Gió trên đỉnh Nhạn Tiêu rít qua những khe đá tai mèo sắc nhọn, lạnh buốt như từng nhát dao cạo vào da thịt.
Đôi giày vải thô của Yên Thái đã bám đầy bùn đỏ sau chặng đường dài trèo đèo lội suối, nhưng Tô Mặc không buồn cúi xuống gạt đi.
Trước mặt anh, ngọn tháp bằng huyền thiết đen kịt sừng sững cắm vào mây mù.
Đó là trạm Thiên Cơ Kính mẹ trấn giữ dải biên thùy Nam Việt.
Từng có thời, cả một vùng trời này rực sáng ánh thanh quang mỗi khi tin tức chuyển mạch chạy qua, tiếng vo ve trầm đục của trận bàn chuyển vận đêm ngày không ngớt.
Giờ đây, khối sắt thép khổng lồ ấy im lìm như một ngôi mộ đứng, mặt kính ngọc bích trên đỉnh tối om, nguội ngắt.
Dưới chân tháp, ba bóng người đã đứng đợi từ bao giờ.
Viên chấp sự của Thái Hư Thánh Địa khoác trường bào màu xám tro, vạt áo thêu phù văn ngân tuyến hình con mắt mở toanh không chớp.
Hai bên gã là hai hộ pháp mang khôi giáp đen tuyền, tay nắm đốc đoản kiếm, mặt nạ đồng che kín chỉ để lộ đôi mắt lạnh như giếng cạn mùa đông.
Họ đứng bất động giữa sương mù, thẳng thớm và chuẩn xác như những cọc tiêu được đóng bằng búa tạ.
Cái nhìn của viên chấp sự dường như lướt qua người Tô Mặc mà chẳng thèm đọng lại, lạnh nhạt tựa hồ đang điểm một con số vô nghĩa trên sổ sách chi thu.
Nhìn bộ bào xám ấy, ngực Tô Mặc bỗng nhói lên một cơn đau âm ỉ cũ kỹ.
Anh nhớ lại năm mình mười hai tuổi.
Năm ấy, trong một mật thất không có cửa sổ của Hư Vô Điện, cũng có một chiếc bàn tròn và những bóng áo xám viền bạc đứng quanh.
Cậu bé Tô Mặc ngày đó gầy gò, hai tay run rẩy ôm chặt một chiếc bàn tính bằng gỗ mun, thứ duy nhất mà cha mẹ để lại trước khi bán cậu cho Thánh Địa lấy mười lăm khối hạ phẩm linh thạch.
Người ta chọn Tô Mặc không phải vì thiên căn trác tuyệt, mà vì đôi mắt cậu nhìn đâu cũng ra những con số, những góc chia của linh khí và các dòng lưu mạch.
Một vị chấp sự già đã đặt bàn tay lạnh ngắt lên đầu cậu, giọng đều đều như nước nhỏ giọt xuống đá: “Từ nay, mạng ngươi thuộc về tông môn.
Vào Thiên Kiếm Tông, làm một đệ tử ngoại môn ngoan ngoãn, nhớ từng đường kiếm trận, từng mẻ phôi lôi toa.
Ngươi là con mắt của Thái Hư.”
Khi ấy, Tô Mặc đã từng nghĩ đó là một ân huệ, một định mệnh lớn lao.
Cậu đã dốc hết tâm can học thuộc từng công thức, nhẫn nhục chịu đựng từng trận đòn của đám đồng môn ngạo mạn bên Thiên Kiếm Tông, chỉ để gửi về những mảnh tin tức vô hình.
Cho đến khi cậu nghi ngờ tính toán sai lệch của một vị trưởng lão trong việc chế tạo phi kiếm, bị đánh gãy kinh mạch và đuổi khỏi tông môn như một con chó hoang ghẻ lở, Thánh Địa cũng chẳng buồn liếc mắt nhìn lại một lần.
Trong mắt họ, con tốt đã lộ diện thì chỉ là một con số âm cần gạch bỏ.
Tô Mặc thở ra một làn khói trắng, bước thêm vài bước rồi dừng lại cách viên chấp sự chừng mười trượng.
Anh buông thõng hai tay, không hề rút ra một lá phù hay một mảnh trận bàn nào, ngẩng đầu nhìn thẳng vào con mắt thêu trên vạt áo xám.
Gió núi thổi lật vạt áo nhuộm củ nâu của Tô Mặc, phát ra tiếng phần phật khô khốc.
Viên chấp sự khẽ nghiêng đầu, khóe môi nhếch lên nụ cười nhạt thếch, như thể vừa chứng kiến một con mọt gỗ biết bò về khe nứt cũ.
“Tô Mặc,” viên chấp sự lên tiếng, âm thanh nhờ bí thuật truyền thẳng vào màng nhĩ anh, rành rọt và băng giá.
“Ngươi đào tẩu khỏi Hư Vô Điện nửa năm nay, trốn chui trốn lủi nơi xó ruộng của đám man di Nam Việt, bản tọa còn tưởng ngươi đã quên mình mang họ gì, ăn cơm của ai.”
Tô Mặc không đáp, chỉ lặng lẽ nhìn bàn tay gầy gò của gã đang vân vê chiếc ngọc giản màu tím sẫm.
Hai hộ pháp bên cạnh bước lên nửa bước, khí tức Luyện Khí đỉnh phong tỏa ra đặc quánh, đè nặng lên ngực Tô Mặc khiến hơi thở anh nghẹn lại.
“Hư Vô Điện không phải nơi cạn tình,” viên chấp sự tiếp tục, giọng điệu có vẻ khoan dung đến giả tạo.
“Trưởng lão biết ngươi có tài tính toán trận bàn.
Mạng lưới truyền âm bằng đèn trời của lũ phàm phu đất này hoạt động được, hẳn là có dấu tay ngươi can thiệp.
Vẽ lại toàn bộ đồ hình Thiên Đăng Võng, khai rõ cách thức dùng loại mực dẫn khí quái đản kia để nối mạch, bản tọa sẽ bẩm báo lên trên, tha cho ngươi tội đào tông.
Thậm chí, ngươi còn có thể trở lại tổng đàn làm chấp sự ghi chép.”
Một lời đề nghị béo bở với bất kỳ kẻ trốn chạy nào của Thái Hư Thánh Địa.
Viên chấp sự dường như tin chắc Tô Mặc sẽ run rẩy quỳ xuống dập đầu tạ ơn.
Thế nhưng Tô Mặc chỉ khẽ thở dài, trong khóe mắt thoáng hiện lên một tia giễu cợt cay đắng.
Anh nhớ đến đêm trước, lúc con bé Cầm đứng trên gác đình Yên Thái, chắp tay làm loa mà đọc rổn rảng công thức pha mực đồng qua loa tre, giọng vang vọng khắp mấy tầng trời sang tận Bãi Sáo, Đúc Thượng.
Anh nhớ đến mấy lão thợ rèn Kim Lũng vừa ngoáy tai vừa cầm que củi cào đồ hình mạch dẫn lên nền đất bãi sông.
“Chấp sự đại nhân đến chậm mất nửa ngày rồi,” Tô Mặc nói, giọng đều đều, không mảy may gợn chút sợ hãi.
“Thứ đồ hình mà các ngài coi như bảo bối ấy, đêm qua cô thợ đúc làng Đúc Thượng đã đọc to từng nét, từng cổng logic cho cả năm làng nghề chép lại rồi.”
Chân mày viên chấp sự khẽ giật một cái.
“Ngươi nói bậy bạ gì đó?” Gã gằn giọng.
“Bí thuật trận đạo há lại đem rải cho lũ dân đen làm ruộng?”
“Ở đất này, chẳng có gì là bí thuật cả,” Tô Mặc nhún vai, tay vô thức chạm vào mép túi áo rách, nơi không còn chiếc bàn tính cũ nhưng lòng anh lại nhẹ bẫng đến lạ kỳ.
“Từ bác thợ rèn Kim Lũng, bà thợ tranh Hồ Khê, cho tới đứa trẻ tám tuổi chăn vịt ở Yên Thái, giờ đứa nào cũng vẽ được mạng đèn trời ấy lên mặt cát.
Đồ hình đã bay khắp đầu làng cuối ngõ, ai cũng có, ai cũng biết dùng.
Thứ không còn giấu trong hộp kín thì chẳng đáng một đồng kẽm.
Ngài bảo tôi lấy cái gì để bán cho Thánh Địa đổi lấy tội nhẹ đây?”
Mặt viên chấp sự đanh lại, nhưng trước khi gã kịp ra hiệu cho hai tên hộ pháp, Tô Mặc đã xoay người bước thẳng về phía chân tháp huyền thiết.
Hai tên hộ pháp lập tức rút đoản kiếm khỏi vỏ một tấc, lưỡi thép rít lên sắc lạnh.
Viên chấp sự giơ tay cản họ lại, dường như tò mò muốn xem con chuột cùng đường này định giở trò gì.
Tô Mặc không hề quay đầu.
Anh bước tới bệ đá xanh, quỳ một gối xuống lớp rêu ẩm mục.
Mười ngón tay anh thoăn thoắt lướt qua những gờ sắt rỉ sét, chuẩn xác ấn vào ba mấu chốt ngầm giấu kín dưới vỏ trận bàn — vị trí chỉ kẻ từng còng lưng lau chùi bản vẽ trong mật các của Hư Vô Điện mới biết.
“Cạch” một tiếng khô khốc vang lên.
Nắp khóa bằng đồng đen bật mở, để lộ lõi truyền dẫn trung tâm của trạm kính mẹ: một trụ lưu ly rỗng ruột chứa đầy bột chu sa đã cháy thành tro xám xịt.
Nhưng thứ Tô Mặc muốn họ thấy không phải đống tàn tro đó.
Anh luồn tay vào khe hẹp, giật mạnh chốt hãm phía dưới.
Cả khối lõi truyền linh bật nghiêng sang một bên.
Dưới đáy tháp, một cọc sắt to bằng bắp đùi cắm ngập sâu vào lòng núi Nhạn Tiêu.
Nơi mũi cọc cắm xuống không phải đất đá thông thường, mà là một tảng đá hoa cương xám tro chằng chịt những đường vân uốn lượn như rễ cây, tỏa ra thứ ánh sáng đỏ au nhấp nháy theo nhịp điệu chậm rãi, sâu thẳm.
Tô Mặc chỉ ngón tay dính đầy bụi sắt vào khối đá, ngẩng lên nhìn viên chấp sự:
“Nhìn cho kỹ đi, chấp sự đại nhân.
Đây là nút vân đá của mạch Nhạc phủ, nhánh chạy từ đền Mẫu Yên Thái vòng qua đỉnh Nhạn Tiêu để đổ về đồng bằng.”
Viên chấp sự khẽ nheo mắt, nét mặt thoáng qua vẻ chột dạ khó nhận thấy.
“Thái Hư các ngài xưa nay luôn rêu rao với thiên hạ rằng mạng Thiên Cơ Kính vận hành thuần khiết bằng hàng ngàn khối trung phẩm linh thạch, rằng đây là kỳ tích trận đạo độc môn của Trung Thổ,” Tô Mặc cười khẽ, giọng ráo hoảnh.
“Hóa ra từ ngày dựng trạm này ba mươi năm trước, các ngài đã lén lút cắm cọc hút ké linh khí từ mạch đất Nam Việt.
Không có linh mạch Tứ phủ âm thầm gánh tải nền, mấy khối linh thạch của các ngài e rằng đốt chưa đầy ba ngày đã cạn sạch.”
Hai tên hộ pháp liếc nhìn nhau qua khe mặt nạ đồng, dường như cũng sững sờ trước những gì đang phơi bày.
“Trạm kính mẹ này tắt ngóm không phải vì bị ai phá hoại,” Tô Mặc đứng dậy, phủi bụi bám trên đầu gối, ngón tay vẫn trỏ thẳng vào cọc sắt.
“Đêm qua làng Đúc Thượng đúc xong lò mực đồng, bên Yên Thái ép xong mẻ giấy dó mới, diều sáo Bãi Sáo cất cánh mang theo hàng trăm lá phù Tụ Thủy.
Khi dân năm làng bắt đầu lấy linh khí từ mạch đất để dẫn nước vào ruộng chiêm, họ đã vô tình kéo lệch tải của toàn bộ cái nút này.
Đất của người ta, người ta xài thì dòng chảy phải đổi hướng.
Linh áp dưới chân trạm sụt xuống đột ngột, mạch ngắt tự động trong lõi kính bật lên để tự bảo vệ.
Trạm của các ngài... là chết vì nghẹn, vì ăn ké quen mồm mà không chịu trả tiền đất.”
Sắc mặt viên chấp sự từ trắng bệch chuyển sang tím tái.
Gã không còn giữ nổi vẻ điềm tĩnh trịch thượng, run rẩy chỉ tay vào mặt Tô Mặc, rít qua kẽ răng:
“To gan!
Bắt lấy tên phản đồ ti tiện này, đánh gãy tứ chi mang về Hư Vô Điện thẩm vấn!”
Hai hộ pháp bọc giáp đen lập tức chuyển động như hai vệt khói xám.
Đoản kiếm vung lên, kiếm khí bén ngót xé rách sương mù nhắm thẳng bả vai Tô Mặc.
Khí kình sắc lạnh phả vào mặt khiến da gà anh dựng đứng.
Tô Mặc không lùi, cũng chẳng buồn giơ tay chống đỡ — trước hai tu sĩ Luyện Khí đỉnh phong, chút sức tàn của kẻ đứt kinh mạch như anh chẳng bõ một đòn.
Nhưng lưỡi kiếm chưa kịp chạm vạt áo củ nâu thì dưới bờ vực sâu thẳm, hàng loạt đốm lửa màu cam ấm áp đột ngột bừng sáng.
Gió núi thốc ngược lên, cuốn theo hàng chục chiếc đèn trời giấy dó khổng lồ.
Chúng rẽ mây đặc, lừng lững bay lên rồi giăng thành một vòng tròn đỏ rực vây kín đỉnh núi.
Đèn nương theo luồng linh khí bốc từ khe đá, lơ lửng vững chãi như bức tường thành bằng lửa ấm.
Trên mỗi khung đèn, nét mực đồng óng ánh phản chiếu tà dương, nối liền nhau thành đồ hình Thiên Đăng Võng hoàn chỉnh.
Luồng nhiệt khí bốc lên đột ngột khiến hai tên hộ pháp khựng lại, kiếm chiêu bị hất dạt sang bên.
“Rột... rẹt...”
Từ những ống loa tre gắn dưới đáy đèn, tiếng mạch phù Tụ Âm rè rè vang lên, rồi một chuỗi tiếng ho húng hắng quen thuộc phá tan bầu không khí căng thẳng.
“Tiên sư cái gió núi, buốt thấu tận xương tủy!” Đó là giọng ông Cả Nhâm bên làng rèn Kim Lũng, rổn rảng như tiếng đe gõ vào búa tạ.
“Thằng Mặc đâu rồi?
Cơm trưa đình làng phần cho mày niêu cá kho trám còn ủ trong trấu đấy, liệu mà về ăn!”
Tiếp sau đó là giọng cụ trùm Du làng tranh Hồ Khê, chậm rãi và dềnh dàng: “Này mấy ông Trung Thổ áo xám, nghe đâu các ông buôn bán chữ nghĩa ghê gớm lắm.
Giấy rách phải giữ lấy lề, ai đời cắm cái cọc to tướng vào mả đá nhà người ta ba mươi năm không thèm hỏi một câu xin phép thế?”
Viên chấp sự ngửa cổ nhìn vòng đèn vây kín đầu, bàn tay nắm ngọc giản run bần bật.
Rồi một giọng nói già nua nhưng đanh thép, lạnh lùng như nước giếng đền cất lên.
Giọng bà Ba Thoải đền Mẫu:
“Mạch Nhạc phủ là xương sống của núi rừng Nam Việt, không phải cái chum tương để kẻ ngoài thò gáo vào múc trộm.
Mạng lệch thì trời phạt, các người tự chuốc lấy.”
Cuối cùng, át đi mọi tiếng gió rít, tiếng Phan Đăng vang lên trong trẻo, rành rọt, từng lời như gõ thẳng vào ngực viên chấp sự:
“Chấp sự đại nhân!
Đừng phí công bắt người của làng Yên Thái.
Trạm kính mẹ của các ngài muốn sáng đèn lại thì dễ lắm, chỉ cần năm làng chúng tôi gạt nhẹ mấy cái khóa phù trên Thiên Đăng Võng, dòng tải sẽ tự khắc chia đều qua nút đá kia.
Nhưng phàm ở đời, dùng chung giếng thì phải góp tiền nạo vét.
Đề nghị của Nam Việt rất giản dị: Thái Hư muốn thông mạng thì hàng năm đóng phí hương hỏa đàng hoàng cho hệ thống đền phủ Tứ phủ, và lập tức gỡ bỏ lệnh cấm buôn chu sa, mở lại đường thông thương cho đò bè qua sông.
Bằng không, cái tháp sắt kia cứ việc đứng đấy mà làm tổ cho quạ!”
Viên chấp sự siết chặt chiếc ngọc giản trong tay đến mức các khớp ngón trắng bệch ra.
Ánh mắt gã đảo liên hồi giữa cọc sắt cắm sâu vào nút vân đá đỏ rực và hàng chục chiếc đèn trời đang lơ lửng, vững chãi vây bọc bên trên.
Lời đề nghị rành rọt của Phan Đăng cùng tiếng gió rít qua vách đá vẫn còn ong ong bên tai.
Chuyện linh mạch Tứ phủ, chuyện dỡ bỏ cấm vận chu sa, lại thêm khoản đòi Thái Hư Thánh Địa phải nộp “phí hương hỏa” hàng năm cho các đền Mẫu — những điều này hoàn toàn vượt quá quyền hạn của một viên chấp sự coi trạm biên ải.
Nhìn nét mặt giật giật của gã, Tô Mặc đoán trong đầu gã đang cuống cuồng tính toán thiệt hơn: nếu cố bắt người khiến trạm kính mẹ hỏng hẳn thì cái đầu trên cổ khó giữ; mà tự tiện nhượng bộ thì tội cũng chẳng kém tày trời.
“Lũ man di các ngươi... giỏi lắm,” viên chấp sự rít qua kẽ răng.
Gã run rẩy rút từ trong tay áo ra chiếc ngọc phù truyền tin màu tím sẫm, điểm linh lực khắc vội một chuỗi mật mã dài dằng dặc rồi bóp nát.
Một vệt sáng xé toang mây mù, bay vút về hướng bắc với tốc độ kinh người.
Làm xong việc ấy, gã quay sang trừng mắt nhìn Tô Mặc, phất mạnh tay áo xám:
“Cút đi!
Lời này bản tọa đã gửi thẳng về Hư Vô Điện.
Đợi các vị trưởng lão định đoạt xong, đừng tưởng cái xó ruộng Nam Việt nhà các ngươi trốn được mãi.”
Hai tên hộ pháp liếc nhau một cái, đoản kiếm “tách” một tiếng tra thẳng vào vỏ sắt, lùi lại mép đá.
Tô Mặc không nói nửa lời.
Anh xoay người, bước thẳng xuống con đường mòn phủ đầy rêu ẩm.
Sau lưng anh, những chiếc đèn trời giấy dó vẫn kiên nhẫn bay lượn nương theo gió ấm, tiếng loa tre thi thoảng lại phát ra vài tiếng ho húng hắng cùng tiếng thằng Tí lanh chanh bị gió bạt đi.
Lồng ngực Tô Mặc nhẹ bẫng, hơi lạnh đỉnh Nhạn Tiêu dường như tan biến dần theo từng bước chân.
Con đường dốc đưa anh ra khỏi màn sương mù xám xịt của ranh giới Trung Thổ.
Xuống đến chân núi, không khí ấm áp, ngai ngái mùi đất bùn và rơm rạ của đồng bằng Nam Việt ùa tới ôm lấy anh.
Nắng trưa rọi vàng rực con đường đất đỏ dẫn về bến đò sang Yên Thái, nơi mấy vạt ruộng xa xa đang róc rách đón dòng nước mát.
Bên gốc đa cổ thụ ở ngã ba đường, một bóng người to lớn đang đứng dựa lưng vào rễ cây, thong thả ngắm đàn cò trắng lượn lờ trên mặt nước.
Người nọ mặc bộ áo vải thô màu nâu sồng của dân chài, vạt áo còn lấm tấm vài vết bùn khô.
Hai tay ông ta buông thõng, bên hông không đeo kiếm, sau lưng cũng chẳng có lấy một thanh phi kiếm hay túi càn khôn nào.
Trông ông ta hệt như một lão lực điền vừa rời buổi cày trưa.
Nhưng khi người nọ khẽ nghiêng mặt nhìn sang, tim Tô Mặc bỗng giật thót một cái, bước chân khựng lại giữa đường cát.
Bờ vai rộng như tấm phản gỗ lim, đôi mày rậm như chổi xể cùng vết sẹo mờ kéo dài từ thái dương xuống gò má — khuôn mặt ấy từng ngự trên đài cao của Thiên Kiếm Tông, nhìn xuống đám đệ tử ngoại môn như nhìn cỏ rác.
Hạ Hầu Liệt.
Vị trưởng lão Kim Đan khét tiếng nóng nảy của kiếm môn Trung Thổ dường như chẳng hề để ý đến vẻ sững sờ của Tô Mặc.
Ông ta ngáp một cái rõ dài, đưa bàn tay thô ráp đầy vết chai gãi bờ vai áo vải, rồi cất giọng ồm ồm như chuông vỡ hỏi:
“Này chú em, cho lão hỏi thăm, đường nào đi về cái trường phù học của thằng nhãi họ Phan?”