Sân đình Yên Thái sáng nay chật ních người từ lúc sương sớm còn chưa tan trên những mái ngói rêu phong.
Mùi nhang trầm từ gian tiền tế quyện với mùi ẩm mốc của vỏ cây dó ngâm ngoài bến sông tạo thành một thứ phong vị quen thuộc đến mức Phan Đăng nhắm mắt lại cũng nhận ra từng góc sân.
Nhưng hôm nay, không ai rảnh rỗi bàn chuyện xeo giấy hay ép khuôn.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về chiếc bàn gỗ lim kê giữa sân đình, nơi có một ông thầy trắc linh mặc áo dài the tím, mặt lạnh như tiền.
Trên mặt bàn, viên đá thử linh căn tròn như quả bưởi, trong vắt như khối băng ngâm nước giếng.
Đăng nuốt khan một ngụm nước bọt, hai bàn tay còn vương chút vụn vỏ dó chà mạnh vào vạt áo chàm.
“Đến lượt thằng Đăng nhà ông Lộc xeo giấy!”
Tiếng Cả Khang cất lên oang oang từ hàng ghế kỳ mục.
Vị lý trưởng làng Yên Thái chắp tay sau đít, chòm râu dê rung rinh theo từng nhịp nói, vẻ mặt nghiêm nghị như sắp chứng kiến một việc hệ trọng.
Đăng bước lên, chân hơi líu ríu.
Dưới bóng cây đa cổ thụ, lũ trẻ con trong làng xúm xít dòm, thằng Tí thò cái đầu cạo trọc lóc quả đào ra ngoài mép rễ, vẫy vẫy gọi với: “Anh Đăng, làm cho nó sáng rực lên xem nào!”
Thầy trắc linh khẽ liếc Đăng một cái, giọng đều đều như tụng kinh: “Đặt cả hai tay lên.
Thả lỏng tâm trí, thở đều.”
Đăng hít sâu một hơi, áp hai lòng bàn tay ram ráp vào mặt đá lạnh toát.
Ban đầu, khối đá chỉ gợn lên một làn khói mỏng.
Nhưng rồi từ lõi đá, một đốm sáng đỏ bùng lên, chưa kịp thành hình thì một vệt xanh của mộc khí đã xộc tới chèn ép.
Ánh vàng thổ khí đục ngầu, tia trắng kim khí sắc lẹm cùng quầng đen nhờ nhờ của thủy khí cũng chen chúc trồi lên.
Năm luồng sáng quấn lấy nhau, giằng co hỗn loạn.
Không có cột sáng ngút trời như trong các tích chèo, viên đá cứ nhấp nháy giật cục, lúc đỏ lúc vàng hệt như cái lồng đèn kéo quân rách giấy gặp gió quẩn.
Màu nọ đè màu kia, cuối cùng biến thành thứ ánh sáng nhờ nhợ, đùng đục như nước luộc bánh chưng.
Thầy trắc linh nhíu mày, vội vung tay áo gạt phắt hai tay Đăng ra khỏi khối đá như sợ làm bẩn bảo bối.
Ông ta rút khăn tay lau viên đá, chép miệng một tiếng thật rõ:
“Ngũ tạp linh căn.
Đầy đủ cả năm hành nhưng chẳng hành nào ra hồn, hỗn độn vô phương ngưng tụ.
Phế căn!”
Hai chữ “phế căn” rơi xuống sân đình tĩnh lặng, lập tức nổ ra một tràng cười ồ từ đám trai làng và các bậc bô lão quanh chiếu trà.
“Tôi đã bảo mà, giống nhà xeo giấy thì chỉ có tay ngâm nước dó chứ làm sao có căn tu tiên!”
“Cả năm màu chọi nhau thế kia thì tu luyện cái nỗi gì, hít một hơi linh khí chắc kinh mạch tắc như cống làng mùa lũ!”
Giữa tiếng cười râm ran nghiêng ngả, thằng Tí dưới gốc đa lại nhảy choi choi, hai tay vỗ bôm bốp đầy phấn khởi:
“Hoan hô anh Đăng!
Sáng những năm màu liền!
Được giải nhất rồi!
Nhất làng rồi!”
Mấy bà đi chợ ngang qua nghe thằng bé la toáng lên thì ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Mặt Đăng nóng bừng, tai lùng bùng như bị nện một hồi trống lệnh sát bên tai.
Cậu cúi gằm mặt nhìn đôi bàn tay thô ráp, lẳng lặng lùi ra khỏi chiếu đo trong tiếng bàn tán xôn xao vẫn chưa dứt.
Cổng tre khép hờ, Đăng lê từng bước vào sân sau.
Mùi vỏ dó nấu nước vôi ngai ngái quen thuộc xộc vào mũi, kéo cậu khỏi những tiếng cười nhạo báng còn ong ong bên tai.
Dưới mái hiên lá cọ, ông Phan Lộc đang ngập chân trong máng gỗ dài.
Ống quần xắn tận bẹn, hai bắp chân gầy guộc nhịp nhàng giẫm lên đống xơ dó, bì bõm như nhịp chày cối nước.
Thấy con trai lấp ló, ông không dừng chân, chỉ ngước cặp mắt kèm nhem lên:
“Về rồi đấy à?
Rửa chân rồi nhảy vào giẫm phụ tao.
Mẻ này ngâm kỹ nước vôi, xơ tơi lắm, giẫm không khéo là vón cục hết.”
Đăng lẳng lặng dội gáo nước rửa chân rồi bước vào máng.
Bột dó lạnh ngắt, ram ráp luồn qua kẽ ngón.
Cậu cắm cúi giẫm, dồn hết nỗi ấm ức từ sân đình xuống từng thớ sợi, đạp bọt nước bắn tung tóe lên mép máng.
“Giẫm bột chứ có phải giẫm lên mặt thằng nào đâu mà hằn học thế con?” Ông Lộc cười khà khà, nhún chân đều đặn.
“Nghe tiếng trống đình rộn rã thế, ông thầy Trung Thổ phán mày căn gì rồi?”
“Năm màu.” Đăng cúi gằm mặt, giọng nghẹn lại.
“Lộn xộn như mớ giẻ rách.
Người ta bảo ngũ tạp, phế căn.
Cả làng ôm bụng cười, bảo con chỉ hợp với cái máng nước bẩn này thôi.”
Cứ ngỡ bố sẽ thở dài, nào ngờ ông Lộc lại phì cười thành tiếng, chòm râu lưa thưa rung bần bật:
“Tưởng cái gì to tát!
Ngũ tạp thì đã làm sao?”
Đăng ngơ ngác nhìn bố.
Ông Lộc cúi xuống, thò bàn tay chai sần bốc một vốc bột sền sệt lên, để mặc dòng nước đùng đục chảy qua kẽ ngón:
“Mày nhìn xem.
Muốn làm ra tờ giấy dó cho người ta viết chữ, vẽ tranh, phải lấy vỏ dó tít núi đá, ngâm nước vôi tôi, nấu tro rơm rạ, rồi đãi bằng nước giếng làng.
Lúc xeo lại hòa thêm nhựa mò cho kết dính.
Rừng núi, vôi đá, tro tàn, nước ngọt, nhựa cây... tính ra gom đủ ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ, tạp nham chẳng thiếu thứ nào.
Thế mà thành tờ giấy rồi thì sao?
Mưa dầm ba tháng không mủn, mọt nghiến mẻ răng, để trong rương trăm năm chữ viết vẫn trơ trơ đấy thôi!”
Ông Lộc vỗ bốp vào bả vai Đăng, để lại vệt bọt trắng xóa:
“Đá của mấy ông tiên chuộng thứ thuần khiết thanh cao, chứ đất Yên Thái này sống đời sống kiếp nhờ thứ tạp nham bền dai này đấy con ạ.
Cứ vững chân mà giẫm, lo quái gì thiên hạ cười.”
Đăng nhìn vốc bột trong tay bố rồi khẽ bật cười trước cái lý lẽ tưng tửng của ông bố già.
Nhưng nụ cười thoáng qua rất nhanh.
Cậu lại cắm cúi dậm chân theo nhịp của bố, nghe tiếng bì bõm rền rĩ dưới đáy máng.
Lời bố nghe ấm áp, xuôi tai thật đấy, nhưng lòng Đăng vẫn chìm nghỉm như đá rơi đáy ao.
Giấy dó bền trăm năm thì cũng chỉ để người ta viết câu đối Tết hay gói mấy lạng chè.
Còn ngoài kia, những kẻ linh căn thanh thuần chỉ cần vẫy tay áo là phi kiếm xé gió, cưỡi mây bay vút lên trời cao.
Một tờ giấy dai dẻo, liệu có chống nổi một tia kiếm khí hay không?
Ngực Đăng lại thắt lại, nặng trĩu.
Mấy đồng tiền kẽm ken két cọ vào nhau trong đáy túi vải.
Đăng đếm đi đếm lại ba lần mới đủ sáu mươi đồng — món tiền cậu tích cóp suốt hai mùa vớt vỏ dó thuê, vốn định để dành mua đôi guốc mới đi hội đền Mẫu.
Sáu mươi đồng, vừa tròn một đấu gạo ngon, hoặc đổi lấy đúng một lá phù thắp sáng của lão Ất.
Căn nhà vách đất của lão Ất nằm heo hút cuối làng, phảng phất mùi chu sa hăng nồng trộn lẫn mùi ẩm mốc của giấy bản ế lâu ngày.
Nghe tiếng tiền lách cách trên mặt chõng tre, lão Ất đang thiu thiu ngủ liền mở mắt.
Lão gạt tàn đóm, liếc đống tiền kẽm rồi ngước nhìn Đăng bằng cặp mắt ti hí:
“Mày mua Minh Quang phù làm cái giống gì?
Nhà mày tối thì đốt đuốc nứa, vừa sáng vừa xua muỗi.
Trọc phú đâu mà bày đặt chơi phù?”
“Nhà cháu muốn có lá phù để đêm vớt bột không sợ đổ dầu vấy bẩn,” Đăng bịa vội một lý do, mắt nhìn chiếc bàn thấp bày nghiên mực đỏ son.
“Thầy cho cháu ngồi xem thầy vẽ được không?
Cháu tò mò cách các bậc tu giả dẫn linh khí.”
Lão Ất hừ một tiếng, chòm râu dê rung rinh, nhưng bàn tay gầy guộc đã thoăn thoắt gom đống tiền kẽm nhét tọt vào cạp quần.
Có lẽ tiếng “bậc tu giả” vuốt đúng chỗ ngứa của một ông thầy phù nghèo rớt mồng tơi cả đời kẹt ở Luyện Khí tầng ba.
Lão hắng giọng:
“Ngồi lui ra góc kia.
Cấm thở mạnh làm động linh phong.
Hỏng một nét là mày đền giấy đấy.”
Lão Ất mài chu sa với nước mưa hứng từ mái đình, nhúng đầu ngọn bút lông thỏ rồi lầm bầm niệm chú một hồi lâu mới run rẩy hạ bút xuống mặt giấy vàng úa.
Đăng nép mình trong bóng tối cạnh chum nước, tay giấu chặt dưới vạt áo chàm.
Cậu lén rút cuốn sổ nhỏ đóng bằng giấy dó vụn và mẩu than củi giấu sẵn trong ống tay.
Mỗi khi ngọn bút của lão Ất uốn lượn, tay Đăng lại thoăn thoắt vạch theo lên trang giấy con.
Kì lạ thay, những nét vẽ ngoằn ngoèo mà dân làng coi là bùa phép thần bí kia, nhìn kỹ lại rành mạch như mương dẫn nước ngoài đồng.
Nét thẳng dẫn khí đi, nét xoắn giữ khí lại, và những chỗ rẽ ba ngã dường như là nơi quyết định linh khí chảy tiếp hay ngắt quãng.
Lão Ất vẽ cực kỳ chật vật; mỗi lần chuyển hướng nét bút, trán lão lại túa mồ hôi, tay run bần bật, linh lực truyền xuống ngọn bút lúc đứt lúc nối khiến nét mực chỗ đậm chỗ nhạt.
Bóng chiều đỏ rực đổ dài qua khe liếp.
Đến khi lão Ất thở hắt ra một hơi như vừa cày xong mẫu ruộng trũng, nét bút cuối cùng mới khép lại thành một vòng kín.
“Xong!” Lão phẩy tay, giọng khản đặc mệt mỏi.
“Cầm lấy.
Dán lên vách, vỗ tay một cái là sáng hai canh giờ.
Liệu mà giữ, rách một góc là tắt ngấm.”
Mặt phù vừa khô khẽ gợn lên một làn sáng đỏ nhạt rồi lặn mất vào thớ giấy.
Đăng đón lấy lá bùa còn nồng mùi chu sa, tay kia ép chặt cuốn sổ con vào lồng ngực.
Ở đó, từng khúc quanh, từng ngã rẽ và độ dày mỏng của các vệt mực đã được mẩu than củi ghi lại trọn vẹn, rõ ràng như một bản đồ dẫn dòng.
Phiên chợ tranh Hồ Khê họp vào ngày rằm, náo nhiệt từ lúc sương sớm còn bảng lảng trên bến sông.
Khắp các lối đi quanh đình làng Hồ Khê rực lên sắc đỏ của bột son, vàng tươi của hoa hòe và màu trắng lấp lánh như vảy cá của lớp bột điệp nghiền từ vỏ sò biển.
Người mua kẻ bán chen nhau nườm nượp, tiếng ngã giá râm ran hòa cùng tiếng nước sông vỗ bì bõm vào mạn thuyền.
Đăng gánh mấy xấp giấy dó loại mỏng mà bố dặn đem sang đổi lấy ít dầu trẩu.
Cậu lách qua những hàng câu đối, rẽ vào khoảng sân gạch thênh thang nơi các phường thợ in tranh đang phơi hàng.
Mùi mực tàu ngai ngái pha lẫn mùi gỗ thị nồng đượm xộc thẳng vào cánh mũi.
Cậu dừng chân trước sạp của một bác thợ in tranh đứng tuổi.
Bác ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói rách mép, trước mặt kê một khúc gỗ bằng phẳng làm bàn.
Đôi tay bác thoăn thoắt như múa lượn, thuần thục đến mức mắt gần như chẳng cần nhìn xuống.
Trước tiên là tấm ván khắc gỗ thị đen nhánh vì ngấm dầu mực, trên mặt chạm nổi hình đàn lợn béo tròn quây quần bên máng cám.
Bác thợ cầm chổi xơ mướp nhúng vào chậu mực đen, quét roẹt một đường đều tay lên khắp mặt ván.
Mực đen bám mịn màng trên từng đường gân nét vẽ nổi gồ lên, không một giọt nào lem xuống phần rãnh lõm.
Kế đó, bác nhón lấy một tờ giấy dó quét điệp trắng ngà, nhẹ nhàng áp lên mặt ván khắc.
Tay kia vớ lấy chiếc bàn xoa bọc xơ mướp khô, lướt một vòng tròn êm ru, ấn nhẹ nhưng đều lực khắp bốn góc.
“Roạt!”
Tờ giấy được bóc lên dứt khoát.
Từng sợi lông lợn, cái xoáy tròn trên mông con lợn mẹ cho đến cọng cỏ non dưới chân đều hiện lên sắc lẹm, đen tuyền và rõ ràng đến từng li.
Chưa đầy nửa tuần trà, nhịp điệu ấy cứ lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ: quét mực, ụp giấy, xoa bàn xoa, rồi bóc ra.
Tách, xoạt, roẹt.
Động tác đều đặn như nhịp chày giã gạo ven sông.
Bên cạnh bác thợ, chồng tranh in nét đen cứ thế cao dần lên, chẳng mấy chốc đã ngập đến tận đầu gối.
Đăng bước lại gần, cúi nhìn kỹ tờ tranh trên cùng rồi so với tờ tranh bác vừa đặt xuống.
Hai con lợn giống hệt nhau như từ một khuôn đúc ra.
Từng khúc uốn lượn của cái đuôi, độ dày mỏng của viền tai, chẳng lệch đi dù chỉ bằng một sợi tóc.
Đăng đứng chết trân giữa dòng người qua lại, lồng ngực bỗng thắt lại rồi đập dồn dập.
Cậu nhớ tới lão Ất chiều hôm qua.
Lão thầy phù già nua phải nín thở, gồng cứng cả cánh tay, mồ hôi tẩm ướt vạt áo suốt cả buổi chiều chỉ để run rẩy vẽ ra một lá phù thắp sáng lem nhem, chỗ đậm chỗ nhạt.
Một nét run tay là hỏng cả tờ giấy, đứt cả dòng linh khí.
Thế mà ở đây, một bác thợ phàm nhân chẳng có lấy nửa điểm linh lực, chỉ dựa vào một tấm ván gỗ khắc sẵn và chiếc bàn xoa xơ mướp, trong một buổi sáng có thể làm ra cả trăm bức tranh hoàn mỹ không tì vết.
Đăng thò tay vào trong ngực áo, chạm vào mép cuốn sổ con đang cồm cộm.
Những nét vẽ ngoằn ngoèo của lá Minh Quang phù dường như đang cựa quậy dưới đầu ngón tay cậu.
Nếu như... những đường rãnh dẫn khí kia không phải dùng bút vẽ, mà được khắc chết vào một thớ gỗ thì sao?
Đêm đã khuya khoắt.
Làng Yên Thái chìm trong bóng tối, chỉ còn tiếng côn trùng rả rích bờ rào và tiếng ngáy pho pho của ông Phan Lộc vọng ra từ buồng trong.
Dưới ngọn đèn dầu hạt đỗ leo lét, Đăng rón rén bước lại góc hiên.
Cậu tìm trong hòm đồ nghề của bố con dao trổ mũi vát nhỏ bằng ngón út — thứ dao thép nhíp sắc lẹm ông Lộc vẫn dùng tỉa khuôn liềm xeo giấy.
Cạnh chân cột nhà, Đăng lôi ra mẩu ván gỗ thị đã bào nhẵn hai mặt, khúc gỗ thừa từ đợt làm chày giã vỏ cây đợt trước.
Gỗ thị thớ mịn, dẻo dai, không cong vênh, hệt loại gỗ cánh thợ làng Hồ Khê dùng tạc tranh.
Đăng ngồi xếp bằng trên tấm phản nứa, tim đập thình thịch.
Cậu mở cuốn sổ con bằng giấy vụn ra, ép phẳng dưới ánh đèn dầu.
Từng vệt than đen chép lại nét Minh Quang phù hiện lên rành rọt.
Cậu lấy một mẩu than củi nhỏ, cẩn thận phóng tác từng đường nét lên mặt tấm ván thị.
Từng khúc ngoặt, từng vòng tròn thắt nút, từng ngã ba chia nhánh — nơi lão Ất phải run rẩy điều tiết linh khí — đều được Đăng đồ lại tỉ mỉ.
Nhớ lại cách người thợ tranh Hồ Khê quét mực lên phần gờ nổi, Đăng hiểu rằng cậu phải khoét bỏ phần gỗ thừa chung quanh, chỉ giữ lại những đường gân phù văn nhô cao khỏi mặt ván.
Tay Đăng run lên khi lưỡi dao đầu tiên chạm vào thớ gỗ.
Gỗ thị đanh nhưng ngọt lưỡi dao.
Tiếng “xoạt” khẽ vang, một dải phoi gỗ mỏng như cánh ve cuộn tròn rơi xuống phản.
Đăng nín thở, trán túa mồ hôi hột.
Khác với nét bút lông mềm mại của lão Ất, mũi dao trổ đòi hỏi lực tay phải thật đều.
Chỉ cần trượt tay một ly, làm đứt một mạch rãnh hay sứt mẻ một đoạn, dòng linh khí sau này sẽ tắc nghẽn, lá phù chỉ còn là đống giấy vụn xì khói.
Cậu cắn chặt môi, mắt dán vào từng đường than.
Bỏ lại sau lưng tiếng cười cợt ở sân đình cùng nỗi cay đắng của kẻ mang linh căn ngũ tạp, tâm trí Đăng lúc này chỉ còn lại mũi dao sắc và thớ gỗ vàng nhạt.
Đăng nghiêng lưỡi dao, lách qua khúc cua hẹp, tỉ mỉ nạo sạch khoảng trống giữa hai mạch phù song song.
Nét thẳng đưa dứt khoát, chỗ ngã rẽ xoay nhẹ cổ tay.
Gà gáy canh một, rồi canh hai râm ran từ bờ sông đưa lại.
Dầu trong đĩa cạn dần, bấc đèn cháy đỏ quạch.
Đến khi ngón tay cái tê dại vì tì lên sống dao, Đăng mới hạ mũi thép xuống.
Cậu đưa tấm ván lên ngang miệng, phù một hơi thật mạnh.
Lớp mùn cưa mịn như phấn bay túa ra, để lộ những đường gân gỗ nổi gồ lên mặt ván, sắc sảo, liền mạch từ điểm khởi đầu cho đến vòng tròn khép kín ở tâm.
Đăng nâng tấm ván gỗ thị bằng cả hai bàn tay còn vương mùi nhựa thơm ngai ngái.
Dưới ánh lửa bập bùng, những đường nét phù văn cổ xưa lần đầu tiên không nằm trên giấy bùa mềm rủ, mà hiện diện kiên cố, vững chãi trên bản khắc gỗ đầu tiên do chính tay cậu tạo ra.