Mưa trên gò đền Mẫu quất ràn rạt rát buốt từng thớ thịt.
Gió từ sông Đáy thốc lên mang theo mùi tanh nồng của bùn non và hơi lạnh thấu xương.
Giữa bóng đêm đen đặc, một đạo kiếm quang sắc lẹm xé toang màn mưa, rít lên chói tai rồi bổ sầm xuống khoảng sân gạch trước đền.
Một tiếng nổ chát chúa vang lên, gạch Bát Tràng vỡ vụn, tia lửa bắn tung tóe soi rõ những gương mặt dân làng Yên Thái đang hớt hải dắt díu nhau trèo lên dốc.
Không chần chừ một khắc, Đăng nghiến răng giật tung bó dây néo trên ba chiếc sọt tre lớn đặt sát bậc thềm đá.
Toàn bộ chín mươi con diều tự hành dự trữ cuối cùng bung ra.
Khung nan tre làng Bãi Sáo uốn cong dưới lớp giấy dó đanh dai phết nhựa cậy lập tức rung lên bần bật.
Ngay khi các mạch phù dẫn trên sống diều bắt được dao động dị thường của linh khí trên không, chín mươi cánh diều như bầy ong vỡ tổ vút thẳng lên trời.
Mắt Đăng căng ra dõi theo từng vệt sáng mỏng manh.
Đám diều như “ngửi” thấy linh lực hung hãn tỏa ra từ bờ bắc, tự động bẻ lái, lao thẳng vào đón đầu những đường phi kiếm sắc lạnh và đạn Lôi Hỏa đỏ rực đang gầm rú bay tới.
Tiếng nổ đôm đốp vang lên liên hồi trên tầng không.
Mỗi cú va chạm làm lóe lên những quầng lửa cam chớp nhoáng, tàn thuốc và giấy cháy khét lẹt theo gió táp vào mặt Đăng rát rạt.
Dưới đất, dòng người tản cư vẫn đang chen chúc lội bùn chạy lên gò.
Một vài con diều sau khi kích nổ hoặc bị chấn động của kiếm khí hất văng liền xoay tít, lao chúi xuống sát mặt đất, cắm thẳng về phía đám đông đang la khóc.
Nhưng ngay khoảnh khắc chúng lướt qua sát đỉnh đầu dân làng, lớp then nhiệt ba mươi sáu độ làm bằng sáp ong pha kim loại gắn ở đuôi diều lập tức cảm ứng hơi ấm từ da thịt người mà chảy mềm ra.
Mạch linh khí ngắt ngọt một tiếng “tách”.
Toàn bộ lực đẩy biến mất trong chớp mắt, những con diều lập tức mất phương hướng, trôi dạt rồi rơi lả tả xuống bờ cỏ ướt như lá khô rụng, tuyệt nhiên không chạm vào người một ai.
Đăng thở phào một nhịp ngắn ngủi, đưa mắt nhìn về phía thềm đền.
Bà Ba Thoải đang đứng sừng sững chắn ngay giữa hai cánh cửa gỗ lim, tà áo nâu sồng ướt sũng dính chặt vào người dưới cơn mưa như trút nước.
Mặt bà lạnh như tượng đồng, cánh tay gầy guộc nhưng dứt khoát không ngừng kéo những người đàn bà run rẩy và bế thốc lũ trẻ con đang gào khóc, đẩy hết vào khoảng sâu an toàn nơi gian hậu cung.
Giữa tiếng sấm rền và gió rít từng cơn qua rặng tre ngà, một bóng người nhỏ thó lảo đảo lao ngược dốc gò đền.
Thằng Tí ướt như chuột lột, hai tay ôm khư khư chiếc đèn trời mạn xuôi bọc giấy dầu đã tả tơi vì gió quật.
Mắt đỏ hoe, chân không guốc dép dẫm nát bờ cỏ trơn trượt, nó thở hồng hộc gọi lớn:
“Anh Đăng!
Anh Đăng ơi!
Dưới điếm… điếm tuần có biến!”
Đăng vội bước tới giữ chặt bả vai đang run bần bật của thằng bé.
Ngọn đèn trên tay thằng Tí hắt ra ánh sáng vàng vọt, chao đảo theo từng nhịp thở dốc.
Nó gạt vội dòng nước mưa xối xả trên mặt, ngón tay run rẩy chỉ về mạn xuôi con đê làng, nơi bóng tối mịt mù chỉ thỉnh thoảng lóe lên những tia chớp bạc:
“Em vừa chạy qua đấy, thấy… thấy có ánh phù lập lòe dưới chân kè!
Chỗ đất sau điếm tuần bị rỉ nước thành dòng rồi, to bằng bắp chân ấy, bùn non đang đùn lên trắng xóa!
Sắp vỡ mất anh ơi!”
Tim Đăng thắt lại.
Khúc đê sau điếm tuần là đoạn xung yếu nhất của làng Yên Thái, chân kè pha cát lại hứng trọn dòng nước xiết từ thượng nguồn đổ về.
Nếu chỗ ấy toác ra, chỉ nửa tuần hương là nước sông Đáy sẽ nhấn chìm toàn bộ nhà cửa, xưởng giấy.
Nhưng ánh phù lập lòe ở đó là của ai?
Lão Ất đã chạy lên đình từ chập tối, còn đám thợ vẽ của cậu thì đều đang ở trên này.
Đăng quay ngoắt lại phía hiên đền, nơi Tô Mặc đang ngồi xổm bên phiến đá mài, tay thoăn thoắt gạt thẻ tính bằng xương, mắt không rời la bàn đo góc gió:
“Anh Tô!
Trông chừng đàn diều giúp em!
Kiếm quang bờ bắc chưa dứt, anh cứ canh then nhiệt mà thả theo nhịp ba.
Giao cả cho anh đấy!”
Tô Mặc ngẩng lên, gương mặt tái nhợt dưới ánh phù quang nhưng ánh mắt sắc lạnh và chuẩn xác.
Anh khẽ gật đầu dứt khoát, không hỏi một lời thừa thãi, ngón tay lại tiếp tục bấm đốt tính toán.
Bên cạnh, Đỗ Cầm chẳng đợi nhắc đã cúi người xốc bọc cói nặng trịch lên vai.
Tiếng linh thạch vụn va vào nhau lách cách bên trong lớp vải bố ướt sũng.
Bàn tay lem bùn và vệt than lò của cô thợ đúc siết chặt miệng bao:
“Đi!
Để tao vác cho, chân mày chạy nhanh thì dẫn đường!”
Đăng gật đầu, vớ chiếc đòn gánh gãy giắt ngang lưng làm gậy chống rồi cùng Cầm lao xuống dốc.
Bỏ lại sau lưng tiếng rít của kiếm trận trên đỉnh gò, hai bóng người cắm đầu lội qua dòng nước lũ đang cuồn cuộn dâng tới đầu gối, nhắm thẳng hướng điếm tuần mà xông tới.
Nước ngập ngang đùi rồi dâng thốc lên bụng khi Đăng và Đỗ Cầm lội tới mạn sau điếm tuần.
Mùi bùn sình quyện với cỏ úa bốc lên nồng nặc.
Điếm tuần mái rạ xiêu vẹo trong gió giật, một góc tường đất đã bị sóng ngoạm lở từng mảng lớn, trơ ra những gióng tre đan chỏng chơ.
Ngay sát chân kè đất, một bóng người thâm thấp đang ngập sâu tới thắt lưng giữa dòng nước đùng đục, hai chân xoạc rộng cắm chặt xuống bùn lầy chống lại sức đẩy của sóng.
Đăng dụi mắt nhìn qua màn mưa trắng xóa.
Đó là bác Cả Khang.
Chiếc khăn xếp rơi đâu mất, mái tóc hoa râm bết bát vào trán, vạt áo the sũng nước nổi lềnh bềnh trên mặt lũ.
Kê chênh vênh trên gờ đá xanh còn sót lại của bệ điếm là chiếc rương gỗ mít đã ngả màu đen bóng, nắp bật mở.
Bên trong lót vải dầu che chắn cẩn thận, nhưng thứ nằm trong rương không phải bạc nén hay văn tự hương ước làng, mà là hàng xấp phù mô-đun bằng giấy dó.
Đăng sững người, lội ào tới bám lấy cột điếm.
Cậu nhận ra ngay những lá phù ấy.
Mép giấy cắt lệch lạc, đường chu sa đỏ in bằng khuôn gỗ thuở đầu nham nhở, có lá nhòe mực thành bệt, có lá đứt nét ở cổng âm môn.
Đó chính là mớ phù hỏng mà cậu cùng xưởng in làm thử từ hồi đầu năm, từng bị bác Cả Khang đích thân dẫn tuần đinh tới tịch thu rồi mắng té tát là thứ nhảm nhí phá nghề tổ.
Hóa ra ông không hề đốt đi.
Đôi bàn tay gân guốc vốn quen cầm roi mây phạt vạ của người đứng đầu kỳ mục lúc này run bần bật vì cóng buốt, nhưng vẫn kiên trì miết từng góc giấy.
Bác Khang ngậm chặt chiếc bút lông cùn ngang miệng để giữ khô đầu đóm, hai ngón tay cái thoăn thoắt gài mép lá phù này vào đuôi lá phù kia.
Chỗ khớp nối ba cổng âm dương đan vào nhau sít sao đến từng phân, y hệt bản sơ đồ Tụ Thủy mười hai nhịp Đăng từng lén dán lên cột đình hồi tháng trước.
Ngày ấy, mỗi lần đi qua cột đình, bác Cả Khang đều hất cằm nhìn thẳng, vung tay áo như thể không thèm liếc mắt lấy một giây vào mớ hình vẽ ngoằn ngoèo của bọn trẻ con.
Thế mà lúc này, từng mô-đun in lỗi lại được ông gài khớp chuẩn xác, thứ tự các nhánh mạch linh khí rành rọt như thể đã được ông nhẩm đi nhẩm lại trong đầu hàng trăm lần suốt những đêm thức trắng ở điếm tuần.
“Bác Cả!” Đăng khản giọng gọi, nước lũ táp thẳng vào mặt.
Bác Cả Khang giật nảy mình, suýt làm rơi dải phù vừa nối xuống nước.
Ông ngước lên, đôi mắt trũng sâu đỏ ngầu dưới vòm mày rậm sũng nước.
Thấy Đăng và Cầm, gương mặt khắc khổ của ông thoáng co giật như bị bắt quả tang làm điều vụng trộm, rồi lại sẵng giọng quát át tiếng gầm của sóng:
“Kêu cái gì!
Đứng đực ra đấy à?
Mang linh thạch lại đây mau, chân kè sắp bục rồi!”
Một tiếng “ục” nặng trịch dội lên từ lòng đất, rồi tiếng “rắc” xé toạc màn mưa.
Một mảng đê dài gần nửa trượng bục toác, đất đá rã thành từng tảng trôi tuột vào lòng xoáy.
Dòng lũ đỏ ngầu gầm réo, chực ùa thẳng vào ngõ xóm Yên Thái.
“Chắn lại!”
Bác Cả Khang gào lên khản đặc.
Bằng động tác dứt khoát đến khó tin ở người già, ông vung dải phù dó dài dằng dặc áp thẳng vào khoảng đê vỡ.
Khí ẩm nước lũ lập tức kích hoạt chu sa.
Mớ mực in lệch, in nhòe thuở nào bỗng rực lên ánh lam quang mỏng manh của trận Tụ Thủy, kết thành bức rèm sáng chắn ngang họng nước.
Nhưng áp lực từ con sóng đầu nguồn quất tới quá mạnh, những khớp giấy gài tạm kêu răng rắc, điểm nối giữa hai mô-đun then chốt phồng căng chực đứt toác.
Không chần chừ, bác Cả Khang xoay phắt người lại.
Ông lấy trọn tấm lưng gầy guộc đè nghiến lên chỗ nối, hai chân đạp sâu vào bùn lầy, gân cổ nổi cuồn cuộn để dùng chính da thịt mình làm cọc ghim giữ bức phù áp chặt vào bờ kè.
Dải phù vừa chịu tải liền kêu xèo xèo chói tai.
Ánh sáng xanh giật cục liên hồi, tia lửa đỏ lẹt xẹt bắn ra từ những nét vẽ không đều.
Mớ linh thạch nạp sẵn trong các hốc giấy nhanh chóng xám xịt rồi vỡ vụn thành bột trắng.
“Linh thạch!
Đăng, cổng âm môn sụt áp rồi!” Đỗ Cầm hét lớn giữa tiếng gầm của sóng.
Cô thợ đúc quỳ sụp xuống bùn ngập tới ngực, một tay giữ chặt mép bao cói, tay kia vốc từng nắm linh thạch vụn đưa tới.
Đăng lao sầm vào bên cạnh bác Cả Khang.
Cậu không màng nước lũ đang thúc từng đợt buốt nhói vào hông, ngón tay thoăn thoắt cạy phoi đá cũ đã cạn kiệt văng ra, nhét từng mảnh linh thạch mới vào các ổ kẹp đồng.
Cứ mỗi lần ánh phù chập chờn như ngọn đèn trước gió, Đăng và Cầm lại thay nhau nhét đá, miết thẳng từng thớ giấy dó đang oằn mình dưới sức ép ngàn cân.
Bàn tay Đăng tóe máu vì cạnh sắc đá vụn, nhưng cậu không dám lơi nửa nhịp thở.
Linh khí được tiếp ứng kịp thời lập tức tràn qua các mạch chu sa gập ghềnh.
Bức chắn Tụ Thủy bừng sáng, kết thành màng lực vững chãi.
Đợt sóng đỏ ngầu hung hãn đập sầm vào màn sáng vô hình rồi dội ngược lại, bọt nước tung trắng xóa.
Dưới sức đẩy của trận phù, dòng lũ bị bẻ gãy phương hướng, rẽ ngoặt theo đường rãnh nghiêng rồi ầm ầm đổ sang cánh ruộng trũng phía ngoài bãi sông.
Phía sau lưng họ, con đường vào xóm vẫn trơ nền gạch ướt, thoát nạn trong gang tấc.
Một con sóng lừng đen ngòm từ khúc sông ngoặt bất thần thúc mạnh vào mạn kè.
Sức nước ngàn cân dội thẳng vào lưng bác Cả Khang, đánh bật ông ra khỏi điểm tựa.
Tiếng rên tắc nghẹn chìm nghỉm giữa tiếng nước gầm thét khi thân hình gầy guộc bị dòng xoáy cuốn phăng, chới với trôi tuột về phía họng cống sâu hoắm.
“Bác Cả!”
Đăng thót tim, nhoài nửa người ra khoảng nước cuộn xiết.
Bàn tay cậu quờ quạng trong bọt nước sục sôi, chạm phải lớp vải thô ráp ướt sũng.
Cậu siết chặt lấy cổ áo the của ông già.
Lực kéo từ dòng lũ suýt nữa giật phăng cả Đăng lao theo.
Ngay lúc cậu sắp trượt chân, bàn tay thô ráp, chai sần vệt đầy than lò của Đỗ Cầm ập tới chụp chặt lấy thắt lưng Đăng, tay kia bám riết vào một cọc tre cắm kè.
Cầm nghiến chặt răng, gân cổ nổi rõ:
“Kéo!
Tao giữ được mày rồi!”
Hai đứa gồng hết sức bình sinh, gót chân đạp lún sâu vào lớp đất sét nhão.
Chúng giằng co sinh mạng người đứng đầu hội đồng kỳ mục với con nước dữ.
Chiếc cổ áo rách toạc một đường, nhưng Đăng không buông tay, cậu quàng cả cánh tay qua nách ông, cùng Cầm lôi giật ngược bác Cả Khang lên khỏi mặt nước đỏ ngầu.
Khi cả ba ngã vật ra dải cỏ may trên mặt đê, dòng lũ phía dưới vẫn réo ầm ầm qua dải phù chắn.
Bác Cả Khang nằm ngửa giữa bùn lầy, ngực phập phồng, từng ngụm nước đục ọc ra khóe miệng.
Cánh tay trái của ông buông thõng bất thường, gập lệch sang một bên ở khoảng giữa cẳng tay, xương gãy gồ lên dưới lớp da nhăn nheo nhợt nhạt.
Toàn thân ông run bần bật từng cơn.
Đôi môi mỏng thường ngày hay răn đe cau có giờ tím ngắt vì cóng buốt.
Đăng vội quỳ xuống, xé toạc một vạt áo toan nẹp cánh tay gãy cho ông.
Dường như cảm nhận được hơi ấm và sự va chạm, hàng mi bạc đẫm nước của bác Cả Khang khẽ giật rồi hé mở một khe nhỏ.
Đôi mắt trũng sâu đục mờ nhìn chằm chằm vào Đăng.
Đôi môi tím tái mấp máy nhọc nhằn, hơi thở đứt quãng, tanh nồng mùi phù sa.
Đăng ghé sát tai xuống râu cằm ướt rượt của ông.
Giữa tiếng mưa gió gầm rú, giọng lão lý trưởng khản đặc, thì thào từng tiếng nhát gừng:
“Thằng... ranh...
Cấm... cấm mày ghi vào sổ đinh... là tao... tao giúp mớ phù này...
Nghe chưa...
Làng mà biết... tao phạt vạ... ba quan...”
Lời chưa dứt, mí mắt ông đã nặng trĩu sụp xuống.
Đầu bác Cả Khang ngoẹo sang một bên, hơi thở mỏng manh dần, lả đi trong cơn mê man vì kiệt sức và cái lạnh thấu xương.
Đăng gượng đứng dậy trên mặt đê sũng nước, bùn non nhão nhoét bám chặt lấy ống quần rách tơi tả.
Gió lũ từ lòng sông Đáy thốc ngược lên quất ràn rạt vào lồng ngực đang phập phồng buốt buốt.
Cậu đưa tay quệt vội nước mưa nhòe nhoẹt trên mắt, ngẩng đầu nhìn về phía gò đền Mẫu.
Cảnh tượng đập vào đáy mắt khiến tim cậu thắt lại, như vừa trúng phải một cú giáng nghìn cân.
Cả gò đền giữa màn đêm mịt mùng đang bừng sáng một cách dữ dội và kỳ dị.
Dưới lớp đất đỏ phù sa và mạng rễ chằng chịt của những gốc đa cổ thụ, những dải vân đá thạch anh vốn chìm trong giấc ngủ ngàn năm bỗng rực lên sắc đỏ tươi như máu loãng.
Đất dưới chân gò cựa mình, rung lên từng chập âm ỉ qua thềm gạch Bát Tràng đã nứt toác.
Linh khí dưới lòng Yên Thái cuộn trào, va đập kịch liệt làm cho dòng lũ đỏ ngầu bao bọc bốn bề sôi sục, tung bọt trắng xóa cao ngang đầu gối.
Mạch linh tủy quê hương như đang bị một bàn tay vô hình thô bạo mổ xẻ, phát ra những tiếng u u ai oán dội ngược từ cõi sâu tăm tối.
Bao vây quanh chân gò, ba mươi sáu cỗ Lôi Hỏa Trận Đồ bằng sắt đen cắm ngập vào bùn đất như những mũi lao khổng lồ của một bầy quái thú cơ quan.
Những ống đồng lớn bằng thùng gánh nước ngửa họng thẳng lên trời, trên thân khắc chi chít những phù văn Trung Thổ phức tạp, chớp nháy từng vệt lôi điện màu tím ngắt chói lòa.
Mùi dầu khét và lưu huỳnh nồng nặc bốc lên cuồn cuộn, xé toang hơi mưa lạnh buốt của sông nước miền hạ.
Tiếng rít chói tai không ngừng gầm rú từ các họng đồng.
Đó không phải âm thanh bắn phá của hỏa pháo, mà là lực hút tàn bạo đang cưỡng ép hút từng dải hào quang đỏ rực từ các kẽ đá dưới chân đền bốc ngược lên trời, tụ lại thành ba mươi sáu cột sáng đỏ tía ma quái, đâm thẳng vào màn mây đen đặc như muốn xé toạc vòm trời.
Trên tầng không cao vút vượt khỏi tầm với của bất kỳ cánh diều nào, chín mươi chín đạo kiếm quang của Cửu Tiêu Kiếm Trận đang gầm thét xoay tít, kết thành một chiếc phễu ánh sáng khổng lồ úp chụp xuống cả vùng Yên Thái.
Đứng sừng sững ngay tâm điểm của lốc kiếm ấy là một bóng người đạp trên mũi cự kiếm bản rộng.
Trưởng lão Hạ Hầu Liệt khoanh tay sau lưng, tà áo bào thêu mây bạc lồng lộng bay trong bão gió.
Từ khoảng cách xa ngút ngàn, Đăng dường như vẫn cảm nhận được uy áp Kim Đan lạnh lùng rợn người tỏa ra từ ánh mắt của kẻ đứng trên đỉnh trời, một cái nhìn thản nhiên dửng dưng xem đền Mẫu và cả mảnh đất dưới chân chỉ là một mỏ quặng linh khí đang chờ ngày vét cạn.