Chương 22·16 phút đọc

Mực đỏ không cần chu sa

✻

Cái cối đá hoa cương kêu ken két dưới tay chày nghiền của Đăng.

Mồ hôi rỏ tong tòng xuống sống mũi, cậu quệt một đường lem luốc ngang vầng trán đỏ au màu bột gạch non.

“Được chưa Cầm?” Đăng ngẩng lên, hai mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ.

“Tao nghiền đến mẻ thứ tư rồi, mịn như bột thính rang, rây qua ba lần vải màn rồi đấy.”

Cầm không thèm ngẩng mặt, ngón tay cái vẫn cọ miết lớp bột đỏ thẫm trên đầu ngón trỏ.

Đó là son đá ong lấy từ gò mé sau đền Mẫu, pha với bột gạch nung quá lửa từ lò bác Cả Khang.

Đỏ thì có đỏ, nom chẳng khác chu sa hảo hạng của Vạn Thông là mấy, nhưng khi miết kỹ, bột vẫn ráp ráp tay như cát phù sa sau lũ.

“Đổ keo da trâu vào đi,” Cầm nói, giọng khàn đặc.

“Khuấy đều tay, chớ để vón cục.”

Đăng răm rắp làm theo.

Cậu rót bát nước keo ấm vào cối, dùng que tre ngoáy tít mù cho đến khi khối bột sền sệt, bóng loáng như váng tiết canh.

Cầm nhúng con lăn gỗ vào âu mực mới, cẩn thận miết đều lên mặt ván khắc phù Tụ Thủy.

Từng rãnh dương môn, âm môn sắc mảnh mà chính tay Cầm dùng ve thép gọt giũa suốt đêm qua dần ngậm lấy lớp mực đỏ tươi.

Cầm đặt tờ giấy dó bóc tư lên mặt ván, xoa chiếc xơ mướp khô thật đều tay.

Một tờ phù mới toanh hiện ra, nét vẽ liền mạch, đỏ rực rỡ, thoạt nhìn chẳng thua gì phù lão Ất vẽ bằng chu sa thượng phẩm.

“Được rồi đấy!” Mắt Đăng sáng bừng lên.

Cậu vội vàng móc trong túi ra một mẩu linh thạch vụn bằng hạt đỗ, ấn nhẹ vào góc trên cùng của lá phù — nơi làm chân nguồn linh khí.

“Chạy thử xem sao!”

Cầm nín thở lùi lại nửa bước.

Dưới chân linh thạch, một tia sáng lam nhạt lóe lên, bắt đầu lần theo đường mực đỏ.

Nhưng vừa bò qua được chừng ba phân, chạm đến khúc ngoặt của cổng logic âm môn thì dòng sáng khựng lại.

Một tiếng *xì* chói tai vang lên kèm mùi khét lẹt như lông gà cháy.

Mặt giấy phồng rộp, đường mực gạch non chuyển sang màu xám xịt rồi bốc lên một lọn khói đen sì.

Ánh sáng lam nhạt giãy giụa thêm một cái rồi tắt ngấm.

Mẩu linh thạch nứt toác làm đôi.

Đăng chết sững, cánh tay đang giơ ra buông thõng xuống mặt bàn.

Cậu cắn môi, nhìn chằm chằm vào vệt giấy cháy đen, rồi đột ngột túm lấy xấp giấy dó trắng cạnh đó.

“Chắc do gạch hơi ẩm thôi,” Đăng dồn dập, giọng như người hụt hơi.

“Kệ nó, cứ đem ra ván in liều đi Cầm!

Bớt linh lực đầu vào một chút là được!

Lệnh cấm của Thái Hư đè sát cổ rồi, kho chu sa chỉ còn đủ ba ngày, ngoài đồng người ta đang chờ nước gieo mạ vụ chiêm, không kịp đâu...”

“Mày điên à?” Cầm giật phắt xấp giấy khỏi tay Đăng, đập mạnh xuống phản kêu *bốp* một tiếng.

Đăng giật mình ngơ ngác nhìn cô.

Cầm trừng mắt, lồng ngực phập phồng giận dữ:

“Đá ong với gạch non là đất chết, không dẫn được linh khí thì cố in làm cái gì?

Đưa cái thứ giở chứng này cho bà con, nhẹ thì tắc nước thối mạ, nặng thì nổ toác tay người ta ra đấy!

Đồ thợ đúc pha chì chỉ tổ vỡ nồi, còn in ngữ phù hỏng này đem đi lừa người thì tệ hơn cả việc không in!”

Gió sông Đuống thổi thốc vào bến Đúc Thượng ran rát mặt.

Cầm ngồi bệt dưới bậc thềm lò đúc nhà mình, hai ống tay áo vắt ngược lên tận nách, bắp tay còn vương mấy vệt bồ hóng đen thui.

Đằng sau lưng, tiếng bễ lò vẫn phì phò rền rĩ, phả ra hơi nóng sực mùi than đá và kim loại sôi.

Dưới chân Cầm là đống xỉ đồng bên vách lò.

Có những vụn đồng thau thừa rơi ra từ lúc dũa tai chuông, vàng rực dưới nắng chiều tà, lẫn trong muội than xám xịt.

Cầm cúi xuống, nhặt một mẩu phoi đồng xoăn tít như vỏ bào ngắm nghía.

Người làng Đúc Thượng ai cũng biết, đồng thau rót chuông đền Mẫu phải pha kẽm thật sạch thì tiếng chuông mới vang xa mười dặm, ngậm được linh khí của đất trời mà trừ tà át quỷ.

Các đạo sĩ Trung Thổ đúc kiếm pháp bảo cũng lấy đồng làm cốt dẫn khí.

Vậy cớ gì cứ phải chết dí vào mớ chu sa mỏ đá đắt đỏ của bọn Thái Hư?

Ý nghĩ ấy vụt lóe lên làm tim Cầm giật thót.

Chu sa là khoáng, đồng thau cũng là khoáng.

Chu sa dẫn được linh khí, đồng thau cớ sao lại không?

Cầm đứng bật dậy, vơ vội một vốc phoi đồng thau vụn nhất rồi lao thẳng vào góc xưởng của cha.

Cô trút đống phoi vào cối giã thép, vung chiếc chày gang nặng trịch nện huỳnh huỵch.

Phoi đồng dẹt ra, nát vụn thành từng vảy nhỏ.

Cầm đem mớ vảy ấy sang bàn mài đá nhám, miết nghiến răng cho đến khi chúng rã ra thành thứ bột mịn tưng, vàng óng ánh như bụi vàng rây trong nắng.

Cầm đổ bột đồng thau vào chiếc bát sành mẻ, rưới thêm mấy thìa keo da trâu hâm nóng rồi dùng đóm tre khuấy cật lực.

Thứ mực mới này quánh đặc, óng ánh sắc kim loại, không đỏ tươi như chu sa mà mang màu vàng xỉn của đồng hun.

Lấy một mảnh giấy dó từ túi áo, Cầm nhúng bút lông gà vào bát mực bột đồng, nín thở kéo một đường mạch thẳng tắp từ góc giấy qua tâm, kết lại ở điểm tròn tượng trưng cho dương môn.

Đường mực sẫm lại rất nhanh dưới luồng gió nóng từ miệng lò thốc ra.

Cầm móc mẩu linh thạch vụn gí chặt vào đầu mạch.

Một tia sáng xanh lục mát mắt lập tức bừng lên.

Không khói đen, không xì xèo khét lẹt.

Dòng linh khí mượt mà trườn dọc theo dải bột đồng vàng óng, chạy một mạch từ đầu này sang đầu kia không hề vấp váp, điểm tròn ở đuôi mạch sáng rực lên như hạt đom đóm trong đêm.

“Chạy rồi!” Cầm bật thốt, lồng ngực đập thình thịch vì sung sướng.

Nhưng nụ cười chưa kịp nở trọn thì vệt mực đồng đã nguội hẳn.

Lớp keo da trâu khô quắt lại, kéo theo lớp bột kim loại đông cứng như một sợi dây đồng tí hon đính trên mặt giấy.

Cầm vừa cầm tờ giấy dó lên định gập mép, thì một tiếng *tách* rất khẽ vang lên.

Đường mực cứng đơ nứt toác làm đôi ngay nếp gấp.

Tia sáng lục nhạt lập tức chớp giật liên hồi rồi vụt tắt.

Giấy dó vốn mềm mại, nhưng lớp mực bột đồng khô lại quá giòn, chỉ cần uốn nhẹ là gãy gập cả mạch dẫn.

Bà thợ tranh Hồ Khê ngồi bên bậc cửa đình, liếc tờ giấy nứt mực trong tay Cầm rồi tặc lưỡi:

“Đồng cứng thế kia đem nấu với keo da trâu thì chả giòn như bánh đa nướng!

Dân in tranh gỗ bọn tao muốn mực bám thớ dó mà cuộn không gãy, phải dùng nhựa sơn ta với hồ nếp quấy kỹ.”

Lời bà như mở toang then khóa.

Cầm vội chạy mượn ngay hũ sơn ta chín quánh cùng liễn hồ nếp vừa quấy sớm nay.

Góc đình lập tức biến thành xưởng thử nghiệm.

Một bên là bột đồng thau, một bên là hồ nếp, sơn ta và dầu trẩu.

Cầm xắn cao tay áo, ngồi xổm bên phiến đá mài.

Mẻ thứ nhất: hồ nhiều quá, mực dính bết, vạch một đường thì linh khí tắc nghẽn ở giữa.

Thằng Tí ngồi chồm hổm cạnh đấy phán ngay:

“Mẻ này là 'cháo lòng dính mép' chị Cầm ạ!”

Cầm lườm nó một cái, tay vẫn cầm bút mực cùn ghi vào cuốn sổ chung của đình: *Mẻ 1: Ba phần bột, hai phần hồ, nét đứt, dòng nghẽn.*

Mẻ thứ tư: thêm nhiều sơn ta cho dai, uốn cong không nứt nhưng sơn khô quá chậm, linh khí dẫn vào lịm dần.

Thằng Tí lại chõ mồm:

“Mẻ này là 'nhựa mít dính đít khỉ'!”

“Im mồm cho tao nhờ!” Cầm gắt, nhưng ngón tay vẫn nắn nót chép tỷ lệ vào sổ.

Cứ thế, thử rồi đo, đo rồi sửa từ chiều sang đêm.

Đăng định đỡ tay chày nghiền bột, Cầm gạt phắt, bắt cậu đi kiểm tra lại ván in; việc cân chỉnh kim khí này cô không tin tay ai ngoài chính mình.

Mẻ thứ tám rộp, thằng Tí gọi là “bỏng ngô nở muộn”.

Mẻ mười hai quánh như bùn, nó gọi là “trâu đầm bãi ngô”.

Trang sổ của đình chi chít những con số lem nhem cùng mấy cái tên quái gở của thằng nhãi.

Mãi đến trưa hôm sau, đáy cối đá đã nhẵn thín, Cầm mới cẩn thận trút mẻ thứ mười bảy ra đĩa sứ: bảy phần bột đồng rây qua lụa mịn, hai phần sơn ta đánh với dầu trẩu ấm, một phần hồ nếp lọc kỹ.

Thứ mực sánh mịn như mật, ánh sắc kim rực rỡ dưới nắng.

Cầm nín thở quét đường phù Tụ Thủy lên tờ dó.

Nét mực ăn sâu vào thớ vỏ cây, se lại sau mươi hơi thở, dẻo quánh như sợi gân tằm dát vàng.

Cô gập đôi lại.

Không nứt.

Cô cuộn tròn thành ống rồi mở bung ra.

Đường mực đồng vẫn bóng ngời, không một vết rạn.

Cầm ấn mẩu linh thạch vụn vào chân mạch.

*Vút!*

Ánh sáng xanh biếc lập tức tràn qua các ngả rẽ âm dương, nuột nà và sáng quắc, hơi nước mát rượi tỏa ra khắp gian đình.

Không hề có khói khét hay tiếng xì xì.

Thằng Tí trố mắt kinh ngạc, rồi ngập ngừng đổi giọng nghiêm túc:

“Mẻ này... gọi là 'mực vàng Yên Thái' được không chị Cầm?”

“Không,” Cầm nắn nót viết dòng chữ cuối cùng vào sổ, khóe môi khẽ cong lên.

“Gọi là mực đồng Đúc Thượng.”

Cột đèn truyền tin dựng sừng sững cạnh cây đa sân đình, từng chùm diều sáo của Bãi Sáo lơ lửng trên không trung, nối với mạng lưới Thiên Đăng Võng rực sáng dọc triền đê.

Dây đồng dẫn khí rung lên bần bật, kéo theo tiếng vo vo quen thuộc của các vòng phù cộng hưởng.

Đăng gạt mạnh chốt âm môn trên bệ điều khiển bằng gỗ mít, quay sang gật đầu với Cầm:

“Thông rồi đấy Cầm!

Cả năm làng đều đang chực bên ống nghe, đầu dây Kim Lũng có cả bác thợ cả ngồi chờ.”

Cầm hít một hơi sâu, ngón tay cái dính vệt bột đồng vàng óng miết nhẹ vào mép cuốn sổ chung.

Cô ghé sát vào chiếc loa đồng hình hoa loa kèn gắn trên thân cột gỗ, hắng giọng cho thông cuống họng.

“Các làng nghe rõ không?

Tôi là Cầm, con gái thợ rèn Đúc Thượng đây.” Giọng cô sang sảng, dứt khoát như tiếng búa nện đe.

“Bọn Thái Hư phong kho chu sa thì mặc xác chúng nó.

Yên Thái với Đúc Thượng vừa làm xong mẻ mực mới, chạy trơn tru mười phần mười, uốn gập không nứt, dẫn khí nuột như nước vào mương.

Giờ tôi đọc công thức, làng nào có người biết chữ thì chép ngay vào vách cho nhớ!”

Bên kia đầu dây, tiếng gió truyền âm bỗng chốc im bặt.

Có tiếng giấy loạt soạt và tiếng giục giã mài mực hối hả vọng lại từ làng tranh Hồ Khê.

“Thứ nhất,” Cầm lật trang mẻ thứ mười bảy, mắt rà theo nét chữ son lem nhem.

“Dùng phoi đồng thau vụn loại đúc chuông, giã nát rồi đem nghiền trên đá nhám, rây qua ba lần lụa hạt nhỡ, rồi lại rây tiếp hai lần qua lụa tơ tằm mịn.

Phải lấy đúng bảy phần bột đồng mịn như phấn, sờ trơn tuột không còn gợn cát mới đạt.”

Ống loa đồng rung lên tiếng đáp khàn khàn của bác thợ tranh Hồ Khê: “Rõ!

Bảy phần bột mịn!

Còn chất dẻo thế nào cô Cầm?”

“Hai phần sơn ta chín quánh, đánh nhuyễn với dầu trẩu ấm cho tan hết bọt khí,” Cầm đọc tiếp, không vấp một chữ.

“Cuối cùng là một phần hồ nếp cái hoa vàng quấy kỹ, lọc qua vải màn lấy nhựa dẻo.

Trộn đều cả ba thứ, ngoáy theo một chiều đúng một trăm lần cho mực sánh như mật mía.

Nhớ thử trên giấy dó bóc tư, quệt dày bằng nửa sợi tóc là vừa vặn nhất.”

Một khoảng lặng kéo dài chừng vài nhịp thở.

Rồi tiếng cười the thé của thằng Dần thợ rèn Kim Lũng bỗng dội qua loa đồng, át cả tiếng gió:

“Nghe sướng cái lỗ tai lắm chị Cầm ơi!

Nhưng mà này, nghiền bột bằng cối đá tay thì có mà mòn cụt mười đầu ngón tay mới được một bát mực à?”

“Chúng mày có mắt cá chân làm bằng thép chắc?” Cầm gắt vào loa, khóe miệng không kìm được nhếch lên.

“Đá mòn thì thay đá khác, sợ gãy tay thì nhịn phù tưới ruộng!”

“Ai thèm sợ!” Tiếng bác thợ cả Kim Lũng ồm ồm cướp lời, hào sảng rung cả mặt loa.

“Kim Lũng bọn tao cả đời ăn sắt ngủ đe, thiếu gì quặng tốt!

Ngay đêm nay tao giục lũ thợ nổi lò, rèn cho xưởng Đúc Thượng với Yên Thái dăm cái cối nghiền trục sắt hai tầng, lắp tay quay gỗ nghiền dập ra bột mịn trong chớp mắt.

Sáng mai gà gáy canh tư có thuyền chở sang bến Đúc Thượng ngay, liệu mà chuẩn bị rượu với lòng lợn thết đãi đấy nhé!”

Tiếng reo hò rộ lên từ các đầu mối truyền tin xa gần.

Cầm buông ống loa, ngực phập phồng vì luồng khí nóng ấm sực dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng.

Sương sớm bốc lên từ mặt sông Đuống bảng lảng như khói lò nguội.

Tiếng hò dô bên bến Đúc Thượng đã rộn lên từ lúc gà gáy le te canh tư — thuyền làng Kim Lũng cập bến thật, chở theo ba bộ cối nghiền trục sắt đúc dày cui, gõ vào kêu coong coong như tiếng chuông khánh ngày hội.

Cầm rảo bước qua sân đình Yên Thái, tay xách bọc đùm giò lụa mua vội ở chợ Hôm, lòng hăm hở lạ thường.

Cối nghiền đã có, công thức mực đồng đã trao cho cả năm làng, xưởng in hôm nay coi như nắm chắc phần thắng trong tay.

Đăng đã ngồi thụp bên thềm tự lúc nào, hì hục lau từng con lăn gỗ, miệng ngậm cọng rơm huýt sáo vang trời.

“Dậy sớm gớm nhỉ,” Cầm quẳng bọc giò lên bậc phản, mắt đảo quanh gian xưởng quen thuộc.

Mùi giấy dó ẩm quyện với mùi hồ nếp nồng ấm sực nức.

“Thằng Tí đâu rồi?

Bảo nó chạy ra bến đón xe thồ chở cối sắt sang đây, rồi gọi Tô Mặc ra tính lại khẩu độ cổng âm môn cho mẻ phù đầu ngày xem nào.”

Đăng ngẩng lên, quệt mồ hôi trán, nom vẻ mặt ngơ ngác:

“Tô Mặc à?

Từ sớm tao đã không thấy đâu.

Tưởng sang bên Đúc Thượng tìm mày phụ bốc cối gang chứ?”

Tim Cầm bỗng thắt lại một cái, cảm giác cấn cấn như dẫm phải hòn sỏi nhọn.

Cô quay ngoắt người, sải bước về phía góc trong cùng của gian tả vu đình làng — nơi kê chiếc bàn gỗ tạp Tô Mặc vẫn dùng làm chỗ tính toán trận pháp suốt mấy tháng qua.

Mọi khi, giờ này anh đã ngồi ngay ngắn, lưng thẳng như cọc tiêu, vạt áo bào lam tuy cũ nhưng phẳng phiu, tay thoăn thoắt gạt bàn tính kêu lách cách như mưa rào trên mái ngói.

Nhưng lúc này, góc bàn vắng ngắt và lạnh tanh.

Chiếc bàn tính bằng gỗ mun được xếp ngay ngắn ở góc bàn, các con tính dồn hết về mép trên thành một đường thẳng thớm đến mức kỳ lạ.

Chiếc chén sứ Tô Mặc hay uống nước vối úp ngược lại.

Và chèn dưới đáy chén là một phong thư bằng giấy bản thô ráp.

“Cầm?

Có chuyện gì đấy?” Đăng bước nhanh vào sau lưng cô, giọng chùng hẳn xuống khi nhìn thấy chiếc bàn trống hoác.

Cầm không đáp.

Ngón tay cô, vốn dính đầy mạt đồng vàng óng chưa kịp rửa sạch, khẽ run lên khi nhấc chiếc chén sứ ra.

Dưới đáy chén, phong bì không dán kín, bên ngoài chỉ đề đúng ba chữ ngay ngắn sắc sảo: *Gửi Yên Thái.*

Cầm rút tờ giấy bên trong, mở bung ra.

Nét chữ mực đen thanh mảnh, gãy gọn như những đường kiếm sắc của người Trung Thổ.

Tô Mặc viết ngắn gọn, không thừa một chữ:

* “Mực đồng đã thành, Nam Việt tự có đường đi.

Nhưng Hư Vô Điện giăng lưới là vì kẻ đào tẩu này, chu sa chỉ là cái cớ mở đầu.

Nay ta tự đi gặp người của Thánh Địa để gỡ bỏ lệnh cấm vận linh thạch và phong tỏa giao thương.

Làng Yên Thái đã vì ta mà mở hương ước, chút tình này khắc cốt ghi tâm.

Chớ tìm, chớ nghênh chiến.

Hãy giữ lấy trường phù.”*

Tờ giấy trong tay Cầm rung lên bần bật.

Gió từ cửa sông lùa qua khe liếp, lạnh ngắt thốc thẳng vào gáy.

Đăng đứng chôn chân bên cạnh, mắt trân trối nhìn những dòng chữ mực, hơi thở dồn dập đến nghẹn ngào.

Cầm siết chặt nắm tay, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng, làm nát nhàu một góc giấy dó.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương