Chương 20·16 phút đọc

Canh hầu giữa trận kiếm

✻

Bùn non níu chặt từng bước chân khi Đăng cắm đầu chạy ngược lên dốc gò đền Mẫu.

Hai bắp chân mỏi nhừ, vết rách ở lòng bàn tay va phải mép đá buốt nhói, nhưng mắt cậu không rời nổi khoảng không phía trên ngọn đa làng.

Tầng mây xám xịt bị xé rách bởi những luồng hào quang chói gắt.

Chuỗi đèn trời của Thiên Đăng Võng treo lơ lửng bấy nay bỗng chao đảo như thuyền nan đứt dây giữa xoáy nước.

Dưới sức hút tàn bạo từ ba mươi sáu cọc sắt đen cắm quanh chân gò, mạch linh tủy sâu trong lòng đất Yên Thái như bị bóp nghẽn, gầm rú rồi bốc ngược lên thành những vệt sáng đỏ lòm, cuồn cuộn rót thẳng vào phễu kiếm trận trên cao.

Không khí đặc quánh mùi khét của đá cháy và kim loại bị nung quá lửa.

Dưới mái hiên đền, Tô Mặc đang quỳ một gối trên nền gạch sũng nước, ống tay áo ướt sũng dính bết vào cẳng tay.

Y cầm một nhánh que củi vạch lia lịa lên mặt đất những hình cung chằng chịt, trán đầm đìa mồ hôi dù gió sông thổi thốc vào lạnh ngắt.

Vừa thấy bóng Đăng trèo lên thềm gạch, Tô Mặc ngẩng phắt dậy, ngón tay run run chỉ thẳng vào những chấm bùn vừa khoanh:

“Không phải kiếm trận đơn thuần!

Ba mươi sáu cỗ Lôi Hỏa Trận Đồ kia chia làm ba vòng đồng tâm, cắm trúng ba tầng huyệt đạo của long mạch.

Chúng tạo thành một cái phễu chân không, hút kiệt áp lực linh khí từ đáy gò lên ngọn kiếm của Hạ Hầu Liệt!”

Đăng thở dốc, mắt lướt nhanh theo từng nét que Tô Mặc vừa vạch.

Những vòng tròn ấy khít khao đến rợn người, hệt như những vòng then khoá mà Đăng từng thấy thợ rèn Kim Lũng dùng để kẹp chặt trục bễ.

Cậu ngước nhìn mấy con diều tự hành còn sót lại đang quay cuồng mé rìa cột sáng; chỉ vừa chạm tới tầng khí xoáy, thanh nan tre đã nứt toác, phù giấy chưa kịp kích hoạt đã cháy rụi thành tàn tro rơi lả tả.

Cậu hiểu ngay.

Đám diều sáp ong của cậu chỉ là những chiếc then ngắt mạch dòng nhỏ, dùng để chặn đạn lạc hay phá rối từng tia kiếm đơn lẻ.

Đem vài chục lá phù mỏng đối chọi với cỗ máy hút khổng lồ được nạp bằng hàng ngàn khối thạch anh đang sôi sục dưới chân chẳng khác nào ném rơm vào lò luyện thép.

Sức người không thể chặn nổi một dòng thác đang bị cưỡng bức đổi dòng.

Muốn kéo linh tủy trở lại ruột đất, không thể dùng bạo lực để đập gãy trận đồ.

Phải lập lại trật tự cho dòng chảy, phải khiến cả mạng lưới Tứ phủ đồng loạt đổi nhịp đập để tước đi lực hút của ba vòng sắt kia.

Đăng quay ngoắt nhìn vào trong đền.

Giữa làn khói nhang mờ ảo, bóng bà Ba Thoải tĩnh lặng như một pho tượng cổ.

Nước từ bãi dâng tràn qua bậc thềm đá xanh, ngập đến mắt cá chân người đứng giữa sân đền.

Nhưng bà Ba Thoải không lùi vào hậu cung.

Tấm khăn phủ diện màu điều đỏ thắm trùm kín đầu bà, tà áo thêu gấm buông chạm mặt nước dập dềnh rác lá tre và tàn phù cháy rách.

Bà bước thẳng xuống khoảng sân ngập, vững chãi như một chiếc cọc lim cắm giữa lòng xoáy.

Bên hiên, bác cung văn già khoác vội manh áo the nâu ướt sũng, giáng mạnh dùi xuống mặt trống bản.

Tiếng *tum* trầm đục dội lên, mặt nước dưới chân rung rinh từng đợt sóng tròn.

Ngay cạnh đó, thằng Tí ngồi xổm trên bậu đá, hai bàn tay nhỏ xíu cầm đôi phách tre gõ dứt khoát: *cắc!*

Âm thanh đanh gọn vang lên giữa tiếng rít xé tai của Cửu Tiêu Kiếm Trận.

Tiếng *tum* nặng trịch của đất, tiếng *cắc* giòn tan xé rách màn mưa.

Thằng bé cắn chặt môi, mắt mở to nhìn Đăng, nhịp gõ đều chằn chặn như thể đang nêm từng chốt dâu vào khung cửi.

Đăng không chần chừ một khắc nào.

Cậu quỳ xuống mép hiên, kéo phắt cuộn dây đồng dẫn từ giàn diều cắm phập vào chốt phát sóng của bàn biến tần trung tâm.

Những ngón tay rách toác miết chặt lên mặt phiến đá cảm ứng.

Bắt lấy từng nhịp *tum... cắc*, cậu điều chỉnh độ rung của lõi thạch anh trong tráp gỗ, biến từng phách trống thành những xung dao động linh khí ngắn, đều đặn và sắc nét.

“Lên!” Đăng khẽ gắt qua kẽ răng.

Từ đầu cọc tiếp lốc dựng cạnh cây đa, một luồng sóng rẻ quạt vút thẳng lên tầng không, găm vào chuỗi đèn lồng của Thiên Đăng Võng.

Mạng lưới đèn trời lập tức chớp sáng theo nhịp ba-hai.

Từng chấm đỏ xuyên qua tầng mây mù, nối tiếp nhau phóng đi ba hướng như những vệt sao băng đổi đường bay.

Gió từ phía tây thốc về, mang theo làn sóng linh khí rung rinh từ dãy Ba Vì xa lắc.

Trên Thiên Cơ Kính thu nhỏ đặt cạnh chân Đăng, những vệt sáng bắt đầu nhấp nháy liên hồi: Đền Thượng xứ Đoài đã bắt được nhịp trống.

Liền sau đó, từ thượng lưu sông Đà mù mịt, dải sóng của đền Thác Bờ cũng bừng lên sắc xanh biếc của hành Mộc, hòa cùng nhịp *tum* trầm ấm.

Và tít tắp nơi rừng phương Nam, tín hiệu của các ngôi miếu Nhạc phủ cũng đồng loạt lóe rạng, đồng điệu đến từng phần mười chớp mắt.

Dưới sân, bà Ba Thoải nghiêng mình, đôi tay vén tà áo đỏ múa lượn thành vòng cung mềm mại.

Nước cuộn tròn quanh gót chân trần.

Tiếng hát văn cất lên, thấu qua cả sấm rền của kiếm trận bên trên.

Cả cõi trời Nam như thể cùng cất lên một khúc chầu, hàng trăm ngôi đền cách nhau ngàn dặm bấy giờ tựa hồ chỉ còn chung một nhịp đập, một lá phổi khổng lồ đang chuẩn bị hít sâu.

Khăn phủ diện màu điều của bà Ba Thoải phần phật trong gió lộng, gương mặt trang nghiêm hướng thẳng lên đỉnh trời.

Bác cung văn gằn giọng xuống cung trầm, nhịp dùi dồn dập như sấm tháng ba thúc thẳng vào giá Mẫu.

Trên bậu đá, thằng Tí dập phách, tiếng *cắc* đanh gọn xé toạc màn mưa.

Một tiếng *uông* trầm vang vọng từ sâu dưới lòng đất Yên Thái dội lên, tựa tiếng chuông đồng khổng lồ ngàn năm ngân dài.

Đăng nhìn đăm đăm vào bàn biến tần: bốn dải sáng từ Thiên Đăng Võng — Đoài phủ, Thác Bờ, Nhạc phủ phương Nam và gò đền Mẫu — đột ngột chập lại thành một khối hào quang thuần khiết.

Cổng âm dương toàn mạng lưới đóng mở đồng pha khít khao, biến cả Nam Việt thành bồn thu linh khí khổng lồ.

Cột sáng linh tủy đỏ rực đang vươn lên mây bỗng khựng lại giữa không trung, run rẩy rồi cuộn ngược trở về lòng đất.

Mặt đất dưới chân Đăng rung bần bật, nhưng không phải cơn giãy giụa của đất đá, mà là cảm giác một dòng linh khí mát lành đang thấm đẫm vào từng thớ cát, ngấm sâu vào từng chân rễ đa.

Mất nguồn linh tủy, ba mươi sáu cỗ Lôi Hỏa Trận Đồ bằng sắt cắm quanh gò lập tức mất kiểm soát.

Rãnh phù văn trên thân cọc đỏ lựng lên rồi xì xèo bốc khói đen.

Từng cỗ nổ lốp đốp, ánh lôi hỏa phụt tắt liên hoàn từ ngoài vào trong, chỉ còn lại những khối sắt đen nguội ngắt cắm ngập bùn lầy.

Đăng ngước lên trời.

Phía trên phễu kiếm trận hỗn loạn, ba cỗ Kính Thiên Dực bằng đồng của Thiên Kiếm Tông bắt đầu lảo đảo.

Khi linh khí sụt áp dưới ngưỡng duy trì, mạch phù logic trên cánh không thể tự điều chỉnh nhịp xung.

Đăng thấy khóe môi Tô Mặc giật giật nụ cười kín đáo; bản vẽ rò rỉ năm nào vốn thiếu mất cổng cân bằng hồi tiếp.

Những bánh răng bên trong Kính Thiên Dực phát ra tiếng rít chói tai rồi kẹt cứng từng chốt.

Đôi cánh chúc thẳng xuống, cả ba cỗ máy đồ sộ khóa chết giữa tầng không rồi rơi tự do như những tảng đá gãy.

“Nhảy mau!”

Tiếng thét thất thanh của đám tu sĩ Trung Thổ xé rách tiếng gió.

Mấy bóng áo trắng nội môn hoảng hốt bung người ra khỏi buồng lái, vội vã triệu hồi phi kiếm đạp dưới chân để hãm đà rơi.

Những cỗ Kính Thiên Dực nặng ngàn cân lao vun vút cắm phập xuống bãi lau sậy ven sông Hồng, bùn nước bắn tung tóe mù mịt một góc trời.

Phi kiếm chao đảo, các đệ tử Thiên Kiếm Tông chật vật ghìm chân lơ lửng, mặt cắt không còn giọt máu nhìn kiếm trận của mình đang rã rời từng mảnh.

Trên đài mây chao đảo, Hạ Hầu Liệt gầm lên một tiếng xé họng.

Nhận ra toàn bộ trận đồ dưới chân đã tắt ngấm, lão rút từ tay áo ra ống đồng khảm vàng to bằng bắp đùi, nhắm thẳng xuống mái đền Mẫu mà phóng tới.

Một quả Thiên Hoả Lôi Toa rít gầm xé rách không trung, kéo theo vệt lửa đỏ ngầu nồng mùi lưu huỳnh.

Uy lực của thứ pháp bảo đắt đỏ bậc nhất Trung Thổ ép rạp cả những ngọn tre ven bờ.

“Đỡ lấy mái đền!” Đăng hét lớn, hai tay giật mạnh sợi dây thừng nối với giàn giá tre bên hông điện thờ.

Bảy mươi con diều giấy dó in vội ban chiều — mực chu sa chưa kịp khô — đồng loạt vút lên như đàn chim vỡ tổ.

Không mang đầu nổ, từng con diều chỉ dán kín phù Tản Nhiệt ba lớp gài thêm then sáp ong mềm.

Đăng cắn răng ghìm trục quay, chỉnh độ căng từng sợi dây gai, ép đàn diều đan thành một tấm lưới hình nón chụp thẳng vào đầu quả lôi toa đang lao xuống.

Con diều đầu tiên chạm lửa bốc cháy, nhưng mạch phù kịp hút bớt nhiệt lượng.

Những con tiếp sau nối nhau lao vào, lớp nọ đè lên lớp kia bọc kín quả cầu lửa khổng lồ.

Nhiệt độ tăng vọt làm tan chảy các then sáp ong, ngắt mạch nổ cưỡng bức từ bên ngoài, làm chậm vòng kích hoạt của pháp bảo thêm ba phần mười cái chớp mắt.

*Oành!*

Tiếng nổ đinh tai nhức óc bùng lên giữa tầng không, cách mái ngói mũi hài của đền Mẫu chừng mười trượng.

Sóng xung kích hất tung tàn tro đỏ rực ra bốn phía rồi tắt ngấm giữa màn mưa phùn, không một mảnh lửa nào chạm tới đỉnh đền.

Giữa luồng khí nổ hất ngược lên trời, chiếc thuyền kiếm của Thiên Kiếm Tông chao nghiêng dữ dội.

Một đệ tử bị trói chặt hai tay sau lưng bằng xích sắt trượt chân khỏi mạn thuyền, rơi tõm xuống dòng nước lũ cuồn cuộn đỏ ngầu dưới chân gò.

“Bạch Viễn!” Đăng nhận ra bóng áo xám quen thuộc, thảng thốt kêu lên.

“Ra thuyền thúng, mau!” Đỗ Cầm từ bờ đá lao tới, tay xách đôi dầm gỗ.

Cả hai nhảy phắt xuống chiếc thúng chai buộc vội ở gốc sung ngập nước.

Cầm giật phắt dây néo rồi cùng Đăng cắm dầm chèo rẽ sóng lũ đục ngầu bọt trắng.

Mặc dòng nước cuộn xiết, thúng chai làng Đúc Thượng đan cạp chắc nịch vẫn lướt băng qua đám lau lách.

Đăng nhoài người ra mép thúng, chộp lấy vạt áo sũng nước của Bạch Viễn đúng lúc cậu ta vừa chìm nghỉm.

Cầm rướn người giữ thăng bằng, cả hai nghiêng be thúng, kéo bổng cậu thiếu niên Trung Thổ ướt như chuột lột, đang ho sặc sụa lên khoang tre an toàn.

Phi kiếm dưới chân Hạ Hầu Liệt lụi tắt tia sáng cuối cùng rồi gãy đôi với tiếng rắc khô khốc.

Vị trưởng lão Kim Đan lảo đảo rơi phịch xuống bãi bùn ngập đến gối ngay chân gò đền, áo bào thêu chỉ vàng lấm lem bùn non, cánh tay run rẩy vì cạn sạch linh lực.

Mấy chiếc túi trữ vật bên hông lão đều xẹp lép, không còn lấy một mảnh ngọc phù hay pháp bảo nào phát sáng.

Mấy tráng đinh làng rèn Kim Lũng lăm lăm đòn càn cùng thừng chão xông tới, định quẳng dây trói gô vị tu sĩ Trung Thổ lại.

“Khoan đã các bác!” Đăng nhảy khỏi mép thuyền thúng, giơ tay cản lại: “Người ta hết nhẵn đồ nghề rồi, trói làm chi cho uổng sợi thừng.”

Mấy bác thợ rèn ngơ ngác nhìn nhau rồi lùi lại.

Đăng quay sang chõ đất đặt bên hiên đền, múc một bát sành đầy nước gừng ấm thơm nồng mùi gừng già và đường mía, bước lại chìa ra trước mặt lão tu sĩ đang thở dốc:

“Uống ngụm cho ấm bụng, thưa trưởng lão.

Gió mé sông độc lắm.”

Hạ Hầu Liệt trừng mắt nhìn bát sành sứt mép, sống mũi phập phồng như muốn hất đổ, nhưng hơi cay nồng dường như đã đánh gục chút kiêu hãnh cuối cùng của kẻ vừa cạn kiệt chân nguyên.

Lão run rẩy đón lấy, uống một hơi ừng ực.

Đăng rút từ túi chống nước ra cuốn sổ con bọc da trâu đã sờn gáy.

Lật đến trang mực còn mới, cậu chìa ra trước mắt lão, giọng rành rọt như anh phó lý tính tiền công:

“Con tính sơ thế này để trưởng lão tiện về báo lại với tông môn: Bên các ngài dùng ba mươi sáu cỗ Lôi Hỏa Trận Đồ, đốt trọn chín ngàn linh thạch trung phẩm; thêm một quả Thiên Hoả Lôi Toa giá chừng ba trăm linh thạch thượng phẩm; ba cỗ Kính Thiên Dực cắm đầu xuống bùn kia sửa cũng mất vài ngàn.

Tổng cộng đốt đứt non nửa gia sản một phân đường.”

Hạ Hầu Liệt ngẩn người nhìn những con số chi li.

Đăng chỉ ngón tay xuống dòng dưới cùng:

“Còn bên làng con: một trăm sáu mươi con diều nan tre Bãi Sáo giá mười đồng một con; ba trăm tờ giấy dó phế ngâm sáp ong vụn giá năm mươi đồng; một ấm nước gừng năm đồng kẽm.

Chỗ cọc sắt các ngài cắm quanh gò, mai thợ rèn nhổ lên đúc được khối lưỡi cày xịn.

Tính cả thảy, làng Yên Thái chi hết chưa đầy bốn trăm đồng kẽm.”

Bàn tay cầm bát sành của Hạ Hầu Liệt khẽ giật.

Lão nhìn trân trân vào trang giấy dó mỏng tanh, rồi ngước nhìn đám đệ tử áo trắng đang dắt díu nhau trên mấy thanh kiếm mẻ ven bãi.

Không một người làng nào ngã xuống, mái đền Mẫu vẫn nguyên vẹn, chỉ có đống pháp khí bạc vạn của tông môn là vỡ vụn dưới bùn lầy.

Ánh mắt vị Kim Đan chùng xuống, trống rỗng và mệt mỏi cùng cực.

Lão ném trả cái bát sành không vào lòng Đăng, quay lưng về phía đám tàn binh đang ngơ ngác chờ lệnh, gằn từng tiếng khản đặc:

“Thu kiếm.

Rút về bờ bắc.”

Nắng sớm sau ba ngày hong khô bãi phù sa còn nồng mùi bùn mới bên mé sông Hồng.

Nước lũ rút hẳn, trả lại cho làng Yên Thái con đường gạch đỏ au và mùi thơm ngai ngái quen thuộc của vỏ dướng ngâm vôi.

Trước cửa đình, Đăng đứng trên ghế đẩu, hai tay nâng lấy tấm biển gỗ mít vừa được bác thợ mộc xóm Trong bào nhẵn thín.

Mực đen pha sáp thông nổi bật từng nét chữ chân phương, chắc nịch: *Trường phù học — ai cũng được học*.

Đỗ Cầm đứng bên dưới giữ chân ghế, ngước lên nhắc:

“Lệch sang tả một tí, mé bên kia hơi chúc xuống rồi đấy!”

Đăng chỉnh lại chiếc đinh đồng do Cầm tự tay dập rãnh, gõ mấy nhát cho tấm biển ăn chặt vào thân cột lim.

Thằng Tí ngồi bệt trên bậc thềm đá, vuốt phẳng từng tờ giấy dó làm phiếu danh bộ với vẻ mặt nghiêm trang.

Đám trẻ con cùng mấy bác phó cày xúm xít quanh sân đình, xì xào chỉ trỏ vào mấy sơ đồ mạch phù in bản khắc gỗ treo dọc bậu cửa.

Từ phía ngõ điếm tuần, một bóng người ngập ngừng bước vào.

Bạch Viễn vận bộ áo nâu thô mượn tạm của nhà Đăng, vạt áo ngắn cũn cỡn để lộ đôi cổ chân gầy guộc.

Cậu thiếu niên Trung Thổ bước từng bước dè dặt, dường như vẫn chưa quen đi chân trần trên nền gạch làng quê.

“Ta... ta ghi tên được không?” Bạch Viễn lí nhí, hai gò má ửng đỏ, ngón tay bối rối mân mê gấu áo.

Đăng nhảy xuống khỏi ghế đẩu, cười xòa rồi đẩy nghiên mực chu sa về phía trước:

“Đã treo biển 'ai cũng được học' thì người Trung Thổ hay người Nam Việt có khác gì nhau.

Đều phải bắt đầu từ việc học chẻ nan tre với quấy hồ nếp cả thôi.”

Bạch Viễn đón lấy ngọn bút lông thỏ từ tay Đăng.

Cậu hít một hơi sâu, nắn nót đặt những nét mực đầu tiên lên tờ giấy dó mở đầu cuốn sổ danh bộ.

Đó là cái tên Trung Thổ đầu tiên được ghi lại dưới mái đình làng Yên Thái.

Một làn gió lạnh bất chợt lướt qua sân đình.

Tiếng bước chân nện khô khốc trên mặt gạch vang lên từ phía cổng tam quan.

Một bóng người vận đạo bào viền mây màu xám bạc chầm chậm bước qua ngưỡng cửa đá.

Ngực áo thêu hình chiếc kính bát giác tỏa ánh lam quang nhạt — biểu trưng của Thái Hư Thánh Địa.

Người khách lạ dừng chân ngay trước thềm đình, ánh mắt sắc lạnh lướt qua tấm biển gỗ vừa treo rồi dừng lại ở khoảng sân sau lưng Đăng.

Viên chấp sự giương cao cuộn trục hoa tiên viền chỉ vàng mang ấn tín phong lôi lập lòe tia chớp nhỏ, giọng nói lạnh tanh vang rền khắp gian tiền tế:

“Thái Hư Thánh Địa phụng mệnh truy xét.

Kẻ phản nghịch Tô Mặc mau ra nhận lệnh quy án!”

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương