Chương 6·16 phút đọc

Kẻ lạ ở bến đò

✻

Đăng đứng đón Đỗ Cầm ở bến đò sông Hồng, tay còn cầm mẩu than củi vẽ dở sơ đồ mạch linh khí lên mặt sau một tờ giấy dó phế phẩm.

Gió bấc mang hơi nước lành lạnh thổi bạt bờ sậy xào xạc.

Chiếc đò ngang vừa cập mép bùn, Cầm đã thoăn thoắt nhảy tót lên bãi đá răm, hai tay xách nách đôi giỏ tre chứa đầy ống đồng nhỏ xíu vừa đúc xong từ bên làng Đúc Thượng, bước chân gõ cồm cộp.

Chưa kịp khoe mớ đồ nghề mới toanh, Cầm bỗng khựng lại, mũi guốc suýt vấp phải một đống lùi xùi mắc cạn ngay mép lùm sậy còi cọc.

“Kìa Đăng, cái gì trôi dạt vào bến làng mày thế này?”

Đăng bước vội tới, gạt mấy nhánh sậy dập nát sang bên.

Dưới lớp rác mục và bùn non là một thanh niên trạc mười tám, mười chín tuổi, nằm sấp bất động.

Người này gầy gò, mặt vùi một nửa vào cát ẩm, phủ chiếc trường bào xám tro viền chỉ bạc.

Dù vải áo đã rách bươm từng mảng, lấm lem bùn đất và có vài vệt máu thâm sì khô lại, Đăng vẫn nhận ra chất gấm dệt tinh xảo của Trung Thổ.

Vạt áo trước còn lấp lánh hình thanh phi kiếm sắc nhọn thêu bằng sợi ngân tuyến.

“Đệ tử Thiên Kiếm Tông?” Đăng buột miệng thốt lên, nhớ lại lời kể của mấy bác phường buôn Vạn Thông ghé chợ phiên dạo trước.

Cầm đặt hai giỏ đồng xuống cát, ngồi xổm dí ngón tay thô ráp chai sạn sát mũi người lạ.

Cậu ta dường như chỉ còn chút hơi thở mỏng manh, lồng ngực phập phồng yếu ớt như ngọn đèn dầu sắp cạn.

“Chưa chết, nhưng đói lả với kiệt sức rồi,” Cầm ngẩng lên, lông mày nhíu chặt.

“Người bên tông môn lớn cưỡi phi kiếm bay vèo vèo trên mây cơ mà, sao lại ngã dúi dụi ở bến đò hẻo lánh này?”

“Tao chịu.

Nhưng nếu để nằm đây thì gió bấc thổi cóng queo mất,” Đăng lúng túng nhìn quanh bến đò vắng vẻ.

“Báo tuần đinh thì bác Cả Khang sẽ giữ lại xét hỏi, có khi lại tống ra khỏi làng vì sợ vạ lây.”

“Thế thì cõng về xưởng giấy nhà mày.” Cầm dứt khoát giục, giọng rổn rảng.

“Để đấy tao xốc nách cho.

Trông gầy tong teo thế này chắc nhẹ hơn bao quặng đồng tao vác mỗi sáng.”

Cô nàng thợ đúc chẳng chút e dè xốc thẳng nách người thanh niên lạ kéo dậy.

Đăng vội vàng đỡ lấy tấm lưng lạnh toát, gập hai cánh tay rũ rượi quàng qua cổ mình.

Đúng như Cầm đoán, người này nhẹ bẫng, xương sườn nhô cả lên dưới lớp vải rách.

Cầm một tay xách đôi giỏ đồ nghề, một tay đỡ ngang hông kẻ lạ để khỏi tuột, còn Đăng gò lưng cõng người bước hối hả lên con dốc đất đỏ ven đê, nhắm hướng ngõ sau nhà mình mà đi.

Mùi chè xanh om nóng hổi quyện với mùi giấy dó mới phơi xua bớt cái giá buốt luồn qua kẽ liếp.

Người thanh niên cựa mình trên chiếc chõng tre ở góc chái bếp, khẽ rên một tiếng rồi mở mắt, ngơ ngác nhìn quanh những khuôn xeo và chồng vỏ dướng ngâm dở.

“Tỉnh rồi đấy à?” Đăng buông thanh đóm nhen lửa, bước lại gần chõng.

“Anh thiếp đi từ trưa tới giờ, may nhờ bát cháo gừng cái Cầm đút cho lúc nãy mới lại sức.”

Người lạ gượng chống tay ngồi dậy.

Chiếc áo rách của đệ tử kiếm tông đã được đem phơi khô trên sào nứa, trên người anh ta giờ là bộ áo nâu sồng rộng thùng thình của bố Đăng.

“Đa tạ tiểu huynh đệ...” Giọng anh ta khản đặc như cọ vào đáy chum.

“Tại hạ họ Tô, tên Mặc.

May nhờ hai người cứu vớt ở bến đò, nếu không thì đã vùi thây nơi bãi sậy.”

“Tôi là Phan Đăng, nhà làm nghề xeo giấy.” Đăng kéo chiếc ghế đẩu lại ngồi.

“Mà anh là đệ tử Thiên Kiếm Tông thật sao?

Sao lại trôi giạt tới tận xó làng Nam Việt này?”

Khóe môi Tô Mặc nhếch lên chua chát.

Anh ta nhìn chằm chằm vào bàn tay gầy guộc chằng chịt vết xước:

“Từng là ngoại môn thôi.

Nửa tháng trước, tông môn sửa lại hộ sơn đại trận ở Nam Nhạc phong.

Trưởng lão phụ trách tính sai lệch ba phần linh khí ở cửa Đoài, nếu kích hoạt thì cả dàn kiếm trận sẽ nghẽn mạch nổ tung.

Tôi... tôi đứng ra chỉ thẳng chỗ sai ấy trước mặt đệ tử ba viện.”

“Rồi sao nữa?” Đăng tò mò chớp mắt.

“Người ta sửa lại chứ gì?”

“Họ phế bỏ danh phận của tôi, tịch thu phi kiếm rồi đuổi khỏi núi.” Tô Mặc lắc đầu, ánh mắt lộ vẻ uất ức.

“Trưởng lão mắng ta là kẻ hạ đẳng dám nghi ngờ tôn ti.

Người của phe đó còn ngấm ngầm đuổi đánh, ép ta phải nhảy sông trốn chạy suốt mấy ngày đêm.”

Đúng lúc ấy, liếp cửa kẹt mở.

Ông Phan Lộc bưng ấm tích chè xanh bọc trong bao ủ rơm bước vào, tay cầm hai chiếc bát sành da lươn.

Nghe trọn câu chuyện, ông thong thả rót thứ nước xanh ngắt, thơm nồng khói ấm ra bát rồi đưa cho Tô Mặc.

“Uống ngụm nước cho ấm bụng đã, cậu Mặc.” Bố Đăng tặc lưỡi, ngồi bệt xuống ngạch cửa, giọng bình thản như không: “Tưởng chuyện gì to tát.

Chứ ở cái làng Yên Thái này, cãi lý trưởng với hội đồng kỳ mục là chuyện cơm bữa.

Thằng Đăng nhà tôi tuần trước vừa cãi bác Cả Khang một trận nảy lửa ngoài đình, bác ấy tức đỏ mặt mà hôm sau vẫn phải sang xin tro bếp về bón khoai đấy thôi.”

Tô Mặc bưng bát sành nóng hổi, ngơ ngẩn nhìn làn khói nghi ngút bốc lên, dường như câu đùa mộc mạc của ông thợ xeo giấy vừa chạm vào một điều gì hoàn toàn xa lạ với những quy củ khắc nghiệt nơi tông môn Trung Thổ.

Uống cạn nửa bát nước chè, Tô Mặc chống tay đứng dậy, bước chân còn hơi lảo đảo tiến lại gần chiếc bàn gỗ kê sát vách nứa.

Mắt anh ta dán chặt vào mớ đồ nghề lộn xộn của Đăng: mấy chiếc khung đồng nhỏ xíu Cầm vừa đem tới, chồng giấy dó cắt vuông vức in sẵn các đường chu sa, và vài mảnh linh thạch vụn cỡ hạt đỗ nằm rải rác.

“Cái này... là phù sao?” Tô Mặc nhặt một phiến giấy dó lên, ngón tay gầy miết nhẹ qua những nét mực đều tăm tắp.

Đôi mày anh ta nhíu lại, vẻ mặt như vừa chạm phải thứ nằm ngoài mọi kinh thư: “Không có linh lực quán chú khi vẽ.

Nét mực dập từ mộc bản?

Cả các điểm tiếp giáp này nữa...”

“Tôi gọi là phù ghép.” Đăng hào hứng kéo ghế, chỉ tay vào cụm linh kiện.

“Mỗi miếng giấy in một đoạn mạch: miếng gom khí, miếng mở cổng âm, miếng xuất quang.

Cứ lồng vào khung đồng của cái Cầm đúc, kẹp viên đá con này vào là sáng trưng.

Khổ nỗi nó ăn đá như tằm ăn rỗi, nửa tuần hương là cháy xèo, giấy cũng nóng ran.”

Tô Mặc không đáp.

Ngón tay anh ta gõ nhịp lên mặt bàn theo một tiết tấu kỳ lạ, miệng mấp máy lẩm bẩm những thuật ngữ trận pháp nghe vừa rắc rối vừa lạ tai: Khảm thủy quy Đoài, chu chuyển ba phân, nghịch hồi một khắc...

Ánh mắt anh ta sáng rực lên vẻ chăm chú.

Chẳng đợi Đăng kịp hỏi, Tô Mặc đã thoăn thoắt tháo rời chiếc khung đồng.

Những ngón tay thon dài gắp miếng giấy dó mang cổng âm môn đổi chỗ cho miếng tích khí, rồi xoay ngược đầu một đoạn mạch dẫn bằng mực chu sa pha bột đồng.

Anh ta nhặt một mảnh linh thạch vụn chỉ bé bằng nửa hạt gạo kẹp vào chốt, đoạn ngước nhìn Đăng:

“Thử lại xem.”

Đăng bán tín bán nghi bấm nhẹ vào mấu đồng đóng mở mạch.

Một tiếng 'tách' thanh mảnh vang lên.

Không hề có khói khét hay tiếng xì xì quen thuộc của linh khí bị nghẽn, luồng sáng vàng dịu lập tức bung tỏa từ tâm phù, rạng rỡ và tròn trịa như một vầng trăng rằm, rọi sáng từng thớ nứa trên vách.

Đăng sờ tay vào lưng khung đồng.

Mát rượi.

Mảnh linh thạch bé tí bên trong vẫn lấp lánh nguyên vẹn, không hề có dấu hiệu rạn nứt.

“Chỉ là đổi chiều hồi lưu thôi,” Tô Mặc khẽ cười, nét mặt bớt vẻ u uất.

“Cậu để mạch khí xông thẳng vào cổng quang, linh lực thừa không thoát được nên vừa tốn đá vừa đốt cháy giấy.

Bẻ cong nó qua cửa phụ, khí tự nuôi khí, đá vụn cũng đủ dùng.”

Đăng tròn mắt nhìn phiến phù sáng ngời trên tay, trong bụng như có ngọn lửa vừa được nhen lên.

Hóa ra mớ kiến thức cao siêu của tông môn Trung Thổ khi ráp vào mấy mảnh giấy dó làng Yên Thái lại có thể kỳ diệu đến mức này.

Gió mùa đông bắc tràn qua bãi bồi ven sông, mang theo cái rét ngọt và tiếng sáo vi vu trầm bổng vọng lại từ hội diều làng Bãi Sáo.

Chiều ấy, Đăng rủ Cầm cùng thằng Tí lội bãi sang xem hội.

Tô Mặc ban đầu còn e dè, nhưng trước sự lôi kéo ồn ào của thằng Tí, anh cũng chịu khoác tấm áo chàm đi cùng, bước chân hãy còn lóng ngóng trên lối mòn đầy cỏ may.

Triền đê Bãi Sáo đỏ rực cờ hội và chật ních người.

Trên nền trời cao vời vợi, hàng chục cánh diều đủ hình thù đang chao liệng đón gió.

Tiếng sáo còi, sáo đại hòa vào nhau réo rắt, đổ dồn từng chặp như sóng cuộn lưng trời.

“Tránh đường!

Tránh đường cho diều đại của giáp Đông!”

Tiếng chiêng đồng vang lên chát chúa, dẹp một khoảng trống giữa bãi cỏ.

Mấy tay lực điền vạm vỡ cẩn thận khiêng ra một khung diều khổng lồ sải cánh dài hơn hai trượng, khung tre óng ánh màu mật mía, bọc lớp giấy dó quét nước cậy dẻo quánh.

Lạ nhất là dưới bụng diều, người ta dòng bốn sợi dây thừng bện gai níu chặt một chiếc giỏ tre đan dày cộp, bên trong chất đầy oản quả tạ thần gió.

“Cái giỏ nặng trịch thế kia mà bay được á?” Thằng Tí nhảy cẫng lên, ngoẹo đầu ngắm nghía.

“Khéo lại cắm đầu xuống bãi ngô cho mà xem,” Đỗ Cầm khoanh tay, giọng nửa tin nửa ngờ.

Bác thợ cả làng Bãi Sáo chẳng thèm đôi co.

Bác giơ ngón tay nếm gió bấc, đoạn vung tay hét lớn ra lệnh.

Bốn người buông tay nâng cánh, hai tay kéo dây gò lưng chạy ngược chiều gió.

Một luồng gió thốc tới.

Tấm lưng diều căng phồng, phát ra tiếng phần phật giòn giã rồi cong vút như cánh cung no lực.

Cả khung diều khổng lồ bốc thẳng lên không trung.

Dưới tiếng ồ à của đám đông, chùm dây thừng căng ran; chiếc giỏ tre nhấc bổng khỏi mặt cỏ, lướt qua ngọn sậy rồi vững vàng cõng cả mớ lễ vật bay vút lên trời cao, lơ lửng nhẹ tênh.

Tiếng reo hò dậy cả khúc đê.

Người làng chen chúc chỉ trỏ, trầm trồ thán phục.

Giữa đám đông đang mải ngửa cổ ngắm nghía, Đăng bỗng đứng chôn chân tại chỗ.

Cậu không nghe thấy tiếng thằng Tí hò hét, cũng chẳng buồn để ý cái huých vai của Đỗ Cầm.

Mắt Đăng dán chặt vào chiếc giỏ tre đang lắc lư tít trên cao, tim đập thình thịch từng nhịp.

Khung tre uốn cong... giấy dó cản khí... sức gió tự nhiên cõng bổng một vật nặng lên trời mà chẳng tốn lấy nửa hạt linh thạch, cũng không cần phi kiếm hay pháp thuật cao siêu của tu sĩ.

Đôi mắt Đăng bỗng sáng rực lên, sáng như ngọn đèn đồng vừa được khơi tim.

Đêm khuya, gió bấc lùa qua rặng tre sau nhà kẽo kẹt.

Nằm trên giường rạ, Đăng trằn trọc mãi bởi hình ảnh cánh diều khổng lồ cõng chiếc giỏ tre lơ lửng ban chiều ở Bãi Sáo cứ luẩn quẩn trong đầu.

Cơn háo hức khiến cổ họng khô khốc, cậu bèn rón rén trở dậy, định bụng ra hiên sau múc gáo nước mưa.

Lối đi hẹp ngang qua chái bếp, nơi Tô Mặc đang nằm nhờ.

Vừa bước tới gần, Đăng chợt khựng lại.

Qua kẽ hở của tấm liếp nứa, một luồng sáng kỳ lạ đang hắt ra.

Đó không phải sắc vàng leo lét của đèn dầu hay ánh đỏ của tàn than sưởi, mà là màu xanh biếc, lạnh ngắt và phẳng lặng như một phiến gương tròn lơ lửng trước ngực Tô Mặc.

Gương mặt gầy gò của anh ta hiện rõ từng góc cạnh dưới ánh sáng ấy.

Trên mặt gương chập chờn những vệt ký tự lướt qua rất nhanh, theo từng nhịp ngón tay Tô Mặc khẽ điểm chỉ.

Đăng vô thức bước tới một bước.

Chân cậu giẫm phải mẩu củi khô dưới đất, phát ra một tiếng “rắc” khe khẽ.

Ngay tức khắc, luồng sáng xanh phụt tắt, trả gian chái về màn đêm tối đặc.

“Anh Mặc à?

Chưa ngủ sao?” Đăng buột miệng hỏi qua khe liếp.

Bên trong vang lên tiếng sột soạt vội vã như cuốn vạt áo.

Cánh liếp nứa kẹt mở hé ra một khoảng, Tô Mặc thò đầu ra, hai tay giấu tiệt sau lưng.

Nụ cười của anh ta có vẻ gượng gạo:

“Tiểu Đăng đấy à?

Khuya thế này cậu còn đi đâu?”

“Tôi khát nước, ra chum múc gáo,” Đăng tò mò ngó qua vai anh.

“Mà vừa rồi trong phòng anh có cái gì xanh lè thế?

Sáng rực cả vách đất.”

Tô Mặc sững lại một thoáng, khóe mắt khẽ giật, rồi bật cười lắc đầu:

“À, đom đóm đấy mà.

Lúc nãy ra bờ rào thấy một con to tướng bay lạc, tôi tiện tay úp vào bát sành nghịch chơi.

Đom đóm xứ Nam Việt lạ thật, trời rét căm căm thế này vẫn phát sáng được.”

Đăng chớp mắt nhìn vào khoảng tối mịt mùng sau lưng anh.

Đom đóm mùa đông vốn hiếm, vả lại thứ ánh sáng ban nãy phẳng phiu và sắc lạnh hơn nhiều.

Dẫu vậy, cậu thầm nghĩ người tu tiên Trung Thổ ắt hẳn mang theo linh trùng hay thuật che mắt lạ lẫm nào đó nên mới giấu giếm.

“Thế mà tôi cứ tưởng có ngọc quý,” Đăng cười xòa, gãi đầu.

“Thôi anh ngủ đi, mai nhớ tính giúp tôi mấy đường khí trên khung diều đấy.”

“Được chứ, mai tính tiếp.”

Tô Mặc mỉm cười gật đầu, ánh mắt dường như dịu lại nhưng vẫn dõi theo từng bước của Đăng.

Chờ cậu đi hẳn ra chum nước ngoài hiên, cánh liếp nứa mới khép chặt lại trong bóng đêm tĩnh mịch.

Sương sớm còn lảng bảng trên những giàn phơi giấy dó chạy dọc đường làng.

Tiếng chày đập vỏ dướng vang lên thùm thụp từ mé sông, hòa cùng tiếng gà gáy eo óc sau rặng tre.

Đăng vừa gặm củ khoai nướng nóng hổi, vừa cầm thanh tre uốn cong rủ Tô Mặc bước ra phía ngõ sau.

Cậu đang nóng lòng muốn hỏi thêm cách xếp mạch linh khí để đón gió như cánh diều khổng lồ ở Bãi Sáo ban chiều.

Bỗng một tiếng rít sắc lẹm xé toạc màn sương buốt giá từ trên tầng không dội xuống.

Âm thanh ấy không giống tiếng sáo diều trầm bổng, mà chói tai như mũi kim loại miết mạnh vào mặt đá tảng.

Đàn gà nhép trong sân đình nháo nhác vỗ cánh bay thốc vào bụi chuối, mấy bà gánh rau muống sớm vội vàng hạ quang gánh nép sát gốc đa, mặt cắt không còn hột máu.

Từ điếm tuần đầu làng, bác Cả Khang cùng mấy gã tuần đinh hớt hải chạy túa ra, tay lăm lăm gậy tre nhưng bước chân lóng ngóng chẳng biết chuyện gì sắp ập tới.

Đăng ngửa cổ nhìn lên.

Giữa khoảng trời xám đục, một vệt sáng trắng bạc tựa mũi tên băng lao vun vút từ hướng bắc lại.

Luồng kình phong cuồn cuộn thổi bạt ngọn tre la đà, cuốn theo lá khô bay mù mịt cả một góc trời.

Ngay trên mũi kiếm sáng quắc là một bóng người đứng thẳng tắp.

Kẻ đó vận trường bào trắng tinh khôi không vương lấy một hạt bụi trần, dải thắt lưng ngọc bích bay phần phật trong gió bấc.

Trước ngực áo thêu hình một thanh bảo kiếm màu lam bao quanh bởi mây cuộn — biểu trưng ngạo nghễ của sứ giả Thiên Kiếm Tông, tinh xảo và uy nghiêm hơn bộ đồ rách tả tơi của Tô Mặc gấp mười lần.

Đăng giật mình liếc sang bên cạnh.

Cậu thấy Tô Mặc sững sờ chôn chân tại chỗ, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy ngâm vôi.

Hai bàn tay anh ta giấu tiệt vào trong ống tay áo nâu sồng, siết chặt đến mức bờ vai gầy khẽ run bần bật, ánh mắt như muốn thụt lùi trốn chạy vào khoảng tối rậm rạp sau bờ rào dâm bụt.

Không để ai kịp hoàn hồn, mũi phi kiếm bổ nhào xuống thẳng tắp.

Một tiếng “oong” ngân vang chấn động màng nhĩ kèm theo luồng gió mạnh thổi tung bụi đất mù mịt.

Chiếc mũi kiếm bạc khẽ chao điệu nghệ rồi ghim hờ lên bề mặt khoảng sân đình Yên Thái, mũi kiếm phát ra hàn khí buốt giá làm rạn nứt một vệt dài trên nền gạch Bát Tràng đỏ au.

Gã sứ giả áo trắng nhẹ nhàng bước mũi hài thêu chỉ bạc xuống đất, vạt áo hạ xuống phẳng phiu như chưa từng lướt gió ngàn dặm.

Hắn ngẩng đầu, ánh mắt sắc lạnh như lưỡi dao cạo thản nhiên quét qua đám tuần đinh run rẩy và đám đông dân làng đang nín thở sợ hãi.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương