Mùi mỡ trăn quyện với vị nồng cay của lá bỏng giã nhuyễn bám riết lấy gian chái nhà suốt ba ngày ba đêm.
Nồi nước thuốc trên bếp trấu liu riu phả khói mỏng lên vách nứa.
Đăng ngồi bẹp dưới sàn, hai mắt cay xè, đầu ngón tay vẫn còn vệt chu sa khô từ trận đánh rằm tháng Mười chưa kịp rửa sạch.
Mỗi lần ông Phan Lộc trở mình, lớp vải xô đắp hờ trên nửa lưng bên phải lại rỉ ra chút dịch vàng lẫn mủ hỏa độc.
Đăng nín thở, dùng que tre vót nhẵn gạt nhẹ bã thuốc cũ ra để đắp lớp mới.
Hơi nóng từ vết thương hầm hập phả vào mu bàn tay, rát bỏng như thể mảnh huyền thiết nung đỏ của cỗ Lôi Toa vẫn đang âm ỉ cháy dưới da thịt bố.
Rạng sáng ngày thứ tư, tiếng gà gáy le te đầu thôn vừa cất lên thì bờ vai gầy của ông Lộc khẽ giật.
Ông khó nhọc mở mắt, hơi thở phào ra nặng nhọc.
Thấy con trai ngồi gục bên mép chõng tre, ông chớp mắt mấy lượt rồi cất giọng khàn đặc:
“Này...
Đăng...”
Đăng giật mình, vội chồm dậy đỡ lấy vai trái của bố:
“Bố tỉnh rồi?
Bố thấy thế nào?
Để con đi rót nước ấm.”
“Từ từ đã... khẽ cái tay thôi,” ông Lộc nhăn nhó, khóe miệng giật giật nhưng cố nặn ra nụ cười méo mó.
“Đừng đụng mạnh.
Lưng bố bây giờ... giòn như bánh đa nướng quá lửa ấy, khẽ cựa một cái là gãy vụn ra ngay.”
Đăng bưng bát nước lại gần, nghe câu đùa quen thuộc mà sống mũi cay xè.
Cậu muốn cười phụ họa, nhưng cổ họng nghẹn ứ, chỉ biết cẩn thận kề miệng bát vào môi bố, đỡ cho ông nhấp từng ngụm nhỏ.
Hỏa độc của tu sĩ Kim Đan ghê gớm hơn nhiều so với vết bỏng lò rèn; nửa lưng sưng tấy, từng thớ thịt đỏ lòm co rút khiến một người thợ xeo giấy quen quăng quật như ông giờ thở sâu cũng phải dè chừng.
Đợi bố uống xong rồi lại thiếp đi, Đăng ngồi lùi về chiếc bàn con kê sát cửa sổ.
Cậu mở cuốn sổ tay bọc da trâu, nơi những trang trước còn ghi chi chít giấy dó, then đồng và số linh thạch vụn đã chi cho ba trăm cánh diều.
Ngọn đèn dầu hạt lạc soi bóng Đăng đổ dài lên vách.
Cậu cầm bút lông, nhưng lần này không tính toán thiệt hại vật liệu.
Ở trang giấy mới còn thơm mùi vỏ dướng, Đăng nắn nót viết từng dòng:
*Bác Cả Khang: trật khớp bả vai lúc ghì dây néo cọc giữ diều cái.*
*Chú thợ rèn Kim Lũng: phỏng rộp hai cẳng tay vì dập tàn lửa Lôi Toa.*
*Lão Ất: cạn sạch linh lực, ngất lịm ở bờ mương, gãy chiếc kính mo cau.*
*Thằng Tí: trầy xước khắp hai đầu gối, rách toạc gấu quần.*
*Bố...*
Đăng dừng ngọn bút.
Mực đen nhỏ xuống một giọt tròn vo, loang trên mặt giấy xốp.
Cậu cắn chặt môi dưới đến khi thấy vị tanh mằn mặn, rồi run rẩy viết nốt ba chữ: *nhiễm hỏa độc*.
Trận thắng rực rỡ bên bờ sông Đáy hoá ra chẳng hề trọn vẹn như tiếng reo hò trong đêm tiệc.
Từng vết xước, từng giọt máu và hơi thở khò khè đau đớn của bố lúc này đều nằm gọn trên trang giấy của cậu, nặng trĩu.
Tiếng bánh xe nghiền sỏi dừng trước ngõ ngắt ngang dòng suy nghĩ của Đăng.
Một cỗ xe bọc đồng mang phù hiệu đồng tiền kép của thương hội Vạn Thông đỗ xịch lại.
Bước xuống xe là gã quản sự béo lùn trong bộ áo gấm màu mỡ gà, mùi xạ hương trên người gã sực nức, lấn át cả mùi khói thuốc om trấu.
Thấy Đăng đứng ở thềm hiên, gã chắp tay cười tít mắt:
“Phan tiểu ca, danh tiếng dàn diều Yên Thái vang khắp đôi bờ sông Đáy, thương hội chúng tôi khâm phục vô cùng!”
Đăng không cười, nét mặt mệt mỏi:
“Quản sự đến có việc gì?
Nhà tôi đang có người ốm, không tiện tiếp khách.”
“Biết chứ, ta biết lão trượng bất hạnh trúng phải tàn hỏa Lôi Toa,” gã hạ giọng ra vẻ xót xa, rồi vẫy tên người hầu mang vào chiếc tráp khảm xà cừ.
Gã mở nắp tráp, bên trong lót lụa đỏ, xếp ngay ngắn mười thỏi trung phẩm linh thạch tỏa lam quang cùng hai lọ sứ nạm bạc.
“Hỏa độc của Kim Đan tu sĩ, thuốc phàm trần sao trị dứt?
Đây là hai viên Thanh Tâm Hóa Độc Đan của Dược Vương Các, kèm một trăm khối trung phẩm linh thạch.
Đổi lại, chỉ xin tiểu ca nhượng cho hai tấm mộc bản in phù Tụ Thủy và then đồng.”
Mắt Đăng dán chặt vào hai lọ sứ.
Tiếng rên nén đau của bố từ trong buồng vọng ra khiến ngực cậu thắt lại.
Một trăm khối linh thạch cùng đan dược cứu mạng ngay trước mắt, cậu chỉ cần gật đầu là bố sẽ thoát khỏi cơn hành hạ.
Đăng nuốt khan, bàn tay run rẩy toan với tới mép tráp:
“Thật sự... trừ sạch được hỏa độc?”
“Đăng!
Dừng tay lại!”
Tiếng quát đanh gọn vang lên.
Đỗ Cầm xăm xăm bước vào sân, chiếc khăn lau dính đầy muội than vắt trên vai, tay lăm lăm chiếc kìm sắt gắp phôi.
Cô đứng chẹn giữa Đăng và chiếc tráp, mắt như muốn tóe lửa:
“Cậu hồ đồ à?
Vạn Thông là phường buôn, nay mua của cậu mười đồng, mai sẵn sàng bán lại cho Thiên Kiếm Tông trăm đồng!
Cậu nghĩ Hạ Hầu Liệt chịu nuốt trôi cục tức này chắc?”
Gã quản sự gượng cười xua tay:
“Đỗ cô nương quá lời, thương hội chúng tôi xưa nay coi trọng chữ tín...”
“Chữ tín của các người viết bằng linh thạch!” Cầm gắt, chĩa thẳng mũi kìm về phía gã.
“Mộc bản lọt về Trung Thổ, kiếm tu giải mã được đường dẫn khí thì trận sau Yên Thái lấy gì chống đỡ?
Đến lúc cả làng thành tro, thuốc của các người cứu nổi ai?”
Lời Cầm như gáo nước lạnh dội thẳng vào Đăng.
Tay cậu khựng lại giữa không trung rồi từ từ rụt về, siết chặt thành nắm đấm giấu sau lưng.
Nhìn đôi mắt kiên định của Cầm, Đăng hít một hơi sâu để xua đi cơn bấn loạn đang làm mờ lý trí.
“Cầm nói đúng.
Mộc bản là công sức của cả mấy làng nghề, tôi không thể bán,” Đăng nhìn thẳng vào quản sự, giọng dứt khoát dù lòng đau như cắt.
“Thuốc của bố tôi, tôi sẽ tự lo liệu.
Mời ông mang đồ về.”
Nụ cười trên mặt gã quản sự tắt ngấm.
Gã hừ lạnh một tiếng, dập mạnh nắp tráp rồi hậm hực quay gót ra xe, không buồn chào lấy một câu.
Chưa đầy hai ngày sau khi gã quản sự Vạn Thông rời đi trong hậm hực, mặt sông Đáy lại dậy sóng ngầm.
Đăng đứng trên gò đền Mẫu, đưa tay che trán nhìn sang bờ bắc.
Sương mù sớm chưa tan hết, nhưng màu áo lam quen thuộc của đệ tử Thiên Kiếm Tông đã lại lấp ló sau rặng lau sậy.
Lần này chúng không kéo đến cùng cỗ Lôi Toa ầm ĩ hay kiếm trận rợp trời, mà chỉ có chừng hai mươi tên, lặng lẽ như loài quạ ăn đêm.
Ở bãi bồi ven sông bên kia, bọn chúng vần tới bảy khối đá xanh cao quá đầu người, dựng đứng thành hình vòng cung hướng về phía làng Yên Thái.
Trên bề mặt mỗi phiến đá, những đường rãnh ngoằn ngoèo đỏ quạch như máu đọng chốc chốc lại lóe lên từng tia sáng xám mờ mờ, lạnh lẽo.
Bọn kiếm tu không qua sông, chỉ đứng quanh các cột đá, chắp tay lạnh lùng nhìn sang.
“Bọn chúng lại giở trò gì đấy?” Đỗ Cầm quệt vệt muội đồng trên má, đứng cạnh Đăng, mắt không rời bờ bên kia.
“Để tôi cho diều qua dòm thử.”
Đăng quay lại bãi đất phẳng sau gò đền, nơi mười hai con diều tuần tra cỡ nhỏ đang xếp hàng ngay ngắn.
Đây là loại diều khung tre cật nhẹ tênh do thợ Bãi Sáo vót, cánh bồi giấy dó hai lớp có in phù thám thính và then đồng thu nhỏ.
Đăng ngồi xổm xuống, lấy ngón tay điểm vào từng then đồng kích hoạt luồng linh lực yếu ớt.
Cậu thả một sợi thần thức mỏng manh bám vào đường dẫn khí trên cánh diều cái dẫn đầu.
“Lên!”
Mấy đứa trẻ xóm bến ném bổng lũ diều lên trời.
Gió sông sớm thổi lồng lộng, nâng mười hai cánh diều xé toạc màn sương, lượn thành hàng cánh cung vút ra giữa dòng.
Tiếng sáo diều vo vo quen thuộc ngân dài ấm áp.
Đăng cảm nhận từng luồng gió đập vào mặt giấy qua sợi thần thức nối liền từ đầu ngón tay.
Cậu khẽ nghiêng cổ tay, cả đàn diều ngoan ngoãn chao lượn, hướng thẳng về phía bảy cột đá bờ bắc.
Nhưng ngay khoảnh khắc con diều dẫn đầu vừa bay ngang qua mép nước, chạm tới phạm vi tỏa ra từ bảy phiến đá xanh, một cơn nhói buốt đột ngột đâm sầm vào thái dương Đăng.
Đầu Đăng ong lên như vừa bị nện một chày cối đá.
Sợi dây liên kết vô hình giữa thần thức và then đồng đứt phựt hệt như sợi chỉ mục chạm lửa.
Đăng loạng choạng lùi lại hai bước, trán toát mồ hôi hột, tay ôm chặt lấy đầu.
Trên bầu trời sông Đáy, đàn diều bỗng khựng lại giữa không trung.
Những con diều đang bay êm bỗng run rẩy bần bật như trúng độc.
Nét chu sa đỏ thắm trên mặt giấy dó vụt tắt ngấm, then đồng truyền khí cứng đờ.
Không còn linh lực điều hướng, mười hai cánh diều chao đảo điên cuồng trong gió xoáy rồi chúc đầu cắm thẳng xuống mặt sông và bờ cát.
Chúng rơi lả tả, chẳng khác nào đàn bướm gãy cánh rụng xuống giữa ngày thu tàn.
Bên kia bờ sông, đám kiếm tu Trung Thổ khẽ nhếch mép cười, vẻ mặt đắc thắng lạnh tanh.
Cơn đau buốt nơi màng tang dịu bớt, nhưng tai Đăng vẫn còn lùng bùng như có cả đàn ong vò vẽ bay quanh.
Cậu cúi gập người, hai tay chống chặt lên đầu gối, từng giọt mồ hôi lạnh nhỏ tong tòng xuống nền đất gò đền.
“Đăng, có sao không?”
Đỗ Cầm chạy vội tới đỡ lấy khuỷu tay cậu, gương mặt cô lộ rõ vẻ hoang mang khi nhìn ra dòng sông phẳng lặng, nơi xác những cánh diều giấy dó đang bập bềnh trôi theo con nước.
Một bóng người vội vã lách qua rặng dâm bụt bước lên gò.
Tô Mặc xốc lại vạt áo chàm, tay còn cầm chiếc thước đo góc bằng gỗ lim dính đầy bụi phấn.
Anh liếc nhìn sắc mặt tái nhợt của Đăng, rồi đưa mắt nhìn thẳng sang bờ bắc, nơi bảy phiến đá xanh vẫn đang tỏa ra những quầng sáng xám mờ mịt.
Mày Tô Mặc nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm.
Ánh mắt anh dán vào trật tự sắp đặt của bảy cột đá, vẻ mặt thoạt nhìn dường như sững sờ, rồi chuyển sang căng thẳng tột độ.
Đăng chưa từng thấy vẻ mặt ấy ở người bạn đồng hành vốn lúc nào cũng điềm tĩnh, tính toán rành rẽ từng bước đi.
“Tỏa Thần trận...” Tô Mặc lẩm bẩm trong miệng, giọng khô khốc.
“Cái gì cơ?” Đỗ Cầm hỏi giật giọng.
Tô Mặc dường như giật mình, vội vàng hắng giọng rồi chỉ tay về phía bãi bồi bên kia sông:
“Là Tỏa Thần trận.
Bảy cột đá kia không dùng để tấn công hay tích tụ kiếm khí, mà là một trận pháp tỏa sóng linh khí nghịch chiều cực mạnh.
Trận văn khắc trên đá tạo ra một vùng nhiễu động, quét sạch mọi luồng dao động yếu ớt trong không gian.
Thần thức của người điều khiển vốn mỏng như sợi tơ nhện, hễ chạm vào phạm vi của trận là bị xé đứt ngay tức khắc.
Mất tín hiệu dẫn khí, các cổng âm dương trên then đồng tự khắc nghẽn lại, diều không rơi mới là lạ.”
Đăng xoa xoa hai bên thái dương vẫn còn nhức nhối, ngẩng đầu nhìn Tô Mặc.
Cậu nhớ rõ lúc nãy sợi thần thức của mình không phải bị đè bẹp bởi áp lực, mà giống như một sợi dây chuông bị một lưỡi kéo vô hình cắt phựt trong nháy mắt.
Nhưng điều khiến Đăng thắc mắc hơn cả là cái tên lạ lẫm mà Tô Mặc vừa thốt ra một cách rành rọt.
“Tỏa Thần trận sao?
Trận pháp ghê gớm thế, sao anh biết tường tận vậy?” Đăng hỏi, giọng còn hơi khàn.
“Một đệ tử ngoại môn như anh cũng được học mấy thứ trận đồ thâm sâu của tông môn ư?”
Bàn tay cầm thước gỗ của Tô Mặc khẽ khựng lại.
Đăng nhận thấy đôi mắt anh hơi đảo đi, bờ môi mím chặt như vừa lỡ lời.
Một thoáng ngập ngừng hiếm hoi lướt qua gương mặt gầy guộc của cựu đệ tử Thiên Kiếm Tông.
“À... thì...” Tô Mặc vội vàng xua tay, nét mặt có phần gượng gạo, “chẳng qua hồi trước ở Nam Nhạc phong, tôi... tôi từng thấy một vị chấp sự dựng thử trận này để nhốt linh thú trong chuồng.
Nhìn hoa văn trên đá tương tự nên tôi đoán vậy thôi.”
Không để Đăng kịp hỏi thêm câu nào, Tô Mặc lập tức xoay người bước nhanh về phía mép nước, chỉ tay về phía chiếc thuyền nan của làng đang thả lưới ven bờ:
“Đừng bận tâm chuyện đó vội!
Đăng, cậu mau bảo mấy đứa nhỏ chèo thuyền vớt mấy con diều rụng ở bờ này lên xem sao.
Phải kiểm tra xem then đồng và mực chu sa có bị xung lực của trận làm hỏng hay không, còn tìm cách mà gỡ!”
Đăng lội qua bãi sậy ướt sũng men theo mép nước, bùn non quánh lại dính chặt lấy đôi dép cói.
Cậu cúi xuống nhặt một con diều rơi dạt vào bãi cát bồi, nơi con sóng lăn tăn đang vỗ từng nhịp vào đuôi nẹp tre.
Đó là con diều cánh cung do chính tay cậu phết hồ, khung tre cật óng vàng uốn cong mềm mại nhờ tay nghề của thợ làng Bãi Sáo.
Đăng nâng con diều lên ngang ngực, cẩn thận gạt đi lớp cát ẩm bám trên mặt giấy, mùi hồ nếp quyện với mùi tanh nồng của bùn sông Đáy xộc vào mũi.
Mặt giấy dó bồi hai lớp dai như da trâu, vẫn nguyên vẹn không rách lấy một vết nhỏ.
Ngón tay Đăng miết dọc theo từng đường chu sa đỏ thắm; mạch phù in từ mộc bản vẫn sắc nét, liền mạch, độ dày từng nét vẽ đều tăm tắp, không hề có dấu hiệu quá nhiệt hay nứt vỡ cổng âm dương.
Chiếc then đồng do Cầm gọt giũa tỉ mỉ vẫn gắn khít khao nơi sống diều, rãnh đồng kẹp chặt lấy nan tre.
Mảnh linh thạch vụn nhỏ như hạt gạo khảm ở đầu then vẫn le lói ánh sáng lam mờ mờ, linh khí bên trong vẫn tích tụ đầy đặn.
Không chập mạch.
Không cháy phù.
Cả hệ thống mạch lạc từ cổng vào đến ngõ ra đều hoàn hảo.
Bản thân con diều chẳng hề hỏng hóc ở bất cứ chỗ nào.
Nhưng lúc này, nó nằm im lìm trên đôi bàn tay cậu, lạnh ngắt và vô hồn như một xác chim chết non giữa làn nước xám xịt.
Chỉ vì sợi tơ thần thức mỏng manh nối từ người thả trên bờ đã bị Tỏa Thần trận bên kia sông cắt đứt ngọt xớt.
Đăng ngồi bệt xuống bờ cát lạnh, mặc cho nước sông thấm ướt sũng gấu quần vá víu.
Xa xa trên gò đền Mẫu, bóng Cầm và Tô Mặc vẫn đứng lặng nhìn ra dòng nước cuộn xiết, in sẫm lại trên nền trời trưa bảng lảng sương mù.
Nếu Thiên Kiếm Tông cứ cắm những cột đá kia ở bờ bắc, bầu trời sông Đáy sẽ mãi là một vùng tử địa đối với thần thức.
Thần thức của một kẻ mang ngũ tạp linh căn như cậu vốn dĩ đã yếu ớt, mỏng manh như sợi chỉ câu, làm sao đủ sức đâm xuyên qua tầng tầng lớp lớp linh ba hỗn loạn để điều khiển diều lượn theo ý mình?
Nếu cứ phụ thuộc vào việc người đứng dưới đất truyền niệm dẫn lối, thì chỉ một trận pháp cản trở tầm xa của đối phương liền có thể biến cả trăm cánh diều thành rác mục.
Một cơn gió sông bất chợt thổi thốc tới từ thượng nguồn, làm vạt áo nâu của Đăng bay phần phật và lay giật cánh diều trên tay cậu.
Tiếng sáo diều nhỏ xíu bằng nứa gắn trên đầu khung khẽ run lên một thanh âm u u mơ hồ rồi lại lịm tắt giữa không gian vắng lặng.
Đăng ngẩng đầu nhìn lên không trung bao la.
Gió sông lồng lộng không hình không bóng, gió chẳng có thần thức, chẳng mượn linh lực, thế mà gió vẫn biết vượt sông, vẫn biết luồn qua từng khe đá lởm chởm, lướt trên ngọn sóng bạc đầu mà bay về phương nam.
Lá cây rụng xuống dòng nước cũng tự biết nương theo lạch sâu mà tránh cồn cát bồi.
Cậu cúi nhìn con diều giấy với những đường mạch phù đỏ rực nằm bất động trong lòng bàn tay.
Một câu hỏi bỗng cồn cào dội lên trong ngực Đăng, bức bối và thôi thúc:
Làm sao để một con diều không cần ai truyền thần thức níu giữ, mà tự bản thân nó có thể biết đường bay?