Đôi guốc mộc nện côm cốp trên ngõ gạch, bụi đường gần chục dặm bám đầy ống quần xắn móng lợn.
Vừa bước qua bậu cửa, cơn tức nghẹn ở cổ họng vẫn chưa chịu tan, Đăng co chân đá văng cái nong sứt cạp đang dựa bên vách nứa.
Cái nong lăn lông lốc ra sân, rải mấy mảnh xơ dó khô khốc kêu ràn rạt.
“Cái nong nó có nợ tiền mày đâu mà đá?”
Tiếng ông Phan Lộc cất lên khàn khàn từ chiếc phản gỗ kê sát gian ngoài.
Đăng giật mình thấy bố đã ngồi dậy, lưng trần quấn chằng chịt vải xô thấm đẫm nước cốt lá bỏng xanh ngắt, mùi nồng át cả khói nhang.
Cậu vội chạy lại đỡ:
“Bố dậy làm gì sớm thế, vết bỏng còn chưa lên da non mà.”
“Nằm mãi mỏi cái xương sườn,” ông Lộc nhăn mặt vịn vào mép phản, rồi liếc vết xước còn rớm máu trên má con trai, mắt nheo lại vẻ trêu chọc.
“Sao, sang Bãi Sáo bị người ta thả chó đuổi, hay bị con gái nhà nào hắt nước rửa rau vào mặt mà hầm hầm như bồ hóng thế?”
“Bố còn đùa được,” Đăng ngồi bệt xuống ngạch cửa, ôm lấy đầu gối, ấm ức giãi bày.
“Con nói rát cả cổ, bảo là học cách vót nan để thử nghiệm cứu chuyện bờ sông, thế mà cụ trùm Du vừa nghe xong đã sập ngay cổng lại.
Cụ bảo hương ước làng cấm, nghề này sống để dạ chết mang theo, chỉ truyền cho con trai với con dâu.
Giữ khư khư như giữ của mả, nan diều thôi chứ có phải bí kíp thành tiên đâu!”
Ông Lộc chép miệng, bật cười khùng khục khiến vết thương kéo căng làm ông khẽ xuýt xoa.
“Mày tưởng cái nghề của người ta nhặt ngoài bãi sông chắc?” Ông vỗ nhẹ lên đùi, giọng chùng xuống nhưng mắt vẫn lấp lánh ý cười.
“Thế mày sang đấy, hai bàn tay trắng mở mồm xin bí quyết ba đời, mày đã mang cho người ta được bát canh ngô nào chưa?”
Đăng ngớ ra:
“Nhưng... con làm việc chung mà bố, có giữ cho riêng mình đâu?”
“Làng nào biết làng nấy, việc chung của mày người ta đã thấy cái lợi đâu mà đòi họ xẻ thịt rút ruột?” Ông Lộc lắc đầu.
“Hồi xưa, cụ tổ làng mình xeo giấy, tờ thì dày như bánh đa, tờ thì mỏng rách toạc.
Lúc ấy làng bên có nghề đan mành liềm bằng trúc tinh xảo lắm, nước chảy qua mà sợi không lọt.
Cụ tổ mày vác mặt sang xin cũng bị chửi cho vuốt mặt không kịp.
Về sau cụ phải đem cả bí quyết ngâm vỏ dó bằng nước tro rơm nếp với nhựa cây mò — thứ giữ cho giấy cả trăm năm không mọt — sang đổi, hai bên cùng thề giữ lời, làng mình mới có cái khuôn xeo phẳng lì như bây giờ đấy con ạ.”
Đăng sững sờ.
Gió chiều thổi vào mang theo vị ẩm phù sa và mùi mực tàu quen thuộc trong xưởng.
Cậu nhìn xuống hai bàn tay mình — những ngón tay dính chu sa đỏ quạch và vết dằm tre còn cắm sâu dưới da.
Cậu đã hùng hổ sang Bãi Sáo với tâm thế của kẻ đi làm việc lớn, nhưng thực chất chẳng khác nào đứa trẻ con vô phép chạy sang đòi bẻ ngô nhà người ta mà không thèm chào một câu.
Cái ngượng ngùng bốc lên tận mang tai, nóng ran hơn cả vết xước trên má.
Muốn người ta mở then cài, trước hết lòng bàn tay mình phải có thứ gì đáng để người ta chìa tay ra đón.
Sương sớm rằm tháng Một tan dần trên bến sông, nhường chỗ cho mùi điệp óng ánh và mùi mực thông nồng đượm của chợ tranh Hồ Khê.
Giữa bãi đất đối diện cây đa chợ, Đăng trải manh chiếu cói, bày la liệt những thếp giấy dó Yên Thái mỏng mà dai, âu chu sa đỏ quạch cùng hai tấm mộc bản khắc phù đuổi muỗi.
Cậu hắng giọng cất tiếng rao:
“In phù đuổi muỗi đây!
Không lấy tiền, không bán bùa!
Bà con cô bác ai muốn tự tay in về dán chuồng lợn, dán đầu giường cứ nhào vô!”
Mấy người đi chợ xúm lại, mắt tròn mắt dẹt.
Ở Nam Việt, một lá phù trừ muỗi của thầy phù phải đổi bằng đấu gạo, nay lại có đứa dở hơi bày ván cho không.
Lão Ất đứng cạnh mép chiếu, hai tay chắp sau đít, vạt áo the bạc phếch bay trong gió rét.
Lão xoi mói nhìn đám đông, mồm lầm bầm:
“Rõ rỗi hơi.
Khí thiêng trời đất mà rải như bánh đa vụn.
Mất hết cả cái uy nhà thầy!”
Càu nhàu là thế, nhưng hễ thấy bác nông dân cầm con lăn lệch tay, lão lại nhảy chồm tới gạt phắt:
“Ấy ấy, cái tay bậy bạ chưa kìa!
Đi nét từ dương môn sang tả rồi mới quặt về âm môn.
Đè bẹp dí thế chu sa dính bệt vào nhau, linh khí nghẽn lại, tối muỗi kéo cả họ đến đốt cho sưng mông!”
Bác nông dân làm theo lời lão, quả nhiên lá bùa bốc lên làn khói mỏng nhè nhẹ, mùi cỏ mần trầu tỏa ra khiến lũ bọ mắt quanh vũng nước dạt sạch.
Đám đông ồ lên thích thú, kẻ xốc nách con, người chìa tay đòi thử.
Đăng mải miết quét mực, mồ hôi rịn trán dù gió sông thổi thốc.
Cậu nhíu mày nhìn những tờ phù vừa bóc.
Mực chu sa pha dầu lai hơi sệt, lúc dập xuống giấy dó xốp thường lem ở góc ngoặt gấp.
Nét vẽ dày mỏng không đều khiến linh khí chạy chập chờn, lá được lá hỏng.
“Ván gỗ thị mịn đấy, nhưng tay đục còn non lắm.”
Một bà cụ trạc sáu mươi tuổi, khăn điều vấn cao, hai ngón tay cái chai sần dính phẩm chàm đen nhánh cất tiếng.
Bà nhặt lá phù hỏng soi dưới nắng, rồi gõ móng tay côm cốp vào mộc bản của Đăng:
“Khắc nét nổi nông choèn, thành vách lại đứng thẳng đuột.
Chu sa nặng hạt hơn mực than, khi miết chổi xơ mướp, mực thừa không có chỗ thoát nên tràn sang rãnh bên, nhòe là phải.”
Đăng chắp tay lễ phép:
“Dạ, cháu tự đục nên chưa rành.
Xin bà chỉ dạy cho cháu với ạ.”
Bà thợ tranh cười khẽ, rút từ cạp váy con dao trổ chuôi cong láng bóng.
Lưỡi dao nghiêng đi, gọt phớt một đường dọc rãnh dẫn khí:
“Muốn mực không phòi thì phải vát mép ván xiên chừng nửa góc hạt ngô.
Chỗ nào linh khí tụ nhiều, mi phải đục nét chìm xuống lòng gỗ, để tờ giấy ép vào tự hút lấy mực.
Nhìn đây này.”
Dao lướt thoăn thoắt, dăm gỗ thị li ti bắn ra như rơm vụn.
Đăng nhìn từng đường hạ dao vát mép chuẩn xác, đầu óc bừng sáng.
Phù văn khi chuyển thành mộc bản chính là bờ rãnh dẫn dòng chảy, bờ có nghiêng đều thì nước mới không tràn.
Cậu vội chấm chổi xơ, phết lớp chu sa mới rồi đặt tờ dó mỏng tang lên, miết nhẹ một đường xoa tròn.
Khi mép giấy được bóc lên, vệt bùa đỏ tươi hiện ra sắc lẹm như một sợi tơ đồng, dứt khoát và khô ráo, không còn vương một giọt lem nào.
Mạch phù rung lên một tiếng ngân trong trẻo, tựa như hơi thở vừa thông suốt.
Đăng vừa nâng tờ giấy lên hong gió thì thấy bóng người quen quen lách qua đám đông.
Cậu nhận ra ngay dáng lưng thẳng tắp như gióng tre của cụ trùm Du làng Bãi Sáo.
Cụ mặc chiếc áo chẽn nâu bạc màu vai, nách cắp bó vầu, đứng sững cách mép chiếu vài bước chân.
Đôi mắt sau cặp lông mày bạc nhìn chòng chọc vào cảnh người ta tíu tít in bùa, rồi dừng lại trên tấm ván vừa được sửa nét của Đăng.
Hai bàn tay gầy gò nổi gân xanh ghì chặt lấy bó tre.
Đăng lau vội tay dính chu sa vào mép tạp dề.
Cậu không nhắc chuyện bị đóng sập cổng hôm qua.
Nhớ lời bố dặn, Đăng lấy ba lá phù giấy dó màu ngà đã chuẩn bị từ sớm, hai tay nâng ngang ngực bước lại gần.
“Cháu chào cụ trùm.
Cháu không dám xin cụ chỉ nghề nữa đâu ạ.
Nay gặp cụ đi chợ, cháu chỉ xin biếu cụ mấy lá phù thăng bằng này thôi.”
Cụ trùm Du khẽ giật mình, toan lùi lại, nhưng ánh mắt không giấu nổi tò mò khi liếc xuống đường nét son đỏ au.
“Phù thăng bằng?” Giọng cụ khô khốc như tiếng nứa cọ vào nhau.
“Làng tao làm diều bằng tre bằng gió, không chơi trò bùa chú gạt người.”
“Không phải bùa chú đâu cụ,” Đăng vội nói.
“Hôm hội rằm tháng Mười, con diều đại giáp Đông của làng cụ lên cao tới trăm trượng, tiếng còi u u át cả sấm sông Đáy, đẹp đến rợn người.
Nhưng gió trên tầng mây đảo chiều, cánh tả hẫng gió một nhịp là lộn nhào cắm đầu xuống bãi vỡ toang, cháu tiếc đứt ruột.
Mấy lá này cháu vẽ có then gió, hễ cánh chùng xuống, linh khí tự bung ra đỡ lấy nan tre nửa khắc để diều đón lại luồng phong.
Cụ cầm lấy dán thử vào sống diều xem có đỡ uổng công bao tháng ngày vót nan không ạ.”
Cụ trùm Du đứng chết trân.
Ngón tay trỏ vàng khè khói thuốc của cụ run run chạm nhẹ vào thớ giấy dó.
Linh khí từ nét chu sa vừa ráo khẽ rung lên một nhịp ấm áp dưới đầu ngón tay.
Đôi vai gầy guộc của cụ chùng hẳn xuống, nét mặt khắc khổ thoáng qua một vẻ mỏi mệt.
“Uổng công...
Mày nói đúng, uổng công lắm,” cụ lẩm bẩm, mắt nhìn vô định về bến đò Hồ Khê nơi phu thuyền đang kéo dây chão.
“Thằng cả nhà tao, đứa biết nắn nan cong đều như vầng trăng khuyết, tháng trước đã quẳng dao vót, xuống bến đò kia kéo thuyền thuê rồi.
Nó bảo vót cả tháng không đổi nổi một đấu gạo cho con, giữ nghề làm cái gì.”
Cụ trùm Du thở ra một hơi dài nghe nặng trĩu:
“Hương ước Bãi Sáo mấy trăm năm nay cấm tiệt người ngoài.
Con gái gả đi không được dạy, con rể không được mó vào, chỉ truyền cho con trai với con dâu.
Nhưng con trai thì bỏ xứ, con dâu chỉ lo chạy ăn từng bữa, ai rỗi hơi cạo từng sợi cật tre đến toét mười đầu ngón tay?
Cứ ôm khư khư cái lệ ấy, tao nhắm mắt thì cái nghề nan diều Bãi Sáo cũng theo xuống lỗ thôi con ạ.”
Khói trầm bảng lảng quanh những cột lim đen bóng của ngôi đình Bãi Sáo.
Dưới xà, hàng chục bộ sáo tre treo lủng lẳng rung lên u u mỗi khi gió sông Đáy lùa qua ô lộng.
Đăng ngồi bên mép chiếu cói, cạnh Đỗ Cầm vẫn đeo chiếc tạp dề da còn vệt xỉ than.
Cụ trùm Du vừa dứt lời xin phép cho Đăng học việc vót nan, anh Trạc — con trai thứ của cụ, nét mặt góc cạnh giống cha như tạc — đã đập mạnh bàn tay chai sạn xuống mặt phản:
“Không được!
Tre nứa Bãi Sáo nuôi người Bãi Sáo, cọng nan bay lên là mồ hôi bao đời chắt bóp lại.
Hương ước định rõ: truyền tử bất truyền ngoại, chỉ con trai con dâu mới được cầm dao vót.
Cụ đem bí quyết giấu mấy trăm năm đi dâng người ngoài, sau này xuống suối vàng ăn nói thế nào với tổ tiên?”
Mấy cụ kỳ mục trên sập gụ chép miệng xì xào, gật gù vẻ đồng tình.
Giữa lúc không khí ngột ngạt, Đỗ Cầm đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh, giọng sang sảng át cả tiếng sáo trên mái đình:
“Các bác cứ ôm khư khư lấy cái lệ ấy rồi chờ nghề nó chết mục ra đất à?
Bên Đúc Thượng nhà cháu xưa còn ngặt hơn!
Hương ước cấm tiệt đàn bà con gái bén mảng đến lò nung, sợ vía độc làm rỗ đồng, hỏng mẻ đúc.
Thế rồi đói kém, trai tráng phiêu dạt, lò tắt lửa, thợ già run tay không nâng nổi gáo rót.
Nếu ngày ấy các cụ Đúc Thượng không cắn răng sửa hương ước cho con gái đứng lò quấy lửa, thì hôm nay lấy đâu ra một đứa như cháu ngồi đây đúc được chuông đồng, ép được lá chắn khí?”
Cô nhìn thẳng vào anh Trạc, mắt lóe lên vẻ bướng bỉnh:
“Người tài bỏ xứ đi kéo thuyền, người ở lại thì khư khư giấu giếm.
Giữ nghề mà để nghề chết queo trên tay thì có tội với tổ tiên gấp trăm lần người dám mở cửa!”
Cả gian đình nín bặt.
Thấy cụ Du khẽ cúi đầu, Đăng liền đứng dậy vái chào các bậc kỳ mục, giọng đĩnh đạc:
“Thưa các cụ, Yên Thái không sang xin không của làng Bãi Sáo một tấc nan nào.
Chúng cháu xin đem trọn mộc bản phù thăng bằng và cách pha chu sa sang dạy cho từng nhà.
Có lá phù này, diều Bãi Sáo gặp cuồng phong không lo lộn nhào, sáo vút lên mây mà nan không sợ gãy.
Hai làng dạy nhau, đôi bên cùng có nghề mới để ấm no, chứ chẳng ai cướp miếng cơm của ai.”
Cụ tiên chỉ vuốt chòm râu bạc, liếc ba lá phù giấy dó đang tỏa ra làn khí ấm dịu trên khay.
Sau một hồi thì thào với hàng kỳ mục, cụ gõ mạnh chiếc quạt ngà xuống mép sập:
“Con bé thợ đúc nói chát nhưng trúng cái lý đất trời.
Đổi!
Cho phép lão Du truyền cách vót cật tre bánh tẻ và phép hơ dầu trẩu cho thằng bé Yên Thái.
Đổi lại, làng Yên Thái phải cắm người ở đình dạy thợ Bãi Sáo in cho xong trăm lá bùa giữ gió trước hội thả diều tháng Ba.
Lời đã ước, ghi vào sổ bộ!”
Đêm về khuya, gió sông Đáy thốc qua bờ rào mang theo hơi lạnh buốt của cữ tháng Một.
Xóm Yên Thái đã tắt đèn từ lâu, chỉ còn tiếng côn trùng rúc rỉ rả dưới bụi chuối ven ngõ.
Đăng trằn trọc trên chiếc chõng tre không sao chợp mắt.
Trong đầu cậu vẫn quẩn quanh lời cụ trùm Du dặn về thớ cật tre bánh tẻ, về độ dẻo khi hơ qua than đượm dầu trẩu.
Cơn ngứa ngáy của người thợ vừa vỡ vạc điều mới lạ thôi thúc cậu tung chăn ngồi dậy.
Cậu muốn ra xưởng lấy mấy thanh nan vầu vừa chuốt ban chiều vào ngắm lại, tính xem khi uốn cánh diều thì gắn then nhiệt vào đốt nào cho cân.
Chân trần bước êm ru trên lối gạch vỡ, Đăng men theo bờ ao về phía xưởng giấy.
Cửa xưởng khép hờ, qua khe nứa mục lọt ra một vệt sáng kỳ lạ.
Đó không phải sắc vàng vọt ấm áp của đèn dầu lạc mà là quầng sáng xanh biếc, lạnh ngắt và chập chờn như ánh lân tinh.
Đăng nín thở khẽ hé liếp cửa nhìn vào.
Dưới góc bàn thợ, Tô Mặc đang ngồi còng lưng, bóng đổ dài ngoằng lên vách đất.
Anh không thắp đèn.
Thứ chiếu sáng gian xưởng là tấm gương nhỏ bằng bàn tay dựng cạnh nghiên mực, tỏa ra ánh sáng xanh lơ mờ ảo.
Trên mặt tấm gương xanh ấy, không hề soi bóng người, mà đang thoăn thoắt cuộn trôi những dòng ký tự li ti sáng rực như đàn kiến lửa nối đuôi nhau bò qua làn nước sâu.
Tô Mặc cầm chiếc bút lông đầu nhọn hoắt, cẩn thận chấm từng giọt mực không màu, tỉ mỉ chép sơ đồ lên dải lụa mỏng tang dán trên mặt gỗ.
Mắt Đăng căng ra.
Cậu nhận ra ngay từng nét vẽ trên mảnh lụa ấy.
Đó chính là sơ đồ âm môn bằng lá đồng thau Đỗ Cầm đập bẹp từng góc, cùng then khóa nhiệt pha thiếc cậu thức trắng mấy đêm để cân chỉnh độ co giãn theo hơi ấm da người.
Từng thông số độ dày mỏng của lá đồng, từng mối tiếp giáp giữa mạch chu sa và kim loại đều được Tô Mặc ghi chép rành rẽ, chi tiết đến từng chân tơ kẽ tóc, tựa như muốn bóc trần toàn bộ ruột gan con diều.
Cậu thanh niên họ Tô chăm chú đến mức ghìm cả hơi thở, thỉnh thoảng liếc nhìn những dòng chữ chạy trôi thoăn thoắt trên mặt gương xanh, rồi lại lia ngọn bút mảnh như sợi tơ trên thớ lụa.
Gió đêm bất chợt lùa qua kẽ liếp, lay động góc áo của Đăng kêu lên một tiếng soạt rất khẽ.
Chỉ một tiếng động nhỏ như hạt thóc rơi, Tô Mặc đã giật bắn người.
Bàn tay anh nhanh như cắt chộp lấy tấm gương xanh, dập sập mặt gương xuống mặt bàn cái cộp.
Ánh lân tinh vụt tắt ngấm, gian xưởng tức thì chìm vào bóng tối đặc quánh.
Tô Mặc ngồi bất động giữa màn đêm, hơi thở dồn dập, đầu ngoảnh phắt về phía khe cửa.
Đăng đứng chết trân ngoài hiên gió buốt, tim đập thình thịch lên tận cuống họng.
Ngực cậu thắt lại, nghẹn ứ nỗi bàng hoàng khó tả.
Không một tiếng động, không một lời chất vấn, Đăng lặng lẽ thu chân lại, cắn chặt môi, từng bước lùi sâu vào bóng tối của rặng tre già.