Chương 24·16 phút đọc

Học trò tóc bạc

✻

Tiếng mõ ở điếm canh đầu thôn vừa khua lên ba tiếng ngập ngừng thì ngõ dẫn vào khu xưởng giấy dó cũ – nay treo tấm biển gỗ đề “Trường Phù Học”– đã rộn rạo bước chân.

Nghe tiếng trẻ con hò hét ngoài ngõ, Đăng buông giẻ lau bàn in, cùng Đỗ Cầm rảo bước ra thềm.

Đi trước là Tô Mặc, vạt áo chàm còn dính bụi đỏ của dốc Nhạn Tiêu, mặt mày dở khóc dở cười.

Nhưng người lững thững theo sau mới là nguồn cơn khiến cả xóm kéo ùa ra đứng kín hai bên bờ rào râm bụt.

Đó là Hạ Hầu Liệt.

Vị trưởng lão Kim Đan từng ngự phi kiếm lẫm liệt thuở nào, giờ khoác manh áo nâu cộc tay bạc phếch của dân chài bến sông Thao, ống quần quệt bùn non, đôi bàn chân to bè đi đất nứt nẻ.

Kiếm gãy cùng túi trữ vật đắt giá chẳng thấy đâu, chỉ có mái tóc hoa râm búi tạm bằng một cọng rơm khô.

Dẫu vậy, đôi vai sừng sững cùng ánh mắt sắc lẻm nhìn lướt qua vẫn khiến mấy anh thợ rèn làng Kim Lũng đang cầm đòn gánh phải chùn chân lùi lại.

Bác Cả Khang chống gậy lập cập chạy tới, cái khăn xếp trên đầu lệch hẳn sang một bên, tay chỉ chỉ nhưng miệng cứng đờ không thốt nổi nửa lời.

Lão Ất nép sau thân cây mít già, tay siết chặt nắm bùa hộ thân màu vàng úa, trán túa mồ hôi hạt.

Đăng đứng sững nơi thềm đất, bàn tay dính vệt mực chu sa vô thức nắm chặt mép tạp dề.

Mời vào trong hay chặn ngoài cửa?

Đó là kẻ từng toan san phẳng linh mạch đền Mẫu, từng đánh một chưởng thiêu rụi góc xưởng giấy của cha cậu.

Nhưng nhìn bộ dạng trơ trọi không giáp không kiếm lúc này, vác gậy xua đuổi lại chẳng giống thói đãi đằng của người Yên Thái.

Cậu liếc sang Tô Mặc, Tô Mặc chỉ khẽ nhún vai, ra hiệu chính mình cũng không cản nổi bước chân ông già gân guốc này.

Không khí giữa sân đặc quánh lại, chỉ còn tiếng gió lùa qua giàn phơi giấy dó sột soạt.

Đúng lúc ấy, cánh cửa chái bếp khẽ cọt kẹt mở ra.

Ông Phan Lộc bước ra sân, vạt áo cánh phanh rộng để lộ mảng sẹo bỏng lớn nơi mạn sườn – vết tích của ngọn lửa Kim Đan dạo trước nay đã lên da non đỏ ửng.

Trên tay ông là một chiếc bát sành da lươn bốc khói nghi ngút, đậm mùi chè tươi vừa hãm chát ngọt.

Ông Lộc điềm nhiên vượt qua Đăng, tiến thẳng tới trước mặt vị cựu trưởng lão.

Hạ Hầu Liệt dừng bước, đôi lông mày rậm cau lại, quai hàm bạnh ra như chờ một cơn lôi đình hay lời thù hận nhắm vào mình.

Nhưng ông Lộc chỉ chìa bát nước chè ra, giọng ráo hoảnh như nói với một bác lái đò nhỡ bữa:

“Bác này khéo chọn giờ gớm.

Cơm độn khoai vừa vét nồi, chỉ còn nước chè xanh thôi.

Đứng nắng cháy cả mớ tóc bạc thế kia, định vào xin nước hay định vào làng tôi đòi tiền đò đấy?”

Hạ Hầu Liệt sững sờ, trừng mắt nhìn bát nước chè rồi lại nhìn vết sẹo đỏ au bên hông người thợ già.

Mấy thớ thịt trên mặt ông ta giần giật, dường như cả đời tu tiên chưa từng chuẩn bị cho một câu đón tiếp thế này.

Cả sân đình bỗng im phăng phắc một nhịp, rồi thằng Tí đang ngồi vắt vẻo trên cây ổi không nhịn được mà bật cười khúc khích.

Tiếng cười lan ra như tàn lửa gặp rơm khô; từ mấy cô thợ làng Đúc Thượng cho tới đám thợ xeo giấy, ai nấy đều thở phào phì cười, làm tan biến sạch trơn vẻ sát khí nghẹt thở của vị khách không mời.

Chiếu cói trải giữa gian đình làng Yên Thái ráp sần dưới ống quần vải thô.

Hạ Hầu Liệt ngồi xếp bằng trên sập gỗ lim, hai tay bưng bát nước chè sành, thổi bốc khói rồi ực một ngụm lớn.

Đôi mày rậm của ông ta dường như dãn ra đôi chút trước vị chát đắng nơi đầu lưỡi.

Đăng ngồi đối diện, bên cạnh có Đỗ Cầm khoanh tay đứng tựa cột đình và Tô Mặc ngồi xếp bằng trầm mặc.

Ngoài sân, tiếng xì xào bàn tán đã ngớt dần, chỉ còn tiếng chày giã dột của xưởng giấy vẳng lại đều đặn theo nhịp ba quen thuộc.

“Viện trưởng lão phế chức của ta rồi,” Hạ Hầu Liệt buông bát sành xuống mặt sập, tiếng gốm chạm gỗ kêu cạch một tiếng khô khốc.

Đăng thấy giọng ông ta khàn đặc, đôi hốc mắt sâu hoắm như của kẻ đã thức trắng nhiều đêm liền.

“Cái danh trưởng lão chấp pháp, động phủ đỉnh Vân Ẩn, cả thanh Đoạt Phách Kiếm... bọn họ thu lại sạch sành sanh.

Lũ trong tông môn bảo ta làm nhục uy danh ngàn năm của Thiên Kiếm Tông, bại dưới tay một lũ thảo dân áo vải cày bừa.”

Khóe môi ông ta giật giật, vừa cay đắng lại vừa như tự giễu cợt chính mình.

Bất chợt, ông ta ngẩng phắt lên, đôi mắt Kim Đan tuy đã thu liễm linh quang nhưng vẫn sắc lẹm, găm thẳng vào Đăng.

“Ta đã ngồi bến đò suốt mấy ngày chỉ để nghĩ,” Hạ Hầu Liệt gằn từng tiếng, dằn bàn tay thô ráp xuống mặt sập lim.

“Một thằng nhãi mười sáu tuổi, kinh mạch bế tắc, linh căn ngũ tạp vứt vào chuồng ngựa Trung Thổ người ta còn chê.

Rốt cuộc ngươi dùng thứ tà thuật gì để nuốt trọn một đòn Thiên Hỏa Lôi Toa?

Ngươi thắng ta kiểu gì?”

Đăng nhìn thẳng vào đôi mắt vằn đỏ ấy, trong lòng cậu lạ lùng thay không còn chút sợ hãi.

Cậu khẽ lắc đầu, đưa tay chỉ ra ngoài khoảng sân nắng chói chang, nơi những giàn phơi giấy dó đang lấp lóa ánh bạc:

“Bác lầm rồi.

Cháu chưa từng thắng bác.”

Hạ Hầu Liệt nhíu mày, nét mặt thoáng vẻ ngờ vực: “Ý ngươi là sao?”

“Nếu một mình cháu đứng trước kiếm của bác, chỉ luồng kiếm áp thôi cũng đủ làm cháu tan xương nát thịt,” Đăng bình thản đáp, giọng rành rọt từng tiếng.

“Thứ đẩy lui Lôi Toa ngày hôm đó không phải linh lực của một đứa phế căn họ Phan.

Đó là từng tờ giấy dó của làng Yên Thái giã suốt mấy trăm năm, là chất đồng nấu chín không lẫn xỉ của lò thợ Đúc Thượng.

Nó mượn ván khắc mộc bản trăm nét như một của làng Hồ Khê, đinh tán của làng Kim Lũng, và tài cân chỉnh đón gió của thợ diều Bãi Sáo.”

Đăng ngả người về phía trước, ánh mắt sáng ngời:

“Trung Thổ các bác đúc một thanh kiếm quý mất ba mươi năm, luyện một Kim Đan mất trăm năm, nên các bác quen nghĩ một người có thể gánh cả đất trời.

Nhưng ở dải đất này, một con đê vỡ thì cả tổng cùng ra vác đất.

Sáu làng nghề bọn cháu cùng góp tay nối lại thành một đường mạch, thì dù bác là Kim Đan hay Nguyên Anh, thứ bác đụng vào không phải là cháu, mà là sức sống của cả cái đất Nam Việt này.”

Gian đình làng bỗng lặng phắc.

Làn gió mang theo mùi vỏ dó ngâm vôi cùng mùi rơm mới thổi qua ngạch cửa, làm vạt áo nâu của vị cựu trưởng lão khẽ lay lắt.

Hạ Hầu Liệt ngồi trơ ra như một pho tượng đá, mắt nhìn chăm chú vào bàn tay đen nhẻm vì dính mực in của Đăng, miệng mấp máy mà không thốt nổi một lời.

Hạ Hầu Liệt buông lỏng đôi bàn tay gân guốc trên gối, giọng trầm đục:

“Cho ta vào lớp.

Ta muốn xem các ngươi làm thế nào.”

Đỗ Cầm trố mắt, còn Tô Mặc khẽ chớp mi.

Đăng ngẫm nghĩ một thoáng rồi đứng dậy:

“Mời bác sang xưởng.”

Gian trường phù vốn là kho vỏ dó cũ, nay kê bốn dãy bàn tạp.

Thằng Tí ngồi vắt chân ở bàn đầu, cặm cụi quét mực chu sa lên bản khắc gỗ bằng chiếc chổi đót cụt.

Thấy ông già tóc bạc nồng mùi bùn sông bước vào, thằng bé chỉ ngước nhìn tò mò.

“Bác thử vẽ một lá chứ?” Đăng đặt tờ giấy dó ba lớp phơi sương, cây bút lông thỏ và đĩa mực dẫn khí sang góc bàn ông.

Hạ Hầu Liệt không đáp.

Ông hít sâu, ngồi thẳng lưng, toát ra khí độ của một tông sư đỉnh cao.

Những ngón tay thô ráp cầm lấy cán bút thon nhỏ.

Đăng thấy không khí trong phòng chùng xuống, da thịt khẽ râm ran theo dao động thần thức Kim Đan.

Ngọn bút hạ xuống.

Đầu lông thỏ quét trên mặt giấy ánh lên sắc bạc rực rỡ, sắc lẹm và cuồn cuộn linh lực.

Từng nét lượn, khúc rẽ đều chứa đựng trăm năm kinh nghiệm đấu pháp.

Nhưng tới khúc cua nối giữa âm môn và dương môn, thần thức quá mạnh đã đè nặng nét mực, làm nứt ra một vệt li ti.

Ngọn bút vừa dứt, lá phù tuy sáng rực nhưng linh khí bên trong giật đùng đùng, mép giấy cong lên, rên vo vo căng thẳng.

“Xong rồi anh Đăng ơi!” Thằng Tí reo lên.

Chẳng để ý đến màn phô diễn bên cạnh, thằng bé thuần thục kéo chiếc con lăn bọc nỉ qua tờ giấy dó mỏng đặt trên khuôn đồng. *Xoạch* một tiếng, nó nhấc giấy ra, ấn mẩu linh thạch vụn vào góc khuyết rồi vỗ tay cái bốp.

Một vầng sáng thanh dịu lập tức tỏa ra, êm ả như trăng rằm.

Đăng nhìn kỹ: nét mực in sắc lẻm, độ dày đều tăm tắp, không đứt đoạn hay thừa thãi.

Linh khí chạy qua các cổng trơn tru như nước vào mương, tĩnh lặng và vững chãi.

Cùng lúc ấy, lá phù của Hạ Hầu Liệt bỗng *xì* một tiếng, chỗ rạn cháy xém một chấm đen rồi tắt ngấm.

Vị cựu trưởng lão cúi gập người xuống bàn, sững sờ nhìn hai lá phù.

Cả đời ông dồn hết tâm lực rèn giũa thần thức để chạm tới đỉnh cao cá nhân, dường như lúc này lại chịu thua một cỗ khung gỗ và một đứa trẻ tám tuổi chỉ biết làm theo cữ lăn.

Gian phòng lặng phắc.

Đăng nín thở phòng ngừa một cơn lôi đình.

Nhưng rồi, bờ vai lực lưỡng của ông bỗng run lên.

“Ha...”

Tiếng cười bật ra từ cổ họng, rồi nổ tung thành chuỗi cười sang sảng.

Hạ Hầu Liệt ngửa mặt lên mái ngói, cười đến trào nước mắt như vừa trút được tảng đá ngàn cân đè nặng trong lồng ngực suốt bao năm tu đạo.

“Hay!

Hay cho cái cữ lăn!” Ông vừa cười vừa đập tay bôm bốp xuống bàn.

“Hóa ra trăm năm khổ luyện của lão già này... còn không đều tay bằng một khúc gỗ tiện!”

Tiếng cười của vị cựu trưởng lão vừa dứt thì mặt đất dưới chân bỗng khẽ rùng mình một nhịp rất nhẹ.

Đăng lập tức cảm nhận được luồng khí ấm áp quen thuộc dâng lên từ sâu trong lòng đất, chảy ngoằn ngoèo qua các khe rễ mít rồi phóng vút về hướng tây bắc.

Cậu bước nhanh ra hiên xưởng giấy.

Về phía rặng Nhạn Tiêu, đỉnh núi vốn chìm trong lớp mây mù ảm đạm mấy ngày qua bỗng rực lên một vệt sáng màu lam ngọc.

Tấm thấu kính khổng lồ của trạm Thiên Cơ Kính mẹ đã xoay tròn, phản chiếu ánh tà dương lấp lánh như một mảnh trăng ban ngày.

Mạch linh khí đã thông, tải đã chia đều.

“Sáng rồi!” Tô Mặc đứng bên cạnh thở phào, giơ cao chiếc đĩa đồng truyền tin nhỏ xíu trong lòng bàn tay.

Chiếc đĩa run lên khe khẽ, phát ra những tiếng rè rè như tiếng ve sầu cắn vỏ cây, rồi một giọng nói the thé, lạnh tanh nhưng gượng gạo của viên chấp sự Thái Hư vọng ra giữa sân trường phù:

* “Truyền dụ của Hư Vô Điện...

Thái Hư Thánh Địa chuẩn thuận điều ước thông đạo với bản hạt Nam Việt.

Kể từ tiết Lập Thu này, mỗi năm thánh địa sẽ chu cấp ba ngàn linh thạch hạ phẩm coi như phần hương hỏa gửi về đền Mẫu cùng hệ thống đền Tứ phủ để bồi hoàn linh khí trạm mẹ...

Đồng thời, triệt hồi toàn bộ lệnh phong tỏa chu sa phẩm cấp ba trên toàn tuyến sông cái.

Các thuyền buôn của thương hội Vạn Thông được phép cập bến Yên Thái giao khoáng liệu từ sớm mai.”*

Tiếng rè rè dứt hẳn, mặt đĩa đồng nguội đi.

Cả xưởng giấy lặng đi một thoáng rồi vỡ òa.

Mấy anh thợ rèn Kim Lũng đập bôm bốp vào vai nhau, Đỗ Cầm khoanh hai cánh tay dính nhọ nồi trước ngực, khóe môi nhếch lên một nụ cười đắc ý như muốn nói “đã bảo mà”.

Có chu sa tự do, mực in dẫn khí sẽ không còn phải pha trộn dè sẻn bằng bột gỉ đồng hay bùn non nữa.

Lại thêm ba ngàn linh thạch tiền lệ đền phủ mỗi năm, các bô lão trong vùng từ nay khỏi phải lo cảnh chạy vạy từng đấu gạo cúng rằm.

Đăng quay nhìn sang bên cạnh.

Bác Cả Khang nãy giờ vẫn đứng nép ở ngạch cửa kho thóc, hai tay chống chặt chiếc gậy tre bịt đồng, chiếc khăn xếp đen trên đầu vẫn đội lệch một bên.

Lúc nghe đến đoạn “ba ngàn linh thạch”, hai mắt bác trợn tròn lên, cái miệng móm mém mấp máy như đang bấm đốt ngón tay tính xem chia về cho quỹ tế tự của làng Yên Thái được mấy phần.

Thấy Đăng nhìn mình, bác Cả Khang vội giật mình ho khù khụ hai tiếng rõ to.

Bác cố kéo thẳng vạt áo the, làm ra vẻ mặt nghiêm nghị, quắc mắt trừng đám thanh niên đang hò reo ngoài sân:

“Ồn ào cái gì!

Phép tắc làng xã để đâu hết rồi?

Mới... mới bớt được mấy cái vạ gió mà đã nhặng xị cả lên!”

Nói rồi bác quay lưng bước nhanh ra cổng ngõ.

Nhưng Đăng nhìn rất rõ, khi bác vờ đưa tay lên chỉnh lại vành khăn xếp sờn mép trễ xuống trán, ống tay áo thụng đã che không xuể cái miệng đang ngoác ra cười toe toét.

Cái lưng còng của ông lý trưởng già dường như nảy lên từng nhịp nhẹ nhõm, đôi guốc mộc gõ lóc cóc trên đường lát gạch nghiêng, vội vã như muốn chạy ngay ra điếm đình để khoe với hội đồng kỳ mục.

Trăng rằm vằng vặc trải ánh bạc lạnh lên khắp các nếp nhà làng Yên Thái.

Gió bến sông thổi bạt cái oi nồng ban chiều, chỉ còn mùi ngai ngái quen thuộc của vỏ dó ngâm vôi cùng tiếng dế rỉ rả dưới chân bờ rào râm bụt.

Đăng ngồi trên chiếc chõng tre ngoài hiên xưởng, bên ngọn đèn dầu lạc che bằng ống tre cưa đôi.

Cậu cẩn thận giở cuốn sổ chi phí bọc bìa dó đã sờn rách bốn góc.

Cuốn sổ theo cậu từ những ngày đầu mày mò cữ lăn với Đỗ Cầm, từng trang chi chít những con số dè sẻn từng hạt linh thạch vụn, từng cân bột gỉ đồng, từng bát cháo hoa lót dạ thợ đêm.

Lật qua trang giấy ghi món nợ chu sa vừa được thương hội Vạn Thông gạch bỏ chiều nay, Đăng mỉm cười.

Cậu chấm bút lông vào đĩa mực tàu, nắn nót viết thêm một dòng xuống góc cuối trang:

* “Mười lăm tháng Tám: Chu sa thông tuyến, linh thạch trạm mẹ chia về đền Mẫu ba phần, đình làng hai phần.

Giá một lá phù Tụ Thủy in khuôn chính thức hạ xuống còn ba đồng kẽm.

Phàm nhân ai cũng có thể thắp đèn dẫn nước.”*

Viết xong, Đăng ngả lưng vào cột tre, thở phào nhẹ nhõm.

Bỗng nhiên, từ khoảng không mờ mịt phía rặng núi Trung Thổ xa xăm, một đốm sáng màu cam đỏ lững lờ trôi tới.

Ban đầu Đăng ngỡ là đèn trời của làng Vọng Nguyệt hay diều gắn phù phát quang của bọn trẻ Bãi Sáo.

Nhưng đốm sáng ấy bay rất thấp, vượt qua những mỏm đá đèo Nhạn Tiêu, rẽ sương đêm trôi thẳng về phía mái đình Yên Thái.

Đó là một chiếc đèn trời lạ lẫm.

Đăng bước ra mép sân, chăm chú nhìn khi chiếc đèn từ từ sà xuống ngọn cây ổi.

Khung đèn không uốn bằng cật tre óng ả như thợ làng Vọng Nguyệt vẫn làm, mà đan vụng về bằng nứa rừng chẻ vội, dán bên ngoài thứ giấy bản thô ráp màu cỏ úa của dân nghèo vùng núi biên giới Trung Thổ.

Dưới đáy đèn, đung đưa một chiếc ống trúc rỗng gắn mẩu phù truyền âm vẽ mực lem nhem, nhưng nét cắt gãy khúc rõ ràng phỏng theo lối dẫn mạch mà trường phù vừa truyền ra mấy ngày trước.

Chiếc đèn vướng nhẹ vào cành ổi.

Đúng lúc ấy, mẩu phù truyền âm nơi đáy ống trúc bỗng rung lên, phát ra tiếng xèo xèo như củi ướt bén lửa.

Rồi một giọng nói rụt rè, mộc mạc mang nặng âm thổ ngữ của một phàm nhân cày núi bên kia sườn Nhạn Tiêu cất lên, vang giữa sân xưởng vắng lặng:

“Dạ... lạy các bác thợ giấy Nam Việt...

Chúng con là dân làng nương Đá Trắng bên này núi...

Cả đời cấy cày chỉ biết ngước nhìn phi kiếm của các tiên gia trên trời, ruộng nương khô cháy mà không với tới giọt nước mưa...

Nghe tiếng loa tre bay qua đỉnh đèo, chúng con đánh liều chép theo cái hình bùa in...

Đội ơn các bác, ruộng ngô làng con chiều nay đã có nước lần đầu tiên...

Chúng con gom góp được hai gùi hạt dẻ rừng với mấy bao củ mài...

Dám xin hỏi các bác... người phàm không có tiên duyên bên này, có được phép bước qua chân núi sang trường xin học làm phù không ạ?...”

Tiếng nói mộc mạc nghẹn lại rồi tắt hẳn.

Chỉ còn ngọn lửa tí tách cháy êm trong lồng đèn giấy úa, đung đưa nhè nhẹ dưới ánh trăng rằm bát ngát.

✻

Bạn đã đọc hết truyện này

«Phù Sư Làng Giấy» đã kết thúc. Đọc tiếp bộ khác:

Biên tập viên đề xuất

Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

Cùng thể loại Tiên Hiệp

Đọc chương 1

Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

Cùng thể loại Tiên Hiệp

Đọc chương 1

Bình luận chương