Mùi chu sa nồng nặc quyện dầu trẩu làm góc chái bếp cay sè.
Trên mâm đồng sứt góc, thứ mực đỏ quánh như tiết canh trâu đầu hội làng đã sẵn sàng.
Phan Đăng nhúng con lăn bọc vải thô, miết ba lượt cho đều rồi cẩn thận quét lên mặt ván gỗ thị.
Từng đường rãnh khắc nổi của Minh Quang phù hiện lên sắc cạnh, đỏ tươi dưới nắng sớm.
Nhìn bằng mắt, những con mương dẫn khí này ngay ngắn hơn nét bút run rẩy của lão Ất nhiều.
“Anh Đăng ơi, có sáng bằng đèn lồng hội rằm không?”
Thằng Tí thò đầu trọc lốc qua cánh cửa liếp, hai mắt tròn xoe.
Nó ngồi xổm trên bậu cửa từ lúc gà gáy le te, ngóng như sắp được xem trò tung hứng ở đình.
“Ngồi im, thở mạnh là bay giấy bây giờ,” Đăng lầm bầm, tim đập thình thịch.
Cậu trải tờ giấy dó bóc tư lên mặt ván, dùng xơ mướp khô xoa đều lưng giấy đúng như thợ tranh Hồ Khê.
Khi mép giấy hơi hằn nét vẽ, Đăng nín thở bóc ra.
Mực ăn đều tăm tắp, đồ hình đỏ rực, không thừa lấy một giọt.
Đặt lá phù lên nong phơi, Đăng học lão Ất, giơ tay vỗ mạnh.
“Bép!”
Chẳng có ánh sáng vàng dịu nào bừng lên.
Thay vào đó là tiếng “xì...” kéo dài như mỡ lợn rớt chảo than hồng.
Giữa tâm lá phù, nơi đường xoắn ốc hội tụ, một vệt khói đen sì phụt ra khét lẹt, để lại cái lỗ thủng bằng hạt đỗ cháy đen thui.
Thằng Tí rụt cổ: “Nó... nó xì hơi hả anh?”
“Chắc mực chưa khô hẳn.” Đăng tự trấn an, lau mồ hôi trán.
Nhưng lá thứ hai in ra, vỗ tay: lại “xì” một tiếng, góc phù cháy nham nhở.
Đến lá thứ ba, thứ tư, rồi thứ bảy, thứ tám, chái bếp chìm trong làn khói xám xịt cay xè.
Mùi lưu huỳnh bốc lên hăng hắc làm Đăng ho sù sụ.
Cứ mỗi lần cậu vỗ tay gom chút linh khí ít ỏi ép vào lá phù, những con mương mực đỏ lại nghẽn ở đâu đó, bứt rách thớ giấy rồi tan thành đám khói tức tối.
Đến lá thứ mười, Đăng mất kiên nhẫn cúi sát mặt nhìn xem mạch khí chạy lối nào rồi mới đập tay xuống mép bàn.
“Bụp!”
Một tiếng nổ nhỏ vang lên.
Đốm lửa lòe bắn vọt, khói cuộn tròn táp thẳng vào mặt.
Đăng giật nảy mình ngửa ra sau, ngã ngồi bệt xuống đống rơm khô.
Mùi khét lẹt bốc lên ngay đầu mũi.
Cậu đưa tay quờ lên trán: hàng lông mày bên trái rậm rạp giờ cụt lủn một nửa, chỉ còn vệt cháy sém đen thui như đuôi chuột nướng.
Ở ngạch cửa, thằng Tí trố mắt nhìn cái mặt đen nhẻm của Đăng rồi ôm bụng cười như nắc nẻ.
Nó lăn quay ra đất, hai chân đạp loạn xạ vào giát cửa:
“Ối giời đất ơi!
Anh Đăng thành ông Táo một bên mày rồi!
Để em gọi bu sang xem ông Táo xì khói!”
“Đứng lại!
Mày mà hé răng tao bắt cởi truồng đuổi quanh đầm sen bây giờ!” Đăng vừa ho vừa gắt ầm lên, tay ôm nửa bên mày còn ấm tàn tro.
Nhìn mười lá giấy dó nằm la liệt trên mặt phản, cái thủng cái cháy, ngực cậu thắt lại vì nỗi thất vọng cay nồng chẳng kém gì khói chu sa.
Đăng quệt mu bàn tay lên trán, chỉ thấy tro đen nhẻm dính vào mồ hôi.
Cậu lườm thằng Tí một cái sắc lẻm khiến nó vội ngậm miệng, hai tay ôm bụng nén cười.
Gạt tàn tro trên phản, Đăng rút cuốn sổ tay bằng giấy dó trong ngực áo, nhặt mẩu than củi dưới gầm lò rồi ngồi bẹp xuống đất.
Mười cái xác phù nằm dàn hàng như lũ cá mè chết trương sau lũ, cái thủng bụng, cái xém đuôi, cái lại đen thui.
Cậu nhặt lá đầu tiên soi lên ánh nắng liếp cửa.
Mực chu sa bị nhòe một quầng mỏng sang thớ giấy.
Nhựa dó hút nước quá nhanh làm dầu trẩu loang rộng, dính đường dẫn khí chính vào nhánh phụ.
Con mương vỡ bờ khiến nước tràn sang ruộng bên, mạch chập, linh khí chẳng biết đi ngả nào bèn bốc khói.
Đăng chấm than viết vội: “Lỗi thứ nhất: mực loãng, dầu trẩu quá tay.”
Đến lá thứ năm, không có vết mực loang nhưng thớ giấy quăn queo, ẩm rượt.
Đăng áp má vào mặt sau tờ giấy, cảm nhận rõ hơi lạnh.
Mấy hôm nay trời nồm, đống giấy bóc tư góc bếp nhiễm hơi ẩm từ vạc ngâm vỏ dó của bố.
Giấy ẩm như bùn nhão, linh khí vừa dẫn qua đã bị hơi nước dập tắt ngấm, chỉ kịp xì một tiếng giận dỗi.
“Lỗi thứ hai: giấy ẩm, phải sấy kiệt.”
Nhưng đáng sợ nhất là lá thứ mười—thứ vừa cạo sạch nửa hàng lông mày của cậu.
Vết cháy nổ toác ngay tâm đồ hình, nơi ba vòng xoắn hội tụ thành cổng khóa.
Đăng lật mặt ván gỗ thị lên soi sát mắt.
Đoạn rãnh này bị lẹm rõ rệt.
Đêm qua mỏi mắt, con dao trổ trượt tay làm đáy rãnh chỗ nông choèn, chỗ khoét sâu hoắm.
Nét mực bên ngoài tưởng liền, nhưng đoạn nông thì chu sa mỏng tang, đoạn sâu lại đọng thành vũng.
Linh khí dồn qua chỗ nghẽn chẳng khác nào nước lũ đổ vào cống hẹp, không nổ mới lạ.
“Lỗi thứ ba: nét khắc sâu nông không đều, khí nghẽn sinh nổ.”
Tìm ra manh mối, cơn bực bội tan biến, nhường chỗ cho sự ngứa ngáy muốn làm lại ngay.
Cậu quệt mũi, để lại thêm một vệt nhọ nhem ngang mặt.
“Tí, chạy ra nhặt cho anh nắm lá chuối khô!”
Thằng bé ba chân bốn cẳng biến mất.
Đăng xúc thêm bột chu sa khô đổ vào mâm mực, lấy thanh tre quấy cật lực cho đến khi mực đặc quánh, dẻo quánh lại, không còn rỉ giọt dầu nào.
Thằng Tí ôm về mớ lá khô giòn rụm.
Đăng kẹp từng tờ giấy dó vào giữa hai lớp lá chuối, áp lên thành nồi cám heo còn ấm nóng của mẹ.
Hơi nóng âm ỉ khiến thớ giấy se lại, phẳng lì và khô cong như mo cau nỏ nắng.
Còn lại ván gỗ, Đăng nín thở cầm con dao trổ nhỏ, tì ngón cái làm cữ, tỉ mẩn nạo từng dăm gỗ ở đoạn rãnh bị lẹm.
Dù vết sém trên trán còn rát, lưỡi dao vẫn gọt từng vụn gỗ thị mỏng như cánh kiến, san đáy rãnh phẳng lì không để lại gờ gập.
Chính ngọ, mồ hôi chảy ròng ròng xuống cằm, Đăng lau ván khắc vào vạt áo rồi bắt đầu lăn lượt mực mới.
Cậu bóc tờ giấy dó đã khô giòn, đặt nhẹ lên mặt gỗ, dằn lòng xoa thật chậm từng vòng xơ mướp.
Lần này, nét mực in ra sắc như dao cạo, đỏ thắm và khô ráo lạ thường.
Lá phù thứ mười một vẫn không nổ, nhưng chỉ vừa chạm tay vào đã “xì” một tiếng, nhả ra dải khói mỏng màu xám ngoét rồi xìu xuống.
Đăng ho sặc sụa, vơ cái nón rách phẩy lấy phẩy để, nhưng chái bếp kín gió đã đặc quánh thứ khói chu sa hăng nồng.
“Bác Lộc ơi!
Nhà bác hun chuột hay đốt rơm ướt đấy?”
Tiếng gọi lanh lảnh ngoài ngõ cắt ngang cơn ngạt thở.
Đỗ Cầm, tay xách chiếc túi vải bố to tướng sang lấy giấy dó về làm khuôn sáp, thoăn thoắt bước vào.
Nhưng vừa tới ngạch cửa, cô thợ đúc làng bên đã phải giơ tay áo che mũi, lùi lại hai bước.
Khói tản bớt, đôi mắt tròn xoe của Cầm quét qua đống giấy rách nát trên phản rồi dừng sững trên khuôn mặt Đăng.
Trong một chớp mắt, Cầm như nín thở.
Rồi cô bụm miệng, hai vai rung lên bần bật trước khi phá lên cười giòn tan:
“Ối giời đất ơi Đăng ơi!
Anh vừa đi hát tuồng ở hội đền về đấy à?
Ai cạo mất nửa hàng lông mày bên trái của anh thế kia?”
“Cười cái gì mà cười!” Đăng ngượng chín mặt, vội kéo vạt áo lên che trán, giọng càu nhàu.
“Người ta đang bận việc, sang đây làm gì?”
“Sang lấy mười xấp giấy dó dày cho bố tôi lót khuôn đúc chuông chứ làm gì.” Cầm vừa bước vào vừa xua tay đuổi khói, mắt liếc qua mâm mực đỏ rồi chộp ngay lấy phiến ván gỗ thị đặt trên bàn.
“Này, anh lén nghịch cái gì đấy?
Vẽ phù bằng ván khắc à?”
Đăng toan giật lại nhưng Cầm đã nhanh tay né sang một bên.
Cô nheo mắt nhìn những đường rãnh ngoằn ngoèo, rồi đưa đầu ngón tay cái—chai sần và xám xịt muội than đúc đồng—miết dọc theo rãnh dẫn khí ở trung tâm.
Vẻ cợt nhả biến đâu mất, thay vào đó là nét nghiêm nghị của phường thợ lành nghề.
“Khắc thế này mà cũng đòi in,” Cầm bĩu môi, chê thẳng thừng.
“Tay anh khắc gỗ như gà bới đất cát sau mưa.
Nhìn bên trên tưởng thẳng thớm, nhưng đáy rãnh chỗ thì nông toẹt chỉ vừa chạm thớ thịt gỗ, chỗ ngoặt lại khoét sâu hoắm thành cái hố.
Mực đọng đáy hố thì dày cộp, chỗ nông thì trơ trọi chẳng dính giọt nào.”
“Đã nạo phẳng lại rồi mà...” Đăng lúng búng cãi, nhưng giọng xẹp lép.
“Phẳng con mắt anh ấy!” Cầm xẵng giọng.
Cô thọc tay vào túi dết bên hông, rút ra thanh kim loại dẹp dài bằng ngón tay.
Đó là chiếc thước cữ bằng đồng thau sáng bóng, đầu thước có ngạnh nhỏ trượt trên rãnh chia vạch li ti.
“Bên làng Đúc Thượng chúng tôi, đúc cái chuông con mà lòng khuôn chênh nhau nửa hạt thóc là tiếng kêu đã tịt ngỏm rồi.
Ba cái trò dẫn khí này chắc cũng thế thôi.”
Cầm đặt ngạnh thước cữ tì vuông góc xuống mặt ván, đẩy mũi kim chạm đáy rãnh khắc:
“Nhìn đây này.
Đầu mương này sâu hai phần mười đốt ngón tay.
Nhưng anh kéo dao trổ đến khúc cua này xem...” Cầm trượt thước sang góc xoắn, mũi kim thụt sâu xuống rõ rệt.
“Thấy chưa?
Chỗ này sâu gấp rưỡi!
Mực lọt xuống đây thành một vũng bùn, thớ giấy dó làm sao mà hút đều cho nổi?
Chỗ cạn chỗ sâu như lòng suối đầy đá tảng, nước không nghẽn rồi vỡ bờ mới là lạ!”
Cô ấn thanh thước đồng vào lòng bàn tay cáu bẩn của Đăng, mắt nhìn xoáy vào cậu:
“Cầm lấy cái này mà đo.
Cứ mỗi tấc rãnh phải chọc thước xuống kiểm tra.
Nạo cho cái đáy gỗ bằng chằn chặn từ đầu đến đuôi đi đã, rồi hẵng mơ đến chuyện vỗ tay cho nó sáng!”
Nắng chiều xiên qua giàn phên nứa, rải những vệt vàng óng ả lên khoảng sân phơi giấy.
Cạnh Đăng, ba mươi lá phù hỏng nằm chất đống như lá rụng mùa khô, lá thì cháy góc, lá thì xì khói đen sì.
Nhưng đến lần in thứ ba mươi mốt này, từng đường rãnh trên miếng gỗ thị đã khác hẳn.
Cầm ngồi xổm bên cạnh, chiếc kẹp tóc bằng đồng lay nhẹ theo nhịp thở dồn dập.
Cô cầm thước cữ rà đi rà lại từng phân rãnh, mặt căng như dây cung:
“Được rồi.
Bằng tăm tắp, không lệch nửa sợi tóc nào nữa.
Lăn mực đi.”
Đăng nín thở.
Bàn tay mỏi nhừ sau mấy canh giờ miết dao nạo gỗ bỗng run lên vì hồi hộp.
Cậu cầm con lăn, miết lớp chu sa dẻo quánh bám đều lên mặt ván mỏng mịn như lụa.
Cậu cẩn thận áp một tờ giấy dó bóc đôi khô cong lên trên, dùng xơ mướp miết chậm rãi từ tâm xoắn ốc lan dần ra bốn góc, không dám thở mạnh một hơi.
Tờ giấy được bóc ra kêu “soạt” một tiếng giòn tan.
Từng đường nét đỏ tươi hiện rõ trên nền giấy trắng ngà, không thừa một giọt mực, không thiếu một góc viền.
“Ra nong phơi thử,” Đăng nuốt nước bọt, thì thào.
“Trong bếp tối quá, rủi có xì khói lại chẳng nhìn rõ.”
Hai đứa lom khom bò ra giữa sân, đặt tờ giấy lên chiếc nong rỗng còn thơm nồng mùi vỏ dó gặp nắng.
Thằng Tí ngồi bệt trên đống rơm gần đó, tay cầm củ khoai nướng dở, mắt dán chặt vào lá phù.
Đăng lau hai bàn tay dính đầy muội than vào ống quần cho thật khô.
Cậu quỳ xuống, gom toàn bộ chút linh khí yếu ớt đang lẩn quất trong kinh mạch—chút linh lực mỏng manh của kẻ mang ngũ tạp linh căn—dồn hết vào lòng bàn tay phải.
“Bép!”
Tiếng vỗ tay vang lên giữa khoảng sân lặng ngắt.
Không có tiếng xì cay độc quen thuộc.
Không có làn khói đen bốc lên xộc vào mũi.
Từ tâm đồ hình xoắn ốc, một đốm sáng đỏ rực le lói như than hồng gặp gió, rồi bất thần bùng lên.
Ánh sáng vàng dịu dàng, ấm áp như vạt nắng sớm men theo những con mương mực chu sa mà chạy dọc khắp mặt giấy.
Toàn bộ lá phù sáng rực lên, tỏa ra quầng hào quang tròn trịa bằng miệng bát ăn cơm.
Một nhịp thở.
Ánh sáng rọi rõ khuôn mặt lấm lem nhọ nồi và nửa hàng lông mày cháy sém của Đăng, rọi sáng cả đôi mắt đang trợn trừng kinh ngạc của Cầm.
Hai nhịp thở.
Lá giấy dó mỏng manh khẽ rung rinh trong gió chiều, ánh sáng vẫn vàng rực, phẳng lặng, soi rõ từng thớ sợi dó đan cài chằng chịt.
Ba nhịp thở.
“Phựt.”
Ánh sáng vụt tắt.
Lá giấy trở lại màu đỏ thắm của chu sa, phẳng phiu, lành lặn, không hề có lấy một vết cháy xém hay lỗ thủng nào.
Khoảng sân rơi vào im lặng chừng nửa khắc, chỉ còn tiếng tim Đăng đập thình thịch như gõ trống bên tai.
Cậu ngẩng phắt dậy, nhìn sang Cầm.
“Sáng rồi!
Nó sáng thật rồi Cầm ơi!” Đăng nhảy dựng lên, hai tay vung loạn xạ giữa trời, hét váng cả góc sân.
“Thấy chưa!
Tôi đã bảo mà!” Cầm cũng bật dậy, thẳng tay đập mạnh vào bả vai Đăng đau điếng, mặt mày rạng rỡ.
“Thước đồng của làng Đúc Thượng không bao giờ sai!
Ba nhịp thở!
Nó tự sáng bằng mực in đấy!”
Thằng Tí buông rơi củ khoai xuống đất, nhảy tưng tưng quanh chiếc nong, reo hò ầm ĩ: “Đèn sáng rồi!
Anh Đăng làm được đèn không cần dầu rồi!”
Tiếng cười nói, tiếng reo hò của lũ trẻ vang động cả một góc xóm, át cả tiếng chày giã vỏ dó thậm thịch bên bờ sông.
Đăng cúi xuống nâng lá phù lên tay, ngón tay run run lần theo từng thớ mực đã nguội, lòng trào dâng cảm giác sướng rơn chưa từng có trong đời.
Tiếng reo hò của ba đứa chưa dứt thì ngoài rặng dâm bụt vang lên tiếng hắng giọng thật to, kèm tiếng gậy tre nện cồm cộp xuống đất nện.
“Cái lũ ranh con này!
Trưa trờ trưa trật gào thét cái gì mà như cháy nhà thế hả?”
Lý trưởng Cả Khang lù lù xuất hiện nơi cổng ngõ.
Chiếc khăn xếp trên đầu ông ta lệch sang một bên, vạt áo the nâu căng tròn trên cái bụng phệ.
Mùi thuốc lào khét lẹt xộc tới trước cả bước chân.
Vừa bước qua ngạch rào, ông ta đã khịt mũi, hai hàng lông mày chổi xể nhíu chặt lại vì mùi khói chu sa chưa kịp tan hết.
Ánh mắt sắc như dao cau của ông ta quét một vòng quanh sân: từ đống giấy rách nát quanh chân nong, qua khuôn mặt đen nhẻm trơ trọi nửa bên mày của Đăng, rồi dừng phắt lại nơi miếng ván gỗ thị đỏ au nằm trên mặt phản.
“Cái... cái giống gì thế này?” Cả Khang trố mắt bước vội lại gần.
Trông ông ta như vừa sững sờ trước bộ dạng tức cười của Đăng, rồi mặt bỗng đỏ bừng lên như gấc chín.
“Mày đốt pháo nghịch dại hay làm trò ma quỷ gì đấy hở Đăng?
Mặt mũi bôi tro trát trấu, lông mày bay đằng nào rồi?”
Thằng Tí vội nép sau lưng Cầm.
Đăng giật thót, luống cuống giấu lá phù ra sau lưng:
“Dạ... bẩm bác... cháu... cháu thử in giấy...”
“In giấy cái mả mẹ mày!” Cả Khang đập mạnh đầu gậy tre xuống đất làm bụi rơm bay mù mịt, chỉ thẳng tay vào mặt Đăng: “Mùi chu sa, lưu huỳnh cay sè thế này mà dám mở mồm bảo in giấy?
Lại còn đục khắc bùa chú của tiên gia tu sĩ!
Bố mày đâu?
Thằng Lộc đâu rồi mà để con làm cái trò báng bổ này?”
“Cháu chỉ in thử phù Minh Quang thắp sáng...” Đăng lí nhí vớt vát.
“Minh Quang cái đầu mày!” Giọng Cả Khang the thé cất lên, át cả tiếng gió trên ngọn cau.
“Nghề xeo giấy dó Yên Thái bao đời nay là để ghi kinh Phật, chép chữ thánh hiền, dán câu đối đón xuân!
Mày mang linh căn ngũ tạp phế bỏ đi, không lo đãi bột giẫm dó cho nên thân, lại dám học đòi phù đạo, đục đẽo bậy bạ làm vấy bẩn hương ước!
Định rước họa về cho cả làng à?
Lão Ất mà biết mày nhại bùa của lão, lão không đến vặn cổ bố con mày mới lạ!”
Cầm đứng bên cạnh thấy chướng tai quá bèn chống nạnh cất lời:
“Bác Cả Khang, anh ấy vừa làm cho nó phát sáng thật đấy...”
“Mày im mồm!” Cả Khang quắc mắt lườm Cầm, chòm râu dê rung bần bật.
“Mày là con gái làng Đúc Thượng, trưa trích sang đây xúi bẩy trẻ con làng tao làm loạn à?
Về bên kia sông mà giũa nồi bẻ chuông, đừng có chõ mũi vào lệ làng Yên Thái!”
Cầm tức tối nghiến răng nhưng đành nín bặt.
Cả Khang quay phắt lại Đăng, mắt dán chặt vào phiến ván gỗ thị.
Trông nét mặt ông ta lúc này dường như vừa giận dữ, lại vừa có chút kiêng dè mơ hồ trước thứ đồ nghề kỳ quái ấy.
Ông ta vung gậy tre, chỉ thẳng vào phiến ván trên bàn:
“Cấm tiệt!
Từ nay cấm mày bén mảng đến mấy trò bùa bả ma mãnh này nữa!
Ngay chiều nay, mày phải ôm miếng ván gỗ kia nộp lên đình làng cho tao!
Tao sẽ đem ra trước hội đồng kỳ mục để xét tội bố con mày làm loạn nghề tổ!
Nghe rõ chưa?”