Mùi mực tàu quyện với mùi tro lá chuối cháy khét lẹt đặc quánh trong căn buồng xép.
Dưới ánh đèn dầu leo lét, Phan Đăng ngồi bó gối giữa một bãi chiến trường toàn giấy dó vụn.
Cậu nhặt lá phù phong hỏa vừa in thử lúc chập tối.
Rõ ràng chu sa đỏ au, nét khắc dập xuống sắc lẻm, ấy thế mà vừa chạm nhẹ mẩu linh thạch vụn vào điểm khởi mạch, một làn khói trắng khét mù bốc lên rồi phụt tắt ngấm.
Đăng nheo mắt soi lá phù sát bấc đèn.
Hóa ra ngay góc dương môn, thớ gỗ ổi bị sứt một dăm nhỏ bằng đầu tăm, vệt mực đứt rời chừng nửa hạt tấm.
Chỉ vì nửa hạt tấm ấy mà cả tờ giấy dó ba lớp dày dặn coi như vứt xôi cho chuột.
Đăng thở dài đánh thượt, ném tờ giấy xuống đất, nhập bọn cùng hơn hai chục xác phù nằm la liệt.
Cứ đà này, tiền mua vỏ dó của thầy Đăng còn chẳng đủ bù vào đống giấy hỏng, nói gì bán phù cho người làng.
Lão Ất vẽ tay tuy chậm rì nhưng vẽ tới đâu nắn dòng tới đó, hỏng một nét là biết đường lượn bút đè lên.
Còn in mộc bản, ván sứt một vệt là dập trăm tờ hỏng cả trăm, hỏng một góc là đi toi cả tờ giấy lớn.
Linh khí chảy như nước, mà đã là dòng nước thì chặn một khúc là cả mương khô cạn.
Cậu bần thần nhìn đống tiền đồng xâu bằng lạt giang treo lủng lẳng bên cột nhà.
Mấy đồng xu tròn xoe, lỗ vuông ở giữa, xếp chồng lên nhau ngay ngắn.
Một ý nghĩ bất thần lóe lên như tia chớp trong đầu Đăng.
Cậu bật dậy, giật phắt xâu tiền xuống, lôi ra mấy đồng xu Khai Nguyên đã nhẵn thín mép.
“Tại sao cứ phải đục cả một lá phù to tướng lên một tấm ván?” Đăng lẩm bẩm, hai mắt sáng rực.
Nếu cối xay lúa hỏng răng nào chỉ cần thay nẹp răng ấy, sân đình vỡ gạch chỉ cần cạy đúng viên gạch xỉ ra lát lại, thì cớ gì lá phù phải liền một khối sống chết có nhau?
Cậu có thể băm nhỏ lá phù ra thành từng mảnh riêng biệt!
Đăng vồ lấy cây kéo cắt giấy, lôi tập giấy bổi dày cộp ra cắt thành từng miếng tròn xoe, đường kính vừa khít một đồng tiền xu.
Miếng thứ nhất, cậu chấm bút vẽ vòng cung dương môn thuần túy, làm nhiệm vụ mở dòng cho linh khí tràn qua.
Miếng thứ hai, cậu vẽ nút thắt âm môn để gạt bỏ tạp khí và hãm dòng khi xung động quá mạnh.
Miếng thứ ba, thứ tư là những nét thẳng tắp hoặc gấp khúc vuông vức, thuần túy dẫn mạch nối từ điểm này sang điểm kia.
Từng miếng tròn nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay Đăng.
Mỗi đồng xu giấy mang một phận sự riêng biệt: thằng dẫn đường chỉ lo dẫn đường, thằng gác cổng chỉ lo gác cổng.
Nếu một đồng xu bị đứt nét hay nhòe mực, cậu chỉ việc vứt đi rồi thay bằng đồng xu khác, chẳng tổn hại đến một ly một lai nào của phần còn lại.
Đăng đặt các đồng xu giấy cạnh nhau trên mặt phản, dùng ngón tay đẩy nhẹ cho các đầu nét mực chạm khít vào nhau.
Một mạng lưới phù văn chắp vá hiện ra dưới bóng đèn, trông vừa buồn cười lại vừa ngay ngắn đến lạ lùng.
Sáng sớm, Đăng ôm bọc vải chàm đựng mấy chục miếng giấy tròn vội vã chạy sang làng Đúc Thượng.
Xưởng đúc của Đỗ Cầm nằm sát bờ sông, mù mịt khói than và nồng nặc mùi kim loại nung.
Cầm đang ngồi xổm bên đống xỉ, đầu quấn khăn rằn lem luốc nhọ nồi, hai tay cầm đôi kẹp sắt dài gắp khuôn đất ra khỏi đống trấu.
Thấy Đăng bước vào, cô chỉ hất cằm về phía chiếc đe nguội:
“Nằm trên đe đấy.
Vừa nguội xong.”
Đăng nhào tới.
Trên mặt đe là tấm khung đồng thau chỉ nhỉnh hơn bàn tay, dày chừng nửa đốt ngón.
Mặt trong xẻ những đường rãnh dọc ngang thẳng tắp, gờ vát nghiêng để lùa từng miếng tròn vào theo kiểu cài then, hệt như cách thợ ngõa xếp ngói âm dương trên mái đình.
“Khéo tay thật đấy!” Đăng xuýt xoa, rút mấy miếng mô-đun trong bọc nhét ngay vào rãnh đầu tiên.
Nhưng vừa ấn miếng dương môn vào nửa chừng, mép giấy đã kẹt cứng.
Cậu ráng đẩy mạnh một cái, “xoẹt” một tiếng, đồng xu giấy nhăn nhúm rồi rách toạc, vệt chu sa đứt phựt.
“Kẹt rồi!” Đăng nhăn mặt kêu lên.
“Bà làm rãnh nông toẹt lại còn hẹp thế này, nhét sao nổi?
Giấy chứ có phải lá thiếc đâu mà bẻ cong cho lọt!”
Cầm buông kẹp sắt đánh “keng” một tiếng xuống nền đất nện, đứng phắt dậy chống nạnh, mắt quắc lên:
“Anh giỏi thì tự đi mà nhóm lò nung đồng!
Tôi đúc đúng theo cái thước cữ anh đưa chứ đâu.
Giấy của anh lúc xeo thì mỏng tang, quét mực chu sa ướt đẫm rồi phơi khô, nó chẳng phồng lên như bánh đa à?
Tôi chừa cữ một ly là đã tính dư cả dặm rồi!”
“Dư cái nỗi gì!” Đăng cãi lại.
“Mực chu sa có bột khoáng, khô đi nó phải gồ lên một lớp chứ!
Rãnh phải sâu hơn, miệng rãnh phải bo tròn để trượt vào trơn tru.
Làm sít sao thế này, lúc đẩy miếng sau vào nó cạo bay mất bột chu sa của miếng trước thì dẫn mạch bằng niềm tin à?”
Cầm nghiến răng trừng mắt nhìn cậu, nhưng rồi giật phắt khung đồng trên tay Đăng, nheo mắt ngắm nghía mép rãnh dưới ánh nắng sớm.
Vẻ giận dữ dường như xẹp bớt đôi phần.
“Đưa mấy cái đồng xu rách của anh đây xem nào.” Cầm làu bàu, ngồi phịch xuống bậc cửa xưởng.
Cô rút trong bao đồ nghề ra một cây dũa dẹp nhỏ xíu, cặm cụi mài từng gờ rãnh.
Tiếng giũa kim loại rít lên ken két, mạt đồng vàng óng bay lả tả rơi xuống vạt áo chàm.
Đăng ngồi bệt bên cạnh, lặng lẽ rút dao nhỏ tỉ mẩn cạo bớt phần mép xơ quanh các đồng xu giấy bồi.
Mùi mồ hôi quyện với mùi bột đồng khen khét, chẳng ai buồn hé răng thêm nửa lời.
Một lát sau, Cầm thổi phù một hơi cho bay hết mạt bụi, chìa chiếc khung ra:
“Lắp lại xem.”
Đăng cầm miếng mô-đun dương môn, nhẹ nhàng đặt vào miệng rãnh rồi dùng ngón cái gạt nhẹ.
Miếng giấy trượt êm ru vào khe đồng, kêu một tiếng “tạch” giòn tan khi khớp vào rãnh ngói.
Miếng thứ hai, thứ ba trượt theo sau, các đầu nét mực đỏ khít rịt vào nhau không hở lấy một sợi tóc, nằm im phắc trong lòng khung kim loại lấp loáng.
Đăng nín thở, ngón tay run run lùa nốt hai miếng dẫn mạch cuối cùng vào rãnh đồng.
Tám đồng xu giấy nằm san sát thành hai hàng, các vệt chu sa đỏ rực chạm đầu vào nhau, tạo thành một đồ hình hoàn chỉnh nằm gọn trong chiếc khung kim loại xám bóng.
“Xong rồi,” Đăng thì thầm, cổ họng khô khốc.
Cầm không đáp, chỉ vô thức chùi hai bàn tay dính muội than vào ống quần, nghiêng người sát lại gần chiếc đe sắt.
Dường như cô cũng đang nín thở chờ đợi.
Từ túi áo, Đăng móc ra mẩu linh thạch vụn chỉ nhỉnh hơn hạt ngô.
Mẩu đá đục ngầu, nham nhở, thứ phế phẩm rẻ tiền lão Ất hay vứt lăn lóc sau khi vẽ xong mẻ bùa trừ tà.
Đăng cẩn thận đặt nó vào ngàm giữ bằng đồng thau ở góc trên cùng—nơi vệt mực của miếng dương môn đầu tiên chờ sẵn.
Một tiếng “xè” rất khẽ vang lên.
Không có khói khét hay tiếng nổ lách tách làm rách toạc mặt giấy như những lần trước.
Từ mẩu linh thạch, một luồng sáng vàng nhạt mảnh như sợi chỉ trườn ra, len lỏi qua rãnh đồng rồi tràn vào miếng mô-đun thứ nhất.
Đường chu sa rực lên như sợi đồng nung đỏ.
Luồng sáng không ngập ngừng, nhảy qua khe nối cực nhỏ giữa hai mép giấy, ào sang mô-đun âm môn, rồi rẽ ngoặt theo đường gấp khúc của các miếng dẫn mạch.
Cả chiếc khung đồng bừng sáng.
Ánh quang minh dịu mắt tỏa ra quanh mặt đe, hắt lên gương mặt lem luốc của Cầm và mu bàn tay Đăng.
Khí tức linh lực tuần hoàn êm ru, không gợn một chút xung động thừa thãi.
“Chạy rồi...” Cầm lẩm bẩm, mắt mở to nhìn những vệt sáng nối tiếp nhau, vẻ mặt như không tin nổi.
“Mới được một nửa thôi,” Đăng nuốt nước bọt.
“Cái cốt lõi là chỗ này.”
Cậu rút chiếc dùi sắt trên bàn thợ của Cầm, không do dự đâm thẳng mũi nhọn vào miếng mô-đun dẫn mạch thứ ba ở giữa khung.
“Phựt” một tiếng, mũi dùi cào bay một mảng bột chu sa, xé toạc thớ giấy dó.
Ánh sáng lập tức phụt tắt ngấm.
Căn xưởng đúc chìm trở lại trong ánh tranh tối tranh sáng của buổi sớm.
Mẩu linh thạch nguội lạnh, vệt đứt trên miếng giấy bốc lên làn khói xám mỏng tang rồi lặng ngắt.
Cầm giật nảy mình, dường như buột miệng định mắng cậu dở hơi, nhưng Đăng đã nhanh tay dùng mũi dùi cạy nhẹ mép ngoài của đồng xu giấy rách, đẩy nó trượt ngược ra khỏi rãnh then cài.
Miếng giấy thủng rơi lả tả xuống đống xỉ than dưới chân.
Đăng mở bọc vải, nhón một miếng mô-đun dẫn mạch mới toanh, đặt mép vào khe rãnh rồi dùng đầu ngón cái miết nhẹ một cái.
“Tạch.”
Miếng giấy trượt vào đúng khớp, lấp kín khoảng trống vừa bị khuyết.
Hai đầu vệt mực mới tinh vừa chạm khít vào nét vẽ hai miếng bên cạnh, luồng linh khí dồn ứ ở mẩu đá vụn bỗng run lên bần bật.
Ngay tức khắc, vệt sáng vàng lại bùng lên, phóng vút qua mối nối vừa thay thế, chảy tràn khắp toàn bộ đồ hình.
Lá phù lại sáng rực rỡ, tỏa ra thứ hơi ấm nhè nhẹ như chưa từng có vết rách nào xuất hiện.
Cầm đứng chôn chân nhìn chiếc khung đồng đang phát quang đều đặn trên đe, rồi từ từ ngẩng lên nhìn Đăng.
Khóe môi cô hơi giật giật, bàn tay đang nắm chặt chiếc kẹp sắt buông lỏng ra tự lúc nào.
Đăng bật cười thành tiếng, sảng khoái đến mức làm bay cả đám bụi than lơ lửng trước mặt.
Răng cối hỏng thì thay răng cối, lá phù đứt mạch chỉ cần cạy một đồng xu ra là xong.
Mặt trời đứng bóng, chợ chiều làng Yên Thái họp ngay dưới gốc đa bến đò bắt đầu xôn xao tiếng người.
Đăng không bày hàng ra chiếu như mấy bà bán rau bán cá, mà trải tấm mo cau khô lên chiếc chõng tre gãy mép, bên trên xếp ngay ngắn chừng chục chiếc khung đồng xám xịt do Đỗ Cầm gõ vội trưa nay.
Trong mỗi khung, tám đồng xu giấy ghép khít rịt, vẽ chu sa đỏ au, chính giữa gắn một mẩu đá vụn bằng hạt đỗ.
“Phù đuổi muỗi đây!
Phù đuổi muỗi rẻ như cho, treo đầu giường ngủ tít cung mây đến sáng đây bà con ơi!”
Tiếng rao của Đăng vừa cất lên, bác Ba Thọt đang quẩy đôi sọt tre đi ngang liền dừng phắt lại, nheo mắt nhìn đống khung kim loại, dường như tưởng cậu ấm đầu:
“Mày lại học đòi lão Ất vẽ bùa đấy à Đăng?
Phù của lão ấy một lá đổi cả thúng thóc, nhà tao lấy đâu ra tiền mà ngủ tít với chả cung mây!”
“Cháu mà thèm lấy cả thúng thóc như lão Ất thì nói làm gì!” Đăng cười xòa, giơ một chiếc khung lên cao.
“Phù này cháu làm, chỉ lấy đúng ba đồng kẽm một chiếc.
Ba đồng, vừa vặn giá một bát cơm ngoài quán nước đầu làng thôi bác Ba ơi!”
Mấy người đang túm tụm quanh hàng xôi chè nghe thấy liền quay phắt lại.
Giá ngang một bát cơm?
Một lá phù đuổi tà khu muỗi đàng hoàng mà giá chỉ bằng bát cơm vét đáy niêu?
Thím Tám bán cá tanh tưởi ghé lại gần, ngón tay dính vảy cá chọc chọc vào mặt khung:
“Tổ cha mày, lừa thím mày à?
Phù gì mà méo mó, tròn tròn ghép lại như bánh đa vỡ thế này?
Rõ ràng là mấy mẩu giấy vụn dán lại, vá chằng vá đụp!”
“Thì đúng là phù chắp vá mà thím!” Đăng chẳng hề giận, trái lại cười tươi rói.
Cậu cầm mẩu que gẩy nhẹ chốt giữ ở góc khung, chạm vào mẩu đá đục ngầu.
Một tiếng “o o” rất nhỏ, mảnh như tiếng vo ve của cánh ong vang lên.
Từ tám miếng mô-đun tròn bỗng tỏa ra làn khí tức nhàn nhạt.
Đám muỗi mắt bu quanh bờ chân lấm bùn của thím Tám lập tức hoảng loạn dạt ra tứ phía.
Cả vùng quanh chõng tre chừng nửa trượng thoáng sạch, không còn bóng con muỗi nào dám bén mảng tới.
Bác Ba Thọt trố mắt nhìn cẳng chân mình tự dưng hết ngứa ngáy, rồi bật cười ha hả:
“Ơ kìa... muỗi bay sạch thật chúng mày ạ!
Rõ là đồ phù chắp vá!
Cơ mà chắp vá thế này mà đuổi được muỗi thì tao cũng chuộng!”
Dân làng xúm lại đông hơn, tiếng cười râm ran cả góc bến đò.
Người này chê cái tên “phù chắp vá” nghe quê một cục, người kia bảo trông như cái nắp ống tre, nhưng tay thì ai nấy đều móc túi lục lọi tiền lẻ.
“Này Đăng, cho thím một cái phù chắp vá về treo chuồng lợn xem lợn có lớn nhanh hơn không!”
“Tôi một cái!
Ba đồng bằng bát cơm chứ gì, tối nay nhịn bớt miếng cơm để đêm khỏi bị muỗi đốt sưng đùi!”
Chỉ trong chớp mắt, mấy bàn tay chai sần chìa ra giành giật.
Đăng vừa đếm những đồng kẽm kêu leng keng rơi vào ống nứa, vừa thoăn thoắt trao từng khung phù, mồ hôi nhễ nhại nhưng hai mắt sáng bừng bừng.
Tiếng gõ mõ vừa dứt, Đăng đã nép mình sau hàng cột lim chái tây đình làng Yên Thái.
Trên sập gụ gian giữa, bác Cả Khang ngồi xếp bằng bên chiếc điếu bát bốc khói, mặt hầm hầm trước mấy cụ kỳ mục.
Ngay trên mâm đồng trước mặt ông là chiếc khung đồng ghép những đồng xu giấy của Đăng, chắc hẳn tuần đinh vừa tịch thu về nộp.
“Bôi bác!
Thật là bôi bác hết chỗ nói!” Cả Khang đập mạnh tay xuống sập, râu dê rung bần bật.
“Thánh thần truyền lại phù chú trừ tà trảm ma, mỗi nét vẽ là một giọt tinh huyết của thầy phù.
Thằng ranh con dám băm nát bùa ra thành từng mảnh tròn xoe như tiền kẽm, rồi vá víu cài then như thợ ngõa lợp ngói chuồng lợn!”
Cụ trùm Mộc nâng chén trà mạn, khẽ lắc đầu chép miệng:
“Đúng là nhố nhăng.
Vẽ bùa cốt ở tâm chí thành, một nét liền mạch trời đất chứng giám.
Cắt vụn ra bán rẻ mạt ba đồng ngang một bát cơm thế này thì tà ma nó chẳng cười vào mũi dân Yên Thái à?”
“Chính thị là thế!” Cả Khang gắt, giọng oang oang dội lên tận xà nóc.
“Cái thứ chắp vá rách rưới này mà để bên Đúc Thượng hay chợ tranh Hồ Khê trông thấy, họ lại cười cho thối mũi, bảo làng ta hết thời đi sinh chuyện ma mãnh lừa bà con!”
Trong cơn bốc hỏa, tay Cả Khang quệt mạnh làm chiếc khung đồng trượt văng ra mép mâm.
Một mô-đun tròn ở góc ngoài cùng bật ra, lăn lông lốc xuống nền gạch Bát Tràng rồi nằm im sát chân cột đình, ngay gần chỗ Đăng nấp.
Mấy cụ kỳ mục chẳng buồn bận tâm đến mẩu giấy rơi vãi.
Họ bàn thêm vài câu chuyện nộp sưu rồi lục tục đứng dậy vái Thành hoàng, rảo bước ra về cho kịp bữa cơm chiều.
Gian đình dần chìm vào tĩnh mịch.
Nắng quái rọi qua chấn song gỗ, hắt những vệt dài vàng vọt lên đám tàn hương nguội ngắt.
Cả Khang vẫn ngồi lại trên sập, gõ cạch cạch đầu cần điếu vào thành mâm.
Đăng nín thở định lùi chân chuồn êm, nhưng chợt thấy dáng ông khựng lại.
Cả Khang đảo mắt nhìn quanh một vòng.
Thấy bốn bề vắng tanh, ông chống tay đứng dậy, bước chân xuống sàn gạch bỗng nhẹ tênh khác hẳn vẻ hùng hổ lúc nãy.
Ông đi thẳng về phía góc cột lim.
Đăng nín thở nhìn qua khe gỗ.
Bác Cả Khang cúi gập lưng, chìa bàn tay thô ráp nhặt miếng giấy bồi tròn xoe lên.
Ông không hề vò nát hay vứt ra sân.
Ngược lại, Cả Khang đưa sát miếng giấy lên mắt, cẩn thận lật qua lật lại, ngón tay cái nhè nhẹ miết dọc theo đường chu sa đỏ au nối liền mép giấy.
Đôi lông mày rậm chau lại đăm chiêu, dường như đang cố nhìn thấu cái cách mà những sợi xơ dó giữ chặt lấy bột khoáng dẫn khí.
Ngắm nghía hồi lâu, Cả Khang liếc nhanh ra cổng đình lần nữa, rồi nhanh như cắt nhét tọt đồng xu giấy vào sâu trong túi áo cánh chàm.
Ông vỗ nhẹ mép túi cho phẳng phiu, đoạn mới lững thững chắp tay sau đít bước ra ngõ.
Đăng tựa lưng vào thân cột lim mát lạnh, trong ngực dấy lên cảm giác vừa buồn cười lại vừa kỳ lạ.
Một cơn gió hanh đầu mùa bỗng thốc qua sân đình, cuốn đám lá đa khô bay xào xạc trên nền gạch đỏ rực ráng chiều.
Phía cuối làng, bên trên rặng tre ngả bóng, một lò sấy giấy bắt đầu nhóm lửa ca đêm, nhả từng cuộn khói xám đùng đục bay là là vào tầng không giá lạnh.