Chương 5·16 phút đọc

Đêm cháy kho giấy

✻

Gió bấc cuối thu thổi khô khốc như muốn bẻ giòn từng cành tre đầu ngõ.

Trong căn buồng nhỏ còn nồng mùi mực chu sa và keo da trâu, Phan Đăng vừa cạy xong chốt một chiếc khung đồng thì nghe tiếng chậu thau va loảng xoảng ngoài đường cái, kèm theo chuỗi gào thét lạc cả giọng:

“Cháy!

Ối làng nước ơi, cháy kho giấy rồi!”

Đăng giật bắn người, buông phắt chiếc dùi xuống phản gỗ rồi lao vụt ra sân.

Gió hanh tạt vào mặt rát rạt, cuốn theo muội than đen sì và mùi khét lẹt quen thuộc của vỏ dó bén lửa.

Phía cuối làng, một vệt đỏ rực đã nhuộm sáng cả khoảng trời đêm.

Lửa không bốc từ từ mà cuộn lên thành từng lọn lớn, gầm réo theo từng cơn gió thốc.

Đăng chạy thục mạng ra ngõ, tim đập thình thịch lên tận cuống họng.

Đúng là kho giấy chung của làng Yên Thái.

Vào cữ này, để kịp hàng cho phiên chợ giáp Tết, các lò sấy của thợ làng dựng san sát nhau gần bờ sông đều phải đỏ lửa thâu đêm.

Đống củi bổi chất cao như núi gặp trận gió bấc khô rang bỗng bốc tàn than đỏ rực, tạt thẳng sang vách nứa của kho chứa.

Chỉ trong chớp mắt, ngọn lửa đã liếm láp từ rơm rạ khô trên mái rồi rúc sâu vào các kiện hàng bên trong.

Tiếng mõ đình làng bắt đầu khua dồn dập, từng hồi gấp gáp xé toạc màn đêm.

Đàn ông, đàn bà túa ra đường như ong vỡ tổ, người xách thùng gỗ, kẻ ôm xô sành, tiếng chân huỳnh huỵch trên đường gạch nghiêng.

Ai nấy mặt mày tái mét.

Kho giấy ấy là mồ hôi nước mắt của cả làng suốt nửa năm trời qua.

Từng chồng giấy bản mỏng tang, từng thếp giấy dó thượng hạng ngâm nước điệp óng ánh mà cha Đăng cùng mấy chục hộ thợ thức trắng bao đêm xeo vớt, nay đều nằm cả dưới mái kho đang rực lửa.

Mất kho giấy này, cả làng Yên Thái cầm chắc một cái Tết trắng tay, nợ nần ngập đầu với cánh lái buôn đò dọc.

“Mau múc nước!

Cứu lấy kho giấy!”

Tiếng thét the thé của lý trưởng Cả Khang vọng lại từ đầu dốc, lẫn trong tiếng gió rít gào và tiếng nứa nổ lách tách như pháo rang.

Khi Đăng chen được tới gần bờ rào, hơi nóng đã phả vào mặt nóng rát khiến cậu ngạt thở.

Mái góc đông của gian kho đã sụp xuống một mảng, ngọn lửa đỏ quạch đang bò men theo các giàn tre, táp vào những cột giấy xếp cao ngất ngưởng.

Làn khói đặc quánh cuộn tròn nghẹt thở.

Mấy chục gáo nước từ tay dân làng hắt vào chỉ như muối bỏ bể, vừa chạm mép lửa đã xèo xèo bốc thành hơi trắng xóa rồi tắt lịm trước cơn hung hãn của giặc lửa.

“Tránh ra!

Thầy phù tới rồi!

Nhường lối cho thầy Ất!”

Tiếng hô hoán rộ lên phía sau lưng Đăng.

Đám đông nháo nhác dạt sang hai bên, để lộ bóng lão Ất tất tả chạy tới.

Chiếc khăn xếp xô lệch, tà áo the nâu cuốn theo tàn tro, hai tay lão ôm khư khư chiếc đãy chàm trước ngực như giữ lấy mạng sống.

“Thầy Ất!

Mau niệm chú tụ thuỷ đi thầy!

Cháy bén sang gian để giấy ngọc bản rồi!” Bác Cả Khang từ mép rào lao ra nắm chặt tay lão giật mạnh, giọng lạc đi vì khói.

Nhìn biển lửa gầm gào, đôi vai gầy của lão Ất khẽ run lên.

Lão thò tay vào đáy đãy, lần lữa mãi mới rút ra ba lá Tụ Thuỷ Phù vẽ chu sa đỏ au.

Đăng nhận ra ngay thứ bùa lão vẫn cất kỹ trong tráp thờ, chỉ dịp ma chay cầu an mới dám lấy ra khoe khoang với xóm giềng.

“Linh thuỷ giáng trần, hoá nguy vi an...

Tật!”

Lão cắn đầu ngón tay điểm máu lên nét chu sa rồi vung lá đầu tiên về phía góc chái.

Lá phù bùng lên đốm sáng xanh lơ, “xoẹt” một tiếng nổ tung giữa không trung thành màn nước mát lạnh chụp xuống mái kho.

Lửa xèo xèo lụi tàn, khói trắng bốc lên nghi ngút.

“Dập được rồi!

Hay quá thầy ơi!” Dân làng ồ lên đầy hy vọng.

Thế nhưng ngọn lửa từ nóc lại trườn tới quá nhanh.

Lão Ất nghiến răng xót xa, ném tiếp lá thứ hai lên xà ngang, rồi lá thứ ba vào giàn tre phía dưới.

Màn nước dội xuống, dập tắt thêm một mảng than hoa đỏ rực.

Đăng thầm tính trong đầu: ba lá phù, mỗi lá chỉ dập được một khoảng chừng manh chiếu hẹp.

Mọi người nín thở chờ đợi luồng nước lớn hơn, nhưng lão Ất bỗng buông thõng hai tay.

Lão luống cuống thọc sâu vào đáy đãy rồi lộn trái cả túi ra ngoài.

Trống trơn.

“Nữa đi thầy!

Tiếp đi chứ!” Bác Cả Khang gào lên, mắt đỏ ngầu.

“Hết... hết rồi!” Lão Ất lắp bắp, trán vã mồ hôi hột, môi run lập cập.

“Tao chỉ có chừng ấy lá phòng thân thôi!

Vẽ bùa Tụ Thuỷ hao tổn tâm thần, phải chọn giờ Tý giờ Ngọ gom linh khí mất đứt nửa ngày trời mới xong một ngọn...

Cả làng gom lại cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi!”

Một cơn gió bấc hung hãn thốc từ bờ sông vào.

Vệt nước mỏng manh do ba lá phù tạo ra nhanh chóng bốc hơi sạch bách dưới sức nóng dữ dội.

Mảng lửa vừa bị nén xuống chỉ chớp mắt sau đã bùng lên gấp đôi, táp thẳng vào gian kho chính giữa tiếng kêu khóc tuyệt vọng của dân làng.

Không chần chừ thêm một khắc, Đăng quay ngoắt người, lao ngược về phía ngõ nhà mình nhanh như một mũi tên.

Tiếng gào khóc, tiếng nứa nổ lốp đốp bị gió bấc quẳng lại sau lưng.

Cậu đá tung cánh liếp buồng trong, sấn tới góc phản nơi chiếc hòm gỗ sồi còn vương mùi keo mực.

Đăng thở dốc, hai tay ôm ghì lấy chiếc hòm nặng trịch.

Bên trong là hơn trăm lá phù Tụ Thủy in bằng mộc bản mà cậu dập thử mấy đêm ròng, dù chưa kịp bọc khung đồng như phù đuổi muỗi nhưng đã gắn đủ linh thạch vụn vào từng lõi giấy.

“Anh Đăng!

Anh ôm cái gì đấy?”

Vừa chạy tới bờ giậu kho giấy, Đăng đã chạm mặt thằng Tí đang đứng mếu máo bên đống chậu vỡ.

Sau lưng nó, mấy đứa trẻ con trong xóm dạt vào một góc, mắt đứa nào đứa nấy tròn xoe sợ hãi nhìn lửa liếm đỏ rực rặng tre.

“Tí!

Mau lại đây!” Đăng đặt mạnh hòm gỗ xuống bờ đất, giật nắp ra.

Từng thếp giấy dó vuông vức, đỏ rực những đường chu sa in đều tăm tắp lộ ra dưới ánh lửa bập bùng.

“Mày với lũ thằng Cu, con Vàng chia nhau ôm lấy, phát cho người lớn!

Bảo mọi người áp chặt vệt chu sa vào vách nứa, ấn mạnh ngón cái vào tâm bùa!”

Thằng Tí dường như sững lại mất một nhịp thở, nhưng nhìn nét mặt căng như dây đàn của Đăng, nó liền gật đầu lia lịa.

Nó vốc từng nắm giấy nhét vào lòng yếm, quay sang giục đám bạn: “Chạy mau!

Đưa cho các bác dập lửa!”

Lũ trẻ thoăn thoắt túa vào đám đông như những con sóc.

“Phù... phù gì thế này hả cháu?” Thím Tám nhận lấy mảnh giấy từ tay thằng Tí, mặt lộ vẻ hoang mang tột độ.

Phù này không có chữ bùa uốn éo như rồng bay phượng múa của lão Ất, chỉ toàn những ô vuông và đường mực thẳng thớm lạ lùng.

“Cứ dán đi thím!

Dán vào cột vách!” Đăng gào khản cả giọng, vừa chạy dọc hàng rào vừa dúi phù vào tay những người đàn ông đang buông thõng gáo nước trong tuyệt vọng.

Giữa hơi nóng hầm hập tưởng như thiêu trụi da thịt, chẳng ai còn bụng dạ đâu hạch hỏi bùa phép từ đâu ra.

Từ người này sang người khác, một hàng dài bỗng chốc hình thành tự phát giữa biển lửa.

Những bàn tay thô ráp, nhem nhuốc muội than thoăn thoắt chuyền cho nhau từng xấp giấy in mộc bản.

“Dán vào tường!

Ép chặt vào!” Tiếng hô truyền dọc theo hàng người.

Bác Cả Khang đứng chôn chân bên đống tro, hai mắt đỏ ngầu nhìn thếp phù vừa được ai đó ấn dúi vào ngực.

Cơ mặt ông giật giật, trông như vừa kinh ngạc vừa giằng xé, nhưng rồi khi tàn lửa từ nóc kho rơi lộp độp xuống vai áo, ông nghiến chặt răng, vung tay dán phập một lá bùa lên cây cột góc tây.

Dọc theo bức tường nứa dài hàng chục trượng, hàng chục bàn tay của thợ xeo giấy đồng loạt áp những miếng bùa đỏ au vào lớp vách đang khô khốc vì sức nóng.

“Xèo!”

Một tiếng nổ lẹt đẹt khô khốc vang lên từ góc tường phía tây.

Thay vì toả ra luồng hơi nước mát lạnh, lá phù vừa dán trên thân cột lim bỗng phụt ra một làn khói đen sì, nét chu sa xỉn lại rồi cháy rụi thành một lỗ thủng nham nhở.

Lửa lập tức chồm lên, chực liếm vào kẽ nứa.

“Đăng ơi!

Cháy rụi rồi!

Bùa này nín ngòi rồi mày ơi!” Chú Năm thợ nương gào thấu qua tiếng gió, tay chân luống cuống đập đập vào thân cột.

“Cháu tới đây!”

Đăng quăng mình qua rãnh nước cạn, lao vụt tới.

Hơi nóng hắt vào mặt bỏng rát, làm lông mày cậu khét lẹt.

Đăng ghé sát mắt nhìn.

Không phải do giấy dó cháy trước, mà là miếng tròn ở cửa âm môn bị xô lệch, khiến dòng linh khí từ mẩu đá vụn dồn ngược lại làm chập đứt mạch dẫn.

Không một giây chần chừ, Đăng thọc tay vào túi vải bên hông, lôi ra xấp miếng tròn dự phòng.

Cậu dùng móng tay cạy phắt miếng giấy tâm bị cháy đen vứt xuống đất, ấn mạnh một miếng dẫn mạch mới tinh vào giữa rãnh.

“Tách!”

Một đốm sáng xanh lam lập tức bừng lên.

Nét chu sa nối liền một dải, luồng sương trắng lạnh buốt bung toả ra như một cái quạt nước vô hình, dập tắt ngấm những lưỡi lửa vừa nhe răng chực cắn vào thớ gỗ.

“Được rồi!

Lại phun nước rồi!” Chú Năm thở phào, mắt trợn trừng như vừa thấy ma.

Nhưng Đăng không kịp cười.

Dọc theo bức vách dài mười mấy trượng, lại có thêm tiếng xì xèo phụt khói ở hai chỗ khác.

Một lá dán trúng mắt tre gồ ghề làm gãy nét mực; một lá khác thì mẩu linh thạch tiếp xúc lỏng lẻo, ánh sáng chập chờn như đom đóm đực rồi tắt ngúm.

“Mười lá thì hỏng hai...

Không, chỗ kia một lá nữa là ba!”

Đăng vừa lẩm bẩm vừa cắm đầu chạy dọc chân kho.

Đôi tay thoăn thoắt gỡ miếng giấy hỏng, nhét miếng mới, nắn lại chân tiếp xúc linh thạch.

Mỗi lần một lá phù sống lại và phì phì phun sương, cậu lại nhặt ngay một mẩu than đỏ vừa rụng dưới đất, thổi tắt ngọn lửa nhỏ rồi gạch một vệt xiêu vẹo lên vạt áo nâu đã cháy sém góc của mình.

“Hai mươi tư lá chạy... năm lá xịt...

Tỉ lệ hỏng ngót nghét hai phần mười!”

Đăng quẹt mồ hôi trán, để lại một vệt nhọ nhem ngang trán.

Trong đầu cậu, những phép tính nhảy múa loạn xạ lấn át cả nỗi sợ hãi: mộc bản khắc bằng gỗ dâu còn quá nhiều dằm nhỏ làm nét mực không đều, keo da trâu gặp nhiệt độ cao của đám cháy bị chảy khiến linh khí rò rỉ ra ngoài.

“Phải đổi sang gỗ thị... mực phải thêm bột phèn...” Đăng lẩm bẩm một mình giữa tiếng thét gầm của giặc lửa, tay vẫn thoăn thoắt bấm một miếng giấy tròn mới vào lá phù thứ sáu vừa chập mạch trên vách nứa.

Làn sương lạnh từ gần trăm lá bùa in đồng loạt bung ra, dìm những lưỡi lửa hung hãn thành từng làn khói trắng nghi ngút.

Tiếng than nổ lách tách lịm dần dưới lớp mưa bụi mát rượi.

Trừ một góc chái đông bị sập và dăm ba kiện giấy mộc gian ngoài hóa tro, hơn bảy phần kho giấy của làng Yên Thái – nhất là gian giữa chứa những thếp giấy ngọc bản quý giá – vẫn bình yên vô sự.

Tiếng reo hò hòa lẫn tiếng khóc mừng rộ lên khắp bến sông.

Dân làng kiệt sức ngồi bệt xuống bùn, mặt mũi ai nấy đen nhẻm tàn tro nhưng trút được gánh nặng nghìn cân.

Đăng cũng trượt người tựa vào bờ cỏ, hai bắp chân run lẩy bẩy, đầu ngón tay phồng rộp vì sức nóng và chu sa bết chặt.

Trời sáng lúc nào không hay.

Sương sớm cuối thu bảng lảng trùm lên đống đổ nát còn âm ỉ khói.

Đăng ngồi co ro bên bậu cửa, vừa gặm mẩu khoai luộc thím Tám dúi cho, vừa săm soi những vệt than chi chít ghi tỉ lệ hỏng hóc trên vạt áo rách.

Một bóng người cao lớn bỗng ngả dài trên mặt đất.

Đăng ngẩng đầu.

Bác Cả Khang đứng sừng sững trước mặt cậu.

Chiếc áo the dài của ông lý trưởng bê bết bùn đất, vạt áo bị lửa táp thủng một mảng lớn, đôi mắt đỏ ngầu vì thức trắng.

Đăng bất giác co chân, hơi rụt người lại theo thói quen mỗi bận đối diện người đứng đầu hội đồng kỳ mục.

Bác Cả nhìn chằm chằm vào cậu, ánh mắt phức tạp khôn tả.

Cơ mặt ông giật giật, chòm râu mép lấm tấm muội than khẽ rung lên như đang nuốt ngược lại những lời giáo huấn quen thuộc.

Nhưng ông không nói nửa lời.

Thò tay vào bọc áo the, bác Cả rút ra tấm mộc bản khắc bùa Tụ Thủy bằng gỗ dâu – thứ tuần đinh đã tịch thu chiều qua.

Tấm ván gỗ vẫn nguyên vẹn, rãnh khắc còn đọng vệt chu sa khô.

“Cộp.”

Ông dằn tấm mộc bản xuống bậc đá xanh cạnh chỗ Đăng ngồi.

Lực đặt dứt khoát nhưng không hề thô bạo.

Đăng trố mắt nhìn tấm ván rồi ngước lên, thắc thỏm chờ một trận mắng mỏ bôi bác thánh thần, hay chí ít là một lời khen ngợi rằng thứ “bùa chắp vá” của cậu vừa cứu cả cơ nghiệp làng.

Nhưng tuyệt nhiên chẳng có gì.

Bác Cả Khang chỉ liếc qua những vệt than tính toán trên vạt áo Đăng, rồi quày quả xoay người bước đi, chắp tay sau lưng lặc lè tiến về phía đám đông đang kiểm kê kho.

Đăng ôm tấm mộc bản vào lòng rồi đứng dậy, xắn cao tay áo cùng mọi người dọn dẹp góc chái đông đổ nát.

Khói ẩm bốc lên cay xè mắt, mùi tro than bám đầy cổ họng.

Cậu cầm chiếc cào sắt gạt từng mảng nứa cháy dở và than bùn sũng nước sang bên để mở đường cho trai làng khiêng các kiện giấy nguyên vẹn ra bến phơi.

Lưỡi cào bỗng vấp phải vật cứng dưới lớp đất nện, phát ra tiếng “keng” khô giòn.

Đăng dừng tay, ngồi thụp xuống gạt lớp muội than đen nhẻm.

Lộ ra bên dưới không phải gạch bát tràng quen thuộc lát nền, mà là một phiến đá xám cổ kính, nhẵn thín và lạnh buốt khác thường.

Sức nóng thiêu đốt suốt đêm qua dường như chẳng hề để lại một vết nứt hay vệt ố nào trên mặt đá.

Càng cào sạch lớp tro, Đăng càng ngỡ ngàng.

Khắc chìm trên mặt đá là những đường rãnh kỳ lạ, sắc nét như vừa đục tạc hôm qua.

Chúng không uốn lượn rồng mây như hoa văn cột đình, cũng chẳng phải chữ Hán hay chữ triện trên bia cũ.

Từng đường rãnh thẳng tắp chạy song song, bẻ góc vuông vức rồi hội tụ lại ở những điểm tròn lõm sâu—cấu trúc đóng mở ấy làm Đăng liên tưởng ngay đến các cửa âm dương trên khung phù cậu vẫn mày mò.

“Cái gì dưới nền thế kia hả Đăng?” Chú Năm vác bó nứa cháy đi qua, buông phịch xuống đất rồi ghé mắt dòm.

Mấy người thợ già và cả lão Ất cũng tò mò bước lại.

Lão Ất nheo đôi mắt kèm nhèm, chắp tay sau lưng, cúi rạp người săm soi.

Lão lẩm bẩm mấy câu phong thủy trấn trạch của tiền nhân, nhưng khi Đăng hỏi rãnh này dẫn linh khí thế nào, lão lại ngắc ngứ rồi lắc đầu quầy quậy.

Các cụ cao niên đều bảo từ đời ông cố tổ dựng kho chỉ thấy nền đất nện, chưa từng nghe nói dưới đất có thứ đá kỳ dị nhường này.

Không một ai giải thích nổi lai lịch hay ý nghĩa của những phù văn lạ lùng ấy.

Đăng đặt bàn tay trần lên thớ đá lạnh ngắt.

Đầu ngón tay cậu khẽ giật bắn: một dòng linh khí mỏng manh nhưng thuần khiết đến rợn ngợp dường như đang âm thầm luân chuyển bên dưới, mát rượi như mạch nước ngầm.

Cậu nhận ra rãnh đá không dừng lại ở góc kho.

Đường vân cổ chìm dưới lớp đất mỏng, vạch thành một lối thẳng tắp chạy xuyên qua rặng tre ngà.

Hướng đó dẫn thẳng về phía ngọn đồi rợp bóng cổ thụ, nơi tọa lạc đền Mẫu.

Đăng buông chiếc cào sắt xuống đống tro, lặng lẽ bước ra khỏi kho đổ nát, cất bước lần theo đường vân đá đang ẩn hiện dưới làn sương sớm.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương