Chương 3·17 phút đọc

Nhịp trống đền Mẫu

✻

Miếng ván khắc gỗ thị đã bị tuần đinh giải lên đình làng từ chập tối theo lệnh bác Cả Khang, nhưng họ không ngờ dưới gầm giường nhà họ Phan vẫn còn một miếng khác.

Miếng này Đăng đục dở trên khúc gỗ ổi khô, nhỏ hơn, thớ gỗ sần sùi khiến các rãnh khắc có phần thô vụng, nhưng từng đường dẫn âm môn dương môn đều đã được cậu cặm cụi đo bằng chiếc thước cữ lá đồng thau của Đỗ Cầm suốt mấy đêm trước.

Ở nhà lúc này chẳng khác nào tự chui đầu vào rọ, kiểu gì mắt mũi kèm nhem của mấy lão kỳ mục cũng sai người lượn lờ dòm ngó ngoài ngõ.

Đợi gian nhà trên vang lên tiếng ngáy đều đều của bố sau một ngày dài dầm chân dưới bể ngâm vỏ dó, Đăng mới dám lách qua khe liếp, ôm ghì bọc đồ nghề chuồn thẳng ra hướng bờ đầm.

Sương đêm buốt như kim châm qua lớp áo cộc mỏng dính, nhưng hai lòng bàn tay cậu thì nóng ran vì hồi hộp.

Nơi an toàn nhất lúc nửa đêm chỉ có gò đất sau đền Mẫu.

Đám trai làng bạo gan đến mấy cũng chẳng dám bén mảng tới đây vào giờ tý vì sợ chạm vía quan tuần, còn tuần đinh thì rét cóng, chỉ túm tụm quanh đống lửa sưởi ở điếm canh đầu xóm.

Đằng sau đền, rễ đa buông tua tủa từ trên cao xuống như những bức mành dày, che kín một khoảng đất nện phẳng phiu.

Gió đồng thổi qua rặng cây chỉ nghe xào xạc từng cơn, đứng bên ngoài nhìn vào chẳng thể thấy lọt một tia sáng nào.

Đăng ngồi thụp xuống sau gốc đa, gạt vội đám lá mục ẩm ướt sang bên.

Cậu thắp mẩu nến sáp ong nhỏ bằng ngón tay út, cẩn thận khum lòng bàn tay che chắn để ánh sáng leo lét chỉ vừa đủ rọi lên mặt ván.

Mùi chu sa nồng nồng quyện với mùi dầu trẩu bốc lên ngai ngái trong không khí ẩm lạnh.

Đăng lấy chiếc chổi đót nhỏ quét đều mực đỏ lên mặt gỗ ổi.

Mực sánh vừa độ, bám vào từng gờ rãnh mịn màng như nhung.

Cậu rút trong bọc ra tờ giấy dó đã sấy thật khô, nín thở đặt mép giấy khớp vào góc cữ rồi dùng miếng xơ mướp miết nhẹ từ trên xuống dưới.

Động tác dứt khoát, liền mạch không một nét thừa.

Phù vừa rời khỏi ván, những đường chu sa trên giấy bỗng lóe lên một đốm sáng đỏ au như than đượm, phát ra tiếng vo vo khe khẽ.

Tim Đăng đập thình thịch lên tận cổ họng, tưởng như sắp nhảy ra khỏi lồng ngực.

Đúng lúc cậu run rẩy định áp thêm một mảnh vụn linh thạch vào điểm nút chính giữa để kích hoạt dòng khí, một bóng đen cao gầy bỗng phủ sụp lên mặt đất, nuốt chửng vệt sáng non nớt vừa nhen nhúm.

Đăng giật thót, ngửa cổ ra sau suýt nữa ngã ngửa vào hốc rễ đa chằng chịt.

Cách cậu chưa đầy ba bước chân, một ngọn đèn bão cầm tay đang le lói tỏa ra quầng sáng vàng đùng đục.

Sau ánh đèn là gương mặt khắc khổ, nghiêm nghị của Bà Ba Thoải.

Bà mặc chiếc áo cánh nâu sẫm, mái tóc vấn trần không một sợi rối, hai mắt sâu hoắm nhìn trừng trừng xuống đống giấy dó, nghiên mực và miếng ván gỗ ổi còn ướt nhoẹt chu sa dưới chân Đăng.

Dưới tà áo bà dường như không có ngọn gió nào thổi lay động, bà đứng sừng sững ở đó từ lúc nào mà không hề phát ra một tiếng động, như thể vừa bước ra từ chính thân cây cổ thụ ngàn năm.

Cổ họng Đăng nghẹn ứ, hai hàm răng va vào nhau lập cập.

Trong đầu cậu lập tức hiện ra viễn cảnh bác Cả Khang cầm roi song đứng giữa sân đình, trát phạt vạ gõ cồm cộp, còn bố cậu thì lầm lũi cúi đầu nhận lỗi thay con.

Đăng vội vàng quơ tay dập tắt mẩu nến sáp, luống cuống giấu miếng ván gỗ ổi ra sau lưng, nhưng mực chu sa còn ướt nhoẹt đã quẹt một vệt đỏ lòm lên gấu quần cộc.

“Bà... bà Ba...” Cậu lí nhí, trán toát mồ hôi hột dù gió sông thổi vào lạnh ngắt.

Bà Ba Thoải không nói nửa lời.

Chiếc đèn bão trong tay bà hạ thấp xuống, ánh lửa đùng đục quét qua mảnh giấy dó loang lổ mực nằm trên nền đất, rồi dừng lại thật lâu trên những ngón tay lem luốc của Đăng.

Đôi mắt sâu thẳm của người thủ nhang dường như phẳng lặng như mặt nước đầm đêm đông, chẳng có lấy một gợn sóng giận dữ.

Cái nhìn ấy khiến Đăng thấy gai ốc dọc sống lưng, còn sợ hơn cả tiếng quát tháo của lão Cả Khang ban chiều.

“Thứ này...” Giọng bà Ba khàn đục, chậm rãi buông từng tiếng giữa màn đêm quạnh quẽ, “là trò nghịch trên đình làng vừa bắt được ban chiều?”

Đăng nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, vội vàng gật đầu:

“Cháu... cháu chỉ thử xem mực có ăn giấy không thôi ạ.

Đêm hôm cháu không dám phá quấy, bà đừng mách bác Cả...

Bố cháu biết thì lột da cháu mất.”

Gió đêm rít qua kẽ rễ đa, phát ra tiếng rù rì lành lạnh.

Bà Ba đưa tay khẽ vén tà áo nâu sẫm, rồi chầm chậm cúi người nhặt tờ giấy dó in hình phù văn lên.

Những ngón tay gầy guộc cẩn thận vuốt phẳng mép giấy.

Đăng nín thở nhìn theo, chỉ sợ bà xé toạc nó ra rồi gọi tuần đinh tới trói gô cậu lại.

Nhưng bà chỉ nhìn chăm chú vào những đường chu sa nối giữa các điểm nút, chóp mũi khẽ hít một hơi mùi dầu trẩu hãy còn nồng nặc.

“Lý trưởng việc của lý trưởng, việc của đền để đền tự tính.” Bà Ba hạ tờ giấy xuống, giọng đều đều như tụng kinh gõ mõ, không nghe ra giận hay thương, “Chỗ này là đất cửa Mẫu, không phải nơi cho con nít bôi son trát phấn, làm trò vụng dại.”

Đăng tròn mắt nhìn bà, chưa dám tin tai mình vừa nghe thấy gì:

“Bà... bà không mách bác Cả thật ạ?”

“Mách để lão lôi chiêng trống sang làm náo loạn chốn thanh tịnh này à?” Bà Ba Thoải lườm cậu một cái sắc lẹm, cái nhìn làm Đăng rụt cổ lại, “Thu dọn hết đống rác rưởi này mang về gầm giường.

Từ sớm mai, gà gáy le te cữ thứ nhất thì vác chổi sang đây.

Quét từ tam quan qua sân tế, xuống tận bến nước đằng sau, quét liền một tuần cho sạch bụi trần dưới chân.

Thiếu một buổi, hay để một cọng rác sót lại, tao khắc đem ván này sang tận cửa nhà lão Khang.”

Nói đoạn, bà giơ ngọn đèn bão quay lưng đi thẳng vào bóng tối của hậu cung, tà áo nâu lướt đi êm ru như không chạm đất.

Đăng ngồi bệt giữa đám rễ đa cổ thụ, nỗi mừng hú vía trào lên trong lồng ngực.

Cậu vội vàng vơ vét ván khắc, giẻ lau nhét tọt vào bọc nải, vừa thở phào vừa lật đật lần đường trườn qua bờ rào trốn về nhà.

Gà gáy te te cữ thứ nhất, sương mù còn đặc quánh như nước hèm chưa lọc, Đăng đã phải trở dậy vác chổi sang đền.

Gạch Bát Tràng lát sân rêu phủ trơn tuột, lá đa già rụng lả tả sau mỗi cơn gió lạnh, quét được một đống ở góc này thì đằng kia lá lại bay xao xác.

Gió bấc lùa qua cổ áo manh mỏng làm cậu rùng mình một cái.

Cậu chống cán chổi rơm thở dốc, hai bắp tay mỏi nhừ, lòng bàn tay hôm qua cọ vào ván gỗ ổi nay rát rạt, mỗi lần siết chặt cán chổi lại tấy lên buốt nhức.

Cả cái án phạt quét dọn này lẫn việc ván khắc chính bị tịch thu trên đình đều khiến cục tức trong ngực cậu nghẹn ứ.

Trong gian tiền tế mở toang cửa, mấy đọn hương vòng tỏa khói thơm ngai ngái, quyện với mùi ẩm mốc của cột gỗ rêu phong.

Bà Ba Thoải đang tỉ mẩn lau từng chân đèn đồng trên hương án, bên cạnh xếp la liệt những khay đựng khăn chầu, áo ngự đủ màu xanh, đỏ, trắng, vàng thêu kim tuyến lấp lánh, cùng mấy chiếc mũ cánh phượng đính gương tròn óng ánh, chuẩn bị cho canh đàn mở phủ sắp tới.

Đăng liếc nhìn đống xiêm y sặc sỡ kia, bờ môi bĩu ra một cái rõ dài.

Cậu quẹt mũi, bực bội lia chổi rào rào trên mặt gạch, mồm lẩm bẩm chẳng thèm giữ ý:

“Rõ khéo vẽ chuyện.

Mấy tấm vải xanh đỏ lòe loẹt khoác lên người rồi nhảy nhót quay cuồng, lắc lư đầu cổ làm như thần thánh nhập vào thật không bằng.

Lại còn trống phách gõ inh tai nhức óc suốt đêm thâu, chẳng qua chỉ là trò múa may mê tín bịp mắt đàn bà con gái với mấy kẻ nhẹ dạ.

Tốn cả đống tiền gạo rước phường chầu về gảy đàn, thà để chỗ ấy mà đúc cái khuôn hay mua lấy mớ linh thạch có khi còn cứu được khối người.”

Cậu càng quét càng hăng máu, cán chổi gõ cồm cộp xuống nền gạch kênh:

“Phù đạo người ta là mạch lạc rõ ràng, âm môn ra âm môn, dương môn ra dương môn, vẽ đúng thì phát sáng, sai một nét là xì khói tắt ngóm.

Muốn sáng đèn thì phải thông mạch, muốn giữ lửa thì phải tính từng rãnh sâu nông.

Đằng này khấn vái lầm rầm ba lăng nhăng, rảy nước rảy hoa lung tung mà đòi trừ tà trị bệnh.

Đúng là rặt một phường nhảm nhí...”

Đăng nói chưa dứt câu thì khựng lại, cảm giác có luồng khí lạnh phả vào sau gáy rờn rợn.

Cậu giật mình quay phắt ra sau.

Bà Ba Thoải đã đứng tựa bên bậu cửa gỗ lim từ lúc nào.

Trên tay bà vẫn cầm chiếc khăn điều ẩm dùng để lau lư hương, vạt áo nâu sồng buông thõng im lìm không một gợn gió lay.

Đôi mắt sâu hoắm của người thủ nhang đăm đăm nhìn Đăng, không lộ vẻ giận dữ, cũng chẳng buồn cất lời mắng mỏ hay tranh cãi lấy nửa câu.

Không gian bỗng chìm vào một cõi tĩnh lặng đến nghẹt thở, chỉ còn tiếng giọt sương đọng trên mái ngói rơi tí tách xuống bậc thềm đá.

Ánh mắt ấy phẳng lặng như đáy giếng cổ giữa mùa cạn, sâu hút và dường như thấu suốt từng mớ suy nghĩ non nớt, ngông nghênh đang sôi sùng sục trong đầu cậu.

Đăng thấy sống lưng tự dưng buốt nhói, lời muốn nói tiếp nghẹn ứ nơi cuống họng.

Cậu vội vàng cụp mắt xuống mũi hài, lúng túng quơ chiếc chổi rơm lia vội lia vàng vào đống lá rụng, vờ như chưa từng buông một lời xấc xược nào, không dám ngẩng lên nhìn lại dù chỉ một lần.

Đêm mở phủ, đền Mẫu chật ních người.

Khói trầm quyện mùi sáp nến bốc lên ngùn ngụt quanh những cột lim đen nhánh.

Đăng nép bên góc tiền tế, tay lăm lăm chổi rơm và giỏ tre để chực nhặt tàn hương, vỏ trầu theo lệnh phạt của bà Ba Thoải.

Cậu chốc chốc lại phải nghiêng đầu tránh tàn nhang rớt trúng mặt, bụng dạ vẫn không thôi ấm ức vì phải chôn chân cả tối xem cái việc mình cho là mất công toi.

Giữa sập tế phủ chiếu hoa, bà Ba Thoải khoác tấm áo đoạn đỏ thêu rồng phượng, múa đôi mồi lửa rực sáng thành từng vòng tròn lộng lẫy.

Phía góc sập, hai bác cung văn ngồi xếp bằng, tay gảy đàn nguyệt tưng tưng réo rắt, tay gõ phách lách cách giòn giã.

Tiếng hát văn trầm bổng, khi khoan thai như suối chảy, khi dồn dập như gió lùa đỉnh ngàn, quyện vào tiếng thanh la chũm chọe vang rền khắp gian đền.

Người làng quỳ rạp xung quanh, tay chắp trước ngực khấn vái theo từng nhịp lắc lư của bóng áo đỏ.

Đăng tựa lưng vào cột gỗ, một tay thọc sâu vào túi áo cánh ngực.

Trong túi cậu là mảnh giấy dó in hỏng từ hôm nọ—lá phù Minh Quang bị đứt nét ở góc dương môn, rãnh mực nông toẹt chẳng thể tụ nổi nửa tia linh khí, bị cậu vo tròn nhét tạm quên chưa vứt.

Bỗng nhiên, tiếng trống đổi điệu.

Tay trống dằn dùi dồn dập: *Cắc... tùng... cắc tùng tùng!* Nhịp trống mỗi lúc một mau, nện thình thịch vào màng nhĩ.

Chính vào khoảnh khắc ấy, ngực áo Đăng bỗng giật nảy một cái.

Tưởng có con sâu róm rớt từ xà gồ xuống áo, Đăng vội ấn tay lên ngực.

Nhưng không phải.

Một luồng râm ran kỳ lạ truyền thẳng qua lớp vải thô ráp áp vào da thịt cậu.

Lá phù hỏng đang rung lên.

Không phải rung chấn do nền đất truyền lên, mà là một chuyển động rù rì, tê dại như cánh ve mắc kẹt.

Từng thớ sợi của tờ giấy dó cọ quậy liên hồi.

Điều quái lạ nhất là nhịp rung ấy ăn khớp hoàn toàn với tiếng gõ: trống nện một tiếng *tùng*, tờ giấy giật thót một nhịp; dùi gõ lách cách liên hoàn, những đường chu sa trên mặt giấy dường như cũng nóng ran lên theo từng điểm nối.

Mạch giấy run rẩy từng chập, sống động như thể có luồng hơi thở vô hình đang luồn lách qua các khe rãnh nứt nẻ.

Đăng mở to hai mắt, tim đập thình thịch.

Cậu luống cuống thọc ngón tay vào mép túi áo.

Mặt giấy ram ráp, ấm sực và run bần bật theo nhịp phách.

Một lá phù không gắn linh thạch, nét vẽ gãy cụt, về lý phải chết rũ như mảnh vỏ cây khô, cớ sao lúc này lại rạo rực như vừa được rót đầy linh khí?

*Tùng!*

Một tiếng điểm chát chúa vang lên rồi đột ngột ngắt bặt.

Bác cung văn buông dùi trống, tiếng đàn nguyệt rơi tõm vào tĩnh lặng.

Trên sập tế, bà Ba Thoải khựng lại, tà áo đỏ rủ xuống bất động dưới tấm khăn phủ diện trùm kín mặt.

Cả gian tiền tế nín thở, chỉ còn nghe tiếng nến nổ lép bép tàn hoa.

Ngay tích tắc tiếng trống dứt hẳn, sự lay động trong ngực Đăng biến mất sạch trơn.

Tờ giấy dó lập tức nguội ngắt, mềm oặt ra và nằm im thin thít, trở lại thành mảnh rác vụn vô tri ép sát vào da thịt lạnh ngắt.

Đăng đứng chôn chân bên cột gỗ, bàn tay vẫn đờ đẫn ghì chặt lấy ngực áo, trán lấm tấm mồ hôi dù gió đêm ngoài sân đang thổi thốc vào buốt giá.

Tan canh đàn, đám đông dần vãn.

Người làng hí hửng chia nhau bưng lộc ra về, tiếng nói cười xôn xao loãng dần rồi chìm hẳn vào màn sương đêm lạnh buốt.

Gian tiền tế chỉ còn lại tàn hương rụng, vụn nến sáp và cánh hoa rơi vãi trên manh chiếu cói.

Đăng máy móc cầm chổi quét dọn, nhưng bàn tay trái vẫn vô thức ấn chặt lên ngực áo, nơi lá phù hỏng lúc này đã nằm im lìm, lạnh toát như một mảnh vỏ cây khô.

Khi người khách cuối cùng bước qua bậc tam quan, ngôi đền cổ rơi vào khoảng thinh lặng thăm thẳm.

Bà Ba Thoải đã cởi bỏ tấm khăn phủ diện đỏ thắm và bộ xiêm y thêu kim tuyến từ lúc nào.

Khoác lại chiếc áo cánh nâu sồng sờn vai quen thuộc, dáng người gầy guộc của bà chầm chậm bước ra từ khoảng tối phía hậu cung.

Bà Ba dừng lại ngay mép bậu cửa lim, đôi mắt sâu thẳm nhìn cậu bé đang đứng chôn chân bên đống rác chưa gom hết.

Đăng giật mình thót một cái, vội buông tay khỏi ngực áo, nắm chặt lấy cán chổi rơm, cổ họng nghẹn ứ như thể vừa bị bắt quả tang một bí mật tày đình.

Cậu cứ ngỡ bà sẽ mắng chuyện cậu lơ đãng thất thần.

Nhưng bà Ba chỉ đứng cách cậu vài bước chân, ánh nhìn phẳng lặng dường như xuyên thấu qua cả lớp vải áo nâu mỏng manh nơi ngực cậu.

Giọng bà khàn khàn, chậm rãi buông rơi giữa màn đêm quạnh quẽ:

“Lễ cũ không phải để múa cho đẹp.”

Nói xong, bà không đợi cậu đáp lấy nửa lời, cũng chẳng nhìn xuống túi áo cậu thêm lần nào nữa.

Người thủ nhang xoay lưng, tà áo nâu lướt đi êm ru về phía ban thờ Đức Thánh Mẫu.

Bà chầm chậm nâng ba nén hương trầm châm vào ngọn lửa đèn bão, rồi kính cẩn cắm sâu vào bát hương bằng sứ cổ.

Đốm than đỏ rực lập lòe tỏa làn khói mỏng trong bóng tối tĩnh mịch, để lại phía sau một khoảng lặng hun hút, không một lời giải thích nào.

Đăng đứng ngây người.

Câu nói ngắn ngủi của bà như chiếc đinh đóng chặt vào tâm trí.

Cậu vội lia mấy nhát chổi gom nốt tàn nhang, cất chổi vào góc cột rồi ôm bọc đồ nghề lầm lũi rảo bước về nhà trong bóng đêm đặc quánh.

Về tới gian buồng xép, Đăng gài chặt then liếp, thắp mẩu nến sáp ong nhỏ đặt lên mặt chiếc hòm gỗ cũ.

Cậu run rẩy móc mảnh giấy dó nhàu nát trong túi áo ra, vuốt phẳng lên mặt gỗ.

Từng nét mực chu sa đứt đoạn nham nhở hiện rõ dưới ánh nến vàng đùng đục.

Nó rõ ràng là một lá phù phế phẩm, không hề có lấy một mảnh vụn linh thạch để dẫn truyền linh lực.

Nhưng cảm giác râm ran, tê dại từng đợt theo nhịp trống lúc nãy vẫn còn in hằn trên đầu ngón tay cậu, chân thực đến mức không thể nào là ảo giác.

Đăng lật mở cuốn sổ tay đóng bằng giấy bản thô ráp mà cậu vẫn dùng để vẽ lại các mạch phù.

Cậu cầm chiếc bút lông nhỏ, chấm nhẹ vào nghiên mực đen.

Dưới ánh nến bập bùng soi bóng lên vách đất, ngòi bút ngập ngừng một thoáng rồi nắn nót viết xuống trang giấy trắng một câu hỏi:

*Nhịp trống chầu văn và đường dẫn phù khí... có liên quan gì đến nhau?*

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương