa xin từ đền Mẫu lên mép vết thương.
Hơi nóng từ da thịt bố phả rát buốt đầu ngón tay cậu.
Mỗi lần ngón tay Đăng khẽ chạm vào, sống lưng ông Lộc lại giật thót, nhưng ông chỉ nghiến răng ken két, dường như sợ buột ra lời than sẽ làm cậu con trai phát khóc.
“Thằng Tí... nó... về với u nó chưa?” Giọng ông Lộc khào khào, nghẹt lại như có trấu nhét trong cổ.
“Nó về rồi bố ạ.
Nó lành lặn, không xây xát một sợi tóc.” Cổ họng Đăng nghẹn ắng.
Cậu cố ghìm cho ngón tay khỏi run, nhưng bát thuốc bằng sành kẹp bên đùi vẫn rung lên từng nhịp lách cách.
“Ừ... thế thì tốt...” Ông Lộc lẩm bẩm, mắt nhắm nghiền, khóe môi khẽ nhếch lên như muốn cười.
“Giấy dó cháy sém một góc thì... gọt bỏ đi là xong...
Người đừng cháy là được...”
Đăng quay mặt đi, nuốt khan một ngụm nước mắt mằn mặn.
Cậu đặt bát thuốc xuống chiếc ghế đẩu cạnh đầu giường.
Ngay bên cạnh là cuốn sổ tay bằng giấy dó thô bọc bìa cật tre.
Trên trang giấy mở rộng, những dòng chữ son và mực tàu Đăng ghi vội trên gò đền vẫn còn mới nguyên.
Từng con số rành rọt: ba trăm cánh diều tốn một quan rưỡi tiền kẽm; mười hai phát Thiên Hỏa Lôi Toa đốt sạch hơn một ngàn tư trăm khối hạ phẩm linh thạch; chiến xa huyền thiết vỡ vụn, đối phương lui quân trong nhục nhã.
Đó là những phép tính sòng phẳng, minh chứng cho sự khôn khéo của đám thợ làng trước pháp bảo ngút trời.
Một ngọn bút lông chấm dở mực nằm nghiêng trên mép sổ.
Đăng nhìn chằm chằm vào khoảng trắng thênh thang ở cuối trang giấy.
Đáng lẽ ra ở đó, cậu phải ghi thêm dòng kết: Trận rằm tháng Mười, làng Yên Thái toàn thắng.
Nhưng nhìn sang mảng lưng cháy rụi của bố, ngửi mùi khét quẩn quanh nơi cánh mũi, ngón tay Đăng cứng đờ lại.
Cây bút bỗng nặng trịch như một thanh sắt nung.
Ngoài đình làng, tiếng hò reo lại rộ lên mừng một tuần rượu mới, vang dội và hân hoan.
Đăng cúi gục đầu bên mép chõng, hai bàn tay buông thõng trên đùi, không thể nào chấm bút viết thêm được lấy một dòng.