Chương 12·16 phút đọc

Luật cứng trong lá phù

✻

Khung tre của con diều vớt dưới sông Đáy lên vẫn còn bốc mùi bùn ngai ngái.

Dù giấy dó ngâm rễ cây dướng không bở nát, nhưng mấy vệt chu sa trên cánh diều đã thâm lại, lạnh ngắt như đoạn dây gai bị dao sắc chặt đứt ngang.

Đăng ôm nó vào lòng, hai bên thái dương vẫn còn giật từng cơn sau cú va đập thần thức với Tỏa Thần trận của đám đệ tử Trung Thổ hôm qua.

Cậu men theo lối bậc đá rêu phong leo lên đền Mẫu.

Trời sáng sớm chìm trong một dải sương mù đặc quánh giăng từ mặt sông Đáy lên tận ngọn đa cổ thụ, đứng cách năm bước chân đã chẳng còn rõ bóng người.

Bà Ba Thoải đang dùng chổi đót gom lá khô ngoài góc sân đền.

Tiếng chổi quẹt xào xạc trên mặt gạch bát tràng đều đặn, khoan thai.

Thấy Đăng ôm con diều đứng ngập ngừng ở chân bậc tam cấp, bà chỉ liếc mắt nhìn đống nan tre gãy gập một bên cánh, không hỏi lấy một câu.

“Bà ơi,” Đăng khẽ gọi, giọng vẫn còn khàn đặc vì mệt.

“Trận đá của họ bờ bên kia... cắt đứt thần thức của cháu.

Cháu thử nối lại ba lần, đầu đau như có dùi đục đâm vào óc.

Cứ thế này thì diều chẳng bay nổi qua nửa sông, nói gì tới chuyện canh chừng bọn chúng.”

Bà Ba không buông chổi, cũng chẳng giảng giải về trận pháp hay đạo lý cao siêu.

Bà chỉ đưa đầu chổi chỉ về phía gốc cây thị già ở mé tả sân đền, nơi có một hốc cây mục từ đời nào.

“Lại đây mà xem,” bà thủng thẳng buông bốn chữ.

Đăng bước lại gần.

Giữa màn sương xám xịt chẳng thấy đâu là phương hướng, từng chấm nâu nhỏ li ti vẫn đang vè vè bay lượn trên không trung.

Đó là một đàn ong khoái làm tổ trong bọng thị.

Sương mù dày đặc, vậy mà từng con ong vẫn bay vút ra ngoài khoảng không mờ mịt rồi lại rẽ sương quay về tổ, chân sau trĩu nặng phấn hoa vàng rực.

Đường bay của chúng thẳng tắp, dứt khoát, không chao đảo, không lạc lối.

“Chúng nó đâu có ai dẫn lối,” Đăng lẩm bẩm, mắt dán chặt vào miệng tổ ong.

“Trời mù thì mắt người mù, chứ mắt con ong đâu có mù,” bà Ba Thoải nói, giọng đều đều như tiếng nước chảy trong máng đá.

“Trời có sương đến mấy, trên đầu vẫn có vầng dương le lói soi qua kẽ mây.

Đằng sau đền lại có bụi nhài đang nở hoa.

Nó không cần ai bảo phải rẽ trái hay rẽ phải.

Tự khắc nó biết tìm theo bóng nắng mà định phương hướng, theo mùi mật mà tìm đường về.”

Bà quét nốt cụm lá cuối cùng vào sọt tre, quay lưng bước về phía gian tiền tế, để mặc Đăng đứng chôn chân bên gốc thị.

Một luồng gió lạnh từ sông tạt qua làm sống lưng Đăng rùng mình, nhưng lồng ngực cậu bỗng nhiên nóng rực lên.

Cậu nhìn chằm chằm vào con ong vừa hạ cánh xuống gờ vỏ cây xù xì.

Ong không dùng thần thức của một tu sĩ nào để bay.

Nó chỉ có một đôi mắt nhận biết ánh sáng mờ tỏ, và một cái vòi đánh hơi được mùi hương trong gió.

Nếu không dùng thần thức để dắt con diều đi... thì cớ sao không biến chính con diều thành một con ong?

Một lá bùa không cần người cầm dây giật, mà chỉ cần một cửa ngõ tự biết “ngửi” thấy mùi linh khí phát ra từ kẻ thù.

Đăng chạy thục mạng từ đền Mẫu xuống thẳng lò đúc của Cầm bên bờ sông.

Tiếng bễ thụt phì phò cùng mùi than đá nồng nặc đón cậu ngay từ đầu ngõ.

Trong xưởng, Cầm vừa dỡ một khuôn đồng đỏ rực ra khỏi thùng cát ướt, mồ hôi bết vào trán, còn Tô Mặc thì ngồi xổm trên khúc gỗ mun, cầm que sắt cời tro than vẽ nguệch ngoạc sơ đồ trận pháp xuống nền đất.

“Ta không cần dùng thần thức dắt nó đi nữa,” Đăng thở hổn hển, đặt mạnh con diều rách lên chiếc bàn thợ bừa bãi kìm búa.

Cầm ngẩng lên, quệt vệt muội than trên má: “Nói mớ gì đấy?

Không thả thần thức thì diều bay bằng mắt à?”

“Không bay bằng mắt, bay bằng mũi!” Đăng vớ que than, gạt phắt mấy nét vẽ của Tô Mặc sang bên rồi vạch một vòng tròn lớn.

“Bà Ba vừa chỉ cho tôi xem đàn ong đền Mẫu.

Mù sương thế này chúng vẫn bay thẳng về tổ nhờ ngửi mùi mật hoa.

Pháp bảo, phi kiếm hay lôi toa của bọn Thiên Kiếm Tông khi phát động đều tỏa linh khí ngùn ngụt như đuốc giữa đêm.

Ta chỉ cần làm một chiếc then đồng... không, một cái âm môn biết ngửi mùi!”

Tô Mặc nheo mắt nhìn vòng tròn của Đăng, vẻ hoài nghi ban đầu dần chuyển thành chăm chú.

Anh nhặt một que đóm gãy, chấm nhẹ vào giữa: “Ý cậu là một cổng nghịch đảo?

Bình thường nó đóng chặt ngắt dòng phù.

Nhưng nếu đặt vào đó một mẩu khoáng thạch nhạy cảm, khi nồng độ linh khí bên ngoài vượt ngưỡng, áp lực khí trường sẽ ép mở then chốt?”

“Đúng!

Đúng là như thế!” Đăng đập đùi tanh tách.

“Cửa mở thì mạch thông, gió phù dưới cánh diều tự đẩy nó lao về phía có luồng khí đậm nhất.

Địch cầm bảo vật đứng đâu, diều bay về đó!”

Cầm không nói nửa lời, quẳng đôi kìm sắt xuống đất keng một tiếng rồi lục tung đống phế liệu góc xưởng.

Thoáng cái, cô lôi ra một miếng lá đồng thau mỏng như cánh ve cùng chiếc chuông nhỏ bằng nắm tay con nít: “Cái này ta đúc cho đám lục lạc trâu hội làng năm ngoái, bên trong có nhét vụn linh thạch hạ phẩm.

Coi như pháp bảo giả đi.”

Ba người chụm đầu bên bàn thợ.

Đăng trải tờ giấy dó ba lớp dày dặn, chấm chu sa kéo từng đường mạch cong vút vào tâm.

Tại chỗ giao nhau, Tô Mặc dùng đầu kim khẽ gẩy, đặt miếng lá đồng uốn cong của Cầm vào khe hở nhỏ chưa bằng sợi tóc.

Đó là một âm môn tinh vi: bình thường chắn đứt mạch chu sa, chỉ khi một luồng linh lực đủ dày đè lên bề mặt, sức nặng của khí trường mới ép miếng đồng chạm vào chân mạch đối diện.

Gắn lá phù vào sống lưng con diều cánh cung cỡ nhỏ và cắm thêm mẩu linh thạch vụn cấp lực, Đăng đặt diều xuống đất.

Diều nằm im lìm, mạch chu sa tối thui.

Không một sợi dây cước, cũng chẳng có sợi thần thức nào nối vào đầu Đăng.

“Thử đi,” Đăng nín thở thì thầm.

Cầm lùi xa mười bước, giơ cao chiếc chuông đồng rồi búng nhẹ vào vành chuông kích hoạt vụn linh thạch bên trong.

Một làn sóng linh khí mỏng mảnh gợn nhẹ trong gió sớm.

Tách.

Tiếng động khô khốc vang lên từ sống diều.

Miếng lá đồng rung bần bật rồi sập xuống, vừa khít vào khớp nối chu sa.

Dòng sáng đỏ rực lập tức bừng lên dọc khắp các đường gân giấy dó.

Đôi cánh tre ngâm vỗ phành phạch một nhịp dứt khoát, tự nhấc mình khỏi mặt đất rồi như có mắt, con diều lượn một đường cong tuyệt đẹp giữa xưởng, lao thẳng về phía chiếc chuông đồng trên tay Cầm.

“Được rồi!

Ra bãi thử tiếp!” Cầm túa mồ hôi nhưng mắt sáng rực, giơ chiếc chuông lên vẫy.

Cả ba kéo ra bãi đất trống trước lò đúc.

Đăng kiểm tra lá đồng thau trên sống diều, mọi thứ đều vừa khít.

Cầm chạy ra xa độ ba chục bước, đứng trên mô đất gần rặng chuối lắc nhẹ chiếc chuông để linh khí từ mẩu đá vụn bên trong tỏa ra.

Tô Mặc gật đầu.

Đăng buông tay.

Gió bốc con diều lên cao chừng nửa con sào.

Tiếng “tách” giòn tan vang lên, mạch chu sa bừng sáng.

Nó lượn một vòng đón gió như con cắt đang đảo mắt tìm mồi.

Đúng lúc ấy, từ con đường ven đê có tiếng bước chân thậm thọt.

Bác Ba Thọt, người chuyên nhặt sắt vụn và xỉ đá trong xóm, đang chống gậy đi tới.

Túi áo nâu bên sườn bác trĩu nặng xuống, phồng to bất thường vì đựng mấy mẩu linh thạch vụn gom ở bến đò đem bán cho lò đúc.

Bỗng nhiên, con diều khựng lại.

Mũi nó không hướng về phía Cầm nữa.

Chiếc then đồng rung bần bật, dòng chu sa rực lên sắc đỏ gắt gao.

Con diều chao nghiêng rồi bẻ ngoặt góc lái, lao vun vút về phía con đường mòn.

Nó nhắm thẳng vào ngực áo bác Ba Thọt.

“Bác Ba!

Tránh ra!” Đăng hét lạc giọng.

Bác Ba giật mình ngẩng lên, chỉ kịp thấy bóng đen xé gió lao tới.

Đôi mắt già nua trợn trừng kinh hãi, chiếc gậy tre tuột khỏi tay, bác lảo đảo ngã ngồi bệt xuống vệ cỏ, hoảng loạn ôm lấy đầu.

Đăng lao thục mạng tới trước, trượt dài trên nền đất ẩm rồi giơ hai tay chộp lấy.

Cánh tre quẹt rách một vệt rát bỏng bên má cậu.

Đăng ôm chặt con diều vào ngực, ngón tay miết mạnh bẻ gập miếng then đồng, ép ngắt dòng chu sa.

Ánh đỏ lịm đi.

Đôi cánh tre mềm oặt buông xuôi.

Bác Ba Thọt ngồi thở dốc, mặt cắt không còn giọt máu.

Từ chiếc túi rách, hai mẩu linh thạch vụn văng ra lăn lóc trên cỏ.

“M... mày làm cái trò quỷ quái gì thế hả thằng Đăng?” Bác Ba lắp bắp, ngón tay run rẩy chỉ vào con diều.

“Nó... nó vừa nhắm tao mà đâm đấy à?”

Đăng quỳ giữa đám cỏ may, hai tay run rẩy.

Cậu chẳng nghe thấy tiếng Tô Mặc đang chạy tới, cũng không thấy Cầm hớt hải nhặt gậy cho bác Ba.

Một cơn ớn lạnh bò dọc sống lưng.

Mẩu linh thạch trong túi bác Ba nồng hơn mẩu đá trong chuông của Cầm, thế là con diều lập tức đổi hướng.

Nó là một cỗ máy đui mù.

Nó không biết ai là đệ tử Thiên Kiếm Tông mang phi kiếm, ai là người làng nghèo cất vài mẩu đá vụn để đổi gạo.

Nếu vừa rồi trên sống diều không phải lá phù gió, mà là một lá Hỏa Cầu Phù nén chặt chu sa thì sao?

Trước mắt Đăng bỗng hiện lên nửa lưng cháy đen chằng chịt vết bỏng của bố đêm rằm tháng Mười.

Mùi da thịt khét lẹt dường như lại xộc vào mũi.

Nan nứa cấn sâu vào lòng bàn tay cậu, rỉ ra một giọt máu tươi.

Chờ bóng bác Ba Thọt tập tễnh khuất sau rặng tre cùng mấy mẩu linh thạch vụn, Đăng mới quay phắt lại, hai tay siết chặt khung diều đến mức khớp ngón trắng bệch.

“Tháo nó ra,” Đăng gằn giọng.

“Tháo hết mớ then đồng với phù dò này ra.”

Tô Mặc cau mày: “Cậu điên à?

Nó đã tự tìm đến chỗ linh khí đậm nhất mà không cần một sợi thần thức nào.

Thử nghiệm vừa rồi là đại thành công!”

“Thành công cái nỗi gì?” Đăng hét lên.

“Nó suýt đâm toạc mặt bác Ba!

Bác ấy chỉ nhặt mẩu đá vụn đem đổi gạo, có phải kiếm tu bờ bên kia đâu!”

Tô Mặc thở dài, vẻ mặt dửng dưng như nhìn một đứa trẻ làm ầm ĩ: “Trận mạc xưa nay đao kiếm vô tình, pháp bảo tung ra còn ngộ thương đồng môn.

Đã là chiến trận thì khó mà rạch ròi người với vật, linh thạch nằm trên người phàm hay tu sĩ thì cũng chỉ là một khối linh khí.

Muốn diều tự diệt địch thì phải chấp nhận sai số.”

“Sai số cái con khỉ!”

Đăng dấn bước tới, ngực phập phồng dữ dội.

Trước mắt cậu lúc này không phải mớ lý lẽ trận pháp của Tô Mặc, mà là căn buồng sực mùi hỏa độc, là nửa lưng cháy đen rỉ nước vàng của bố mỗi bận rỏ dầu mù u, là vết sẹo trên trán thằng Tí.

“Bố tôi suýt chết vì thứ hỏa độc không phân biệt ai với ai ấy đấy!” Giọng Đăng nghẹn lại nhưng đanh thép.

“Phù làm ra để giữ làng, để người yếu không bị người mạnh đè đầu cưỡi cổ.

Nếu nó quay sang cắn xé chính người làng mình chỉ vì mẩu đá vụn trong túi, thì khác quái gì Thiên Hoả Lôi Toa của lão Hạ Hầu Liệt?”

Tô Mặc khựng lại trước ánh mắt rực lửa của Đăng, đôi môi mím chặt rồi cụp xuống đất.

Cầm nãy giờ đứng bên bễ lò mới bước lại, vỗ mạnh vào vai Đăng một cái: “Thôi, cãi nhau ích gì.

Thằng Đăng nói đúng.

Đúc ra cái nồi mà nấu cơm khét lẹt thì vứt.

Không phân biệt được người sống thì dẹp đi, đừng thả.”

“Không dẹp,” Đăng hít một hơi sâu, ngồi sụp xuống bậu cửa rồi giật lấy thanh dũa thép của Cầm.

“Nhưng phải khóa nó lại.”

Cậu lật ngửa con diều, soi thật kỹ đường chu sa dẫn từ then ngửi linh khí đến mạch đẩy gió.

Tại điểm thắt nút hiểm hóc nhất, Đăng đặt lưỡi dũa xuống, vạch một rãnh âm môn thứ hai.

“Cậu định làm gì?” Tô Mặc bước lại gần, giọng đã dịu bớt vì tò mò.

“Khắc thêm một cái then khóa chết,” Đăng không ngẩng đầu, tay dũa cọ vào kim loại ken két.

“Sinh khí của con người khác với linh thạch.

Người sống có hơi ấm, có khí huyết lưu chuyển.

Cầm, cho tôi mẩu lá đồng non pha thiếc mỏng nhất, loại hễ gặp nhiệt là giãn nở ấy.”

Cầm hiểu ý ngay, quay vào xưởng mang ra miếng kim loại mỏng như cánh chuồn chuồn.

Đăng cẩn thận cắt gọt, uốn cong rồi chốt đè ngang qua rãnh chu sa.

“Một cổng âm môn nghịch đảo,” Đăng chỉ đầu kim vào miếng đồng vừa đặt.

“Then thứ nhất ngửi thấy linh thạch thì mở mạch cho diều lao tới.

Nhưng chỉ cần đến gần người sống, hơi ấm sinh khí phả vào sẽ làm lá đồng non này nở ra, lập tức sập xuống ngắt đứt đường dẫn.

Hễ có hơi người, phù tự tắt ngấm.

Nó thà rơi rụng xuống đất như khúc gỗ mục, chứ dứt khoát không được đâm vào ai.”

Lá phù giờ đã có then biết tự ngắt, nhưng khung diều lại quá nặng.

Cõng thêm hai then đồng cùng mẩu đá non thử nhiệt, đôi cánh tre Yên Thái chỉ liệng được vài chục trượng là đuối sức cắm đầu xuống đất.

Muốn diều lướt gió qua bờ bắc sông Đáy, lượn trên đầu bảy cột đá của Thiên Kiếm Tông mà không oằn gãy, Đăng cần ngón nghề vót nan độc nhất vô nhị của làng diều Bãi Sáo.

Cậu xốc quai nải, một mình cuốc bộ dọc triền đê gần chục dặm.

Vừa bước vào Bãi Sáo, tiếng sáo đẩu, sáo còi đã vi vu ngập trời xanh.

Hai bên ngõ, những gióng tre gai ngâm bùn óng ánh được dựng tựa bờ giậu phơi nắng.

Đăng tìm đến căn nhà ngói bề thế của ông trùm diều—người nghe đồn chỉ liếc mắt cũng biết cọng nan vót dày mỏng thế nào để đón trúng luồng gió nghìn trượng.

Đặt gói chè búp Yên Thái lên chõng tre, Đăng mở tay nải bày con diều có then âm môn ra trước mặt ông lão.

Cậu kể rành rẽ về mối nguy bên bãi bồi, về bảy cột đá xanh Trung Thổ đang dòm ngó đền Mẫu, rồi khẩn khoản xin ông chỉ cho bí quyết vót nan bẫy gió, để diều Nam Việt bay xa mà vẫn vững vàng.

Ông trùm ngoài sáu mươi, tóc bạc cước, thong thả nhai miếng trầu đỏ quạch.

Đôi mắt ti hí liếc qua mớ dây đồng và giấy phù kỳ quặc, mặt lạnh tanh:

“Anh nói nghe bùi tai lắm,” ông nhổ toẹt bãi bọt trầu xuống gốc cau.

“Nhưng hương ước làng Bãi Sáo khắc trên bia từ xưa: nghề vót nan chỉ truyền cho con trai, con dâu; con gái gả đi xứ khác còn không được bén mảng xem gọt tre.

Anh là thằng nhóc vắt mũi chưa sạch ở làng xeo giấy, lấy quyền gì đòi học lỏm miếng cơm tổ tiên chúng tôi?”

“Cháu không học để bán diều dạo!” Đăng sốt ruột níu mép bàn.

“Đám kiếm tu Trung Thổ đã dựng trận sát bờ sông rồi cụ ơi!

Đợi chúng chiếm xong linh mạch Yên Thái, đền Mẫu bị bẻ gãy, thì Bãi Sáo này liệu có còn đất mà thả diều hứng gió?”

Ông trùm đứng phắt dậy, vung tay xua như đuổi ruồi: “Làng nào biết hương ước làng nấy!

Nước sông Đáy chưa ngập vào sân nhà này thì việc quái gì tôi phải đem ngón nghề dòng họ đi phát chẩn?

Cầm lấy mớ đồ mã của anh rồi cút về Yên Thái mà xeo giấy!”

“Rầm!”

Hai cánh cổng gỗ lim đóng sập trước mũi Đăng, bụi rơi lả tả xuống vai áo.

Tiếng then gỗ gài cạch bên trong vang lên dứt khoát, cắt phựt mọi lời van nài.

Đăng đứng trơ trọi giữa con đường rải dăm tre mục.

Trên cao, tiếng sáo diều Bãi Sáo vẫn vi vu trong trẻo, nhưng lọt vào tai cậu lúc này nghe buốt giá vô cùng.

Yên Thái khư khư giữ cối giã dó, Đúc Thượng giấu kín bí quyết pha đồng, còn Bãi Sáo cài then sắt khóa chặt từng cọng nan tre.

Đứng trước cánh cổng khép chặt vì sợ mất nghề tổ, Đăng nhìn con diều lẻ loi trong tay, lòng dấy lên nỗi hoang mang trĩu nặng: Kẻ thù bên kia sông là tông môn đồ sộ với hàng trăm phi kiếm chung một hiệu lệnh, còn đất Nam Việt lại chia năm xẻ bảy sau từng lũy tre xanh...

Làm sao người ta có thể ghép những mảnh làng rời rạc ấy lại với nhau trước ngày giông bão?

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương