Chương 18·16 phút đọc

Hai trận lũ cùng một đêm

✻

Gió sớm trên bãi sông còn đượm sương thì một chiếc phi chu viền bạc đã đáp xuống bãi dâu Yên Thái.

Người bước xuống mặc áo bào tím thêu phù văn chìm của Thái Hư Thánh Địa, thắt lưng đeo ba tấm Thiên Cơ Kính sáng loáng.

Ông ta không thèm nhìn đám thợ tò mò ngoài rào, sải bước thẳng vào sân xưởng, mắt sắc như dao cau lướt qua các dãy đèn trời đang hong gió.

Tô Mặc đang đo độ dày bản khắc gỗ thị, vừa thấy bóng người nọ thì sống lưng cứng đờ, buông cây thước đồng cạch một tiếng.

“Tô Mặc, ngươi trốn ở cái xó bùn đất này hơi lâu rồi đấy,” viên chấp sự cất giọng kim khí chói tai.

“Chuyện trộm bản vẽ lôi xa tông môn cũ tạm gác lại.

Thánh Địa cần ngươi mang toàn bộ đồ hình Thiên Đăng Võng về nộp.

Còn các vị ở đây...”

Ông ta quay sang Đăng, nhếch môi lạnh ngắt:

“Thánh Địa chuẩn bị sẵn ba ngàn thượng phẩm linh thạch cùng mười năm bao tiêu độc quyền.

Giao toàn bộ khuôn in, sơ đồ cổng phù và cách bố trí mắt đèn, Yên Thái các ngươi đời đời ấm no, không cần lội bùn vớt vỏ dó nữa.”

Tô Mặc bước lên nửa bước chắn trước Đăng, vẻ bồn chồn biến mất:

“Thái Hư Thánh Địa bán một khắc dùng Thiên Cơ Kính bằng tiền ăn cả năm của thợ giấy.

Các người muốn mua đèn này về để chặn dòng, thu phí như từng làm ở Trung Thổ sao?

Ta từng tưởng Thánh Địa tìm chân lý trận đạo, hóa ra chỉ tìm cách bịt mắt thiên hạ để đếm linh thạch.”

Viên chấp sự sầm mặt, linh áp lạnh buốt tỏa ra: “Kẻ phản đồ không có tư cách mở miệng.

Một lũ thợ quê mùa giữ thứ đồ chơi quá sức mình, sớm muộn cũng rước họa sát thân.”

Đăng thong thả phủi mẩu vụn gỗ trên tay áo.

Ba ngàn linh thạch đủ mua nửa cái huyện, nhưng cái vẻ trịch thượng kia khiến cậu gai mắt.

Đăng bước lên, nhấc bổng hộp truyền âm bằng đồng nối với ngọn đèn trung tâm:

“Thứ này làng tôi cùng Đúc Thượng, Hồ Khê, Vọng Nguyệt làm ra để người dưới sông trên bến gọi nhau lúc tối trời lỡ bước.

Nó không phải đồ chơi, càng không phải hàng để bán đứt.”

“Ngu xuẩn,” viên chấp sự gằn giọng, tay lần vào ống áo.

“Thánh Địa đã muốn, há có chuyện không thành?

Để xem các ngươi giữ bí mật thế nào trước Kim Đan trận.”

“Bí mật gì cơ?” Đăng nhướng mày.

Ngay trước mắt ông ta, Đăng ghé sát miệng vào phễu đồng, gạt mạnh chốt âm dương.

Đèn lồng trên cao chớp sáng liên hồi theo từng nhịp:

“Bãi Sáo nghe rõ, Kim Lũng nghe rõ, Hồ Khê nghe rõ!

Bản dập mộc bản của phù nhịp mười hai cổng và tỷ lệ khung nan tam giác, tôi đọc qua đường truyền đây, các bác bảo thợ đem mực chép lại rồi khắc ngay lên ván thị mà in!

Bắt đầu từ nét móc Thoải phủ mạn tây...”

Đăng đọc rành rọt từng tọa độ, tiếng nói vang theo chuỗi đèn lồng, truyền vút qua sông, rền rĩ bay xa tít tắp về phía các ngọn gió Nam Việt.

Sắc mặt viên chấp sự từ trịch thượng chuyển sang trắng bệch rồi tím ngắt; thứ kỹ thuật Thánh Địa toan mua độc quyền, chỉ trong một chớp mắt, đã thành tài sản chung của hàng ngàn người thợ khắp đồng bằng.

Tin từ thượng nguồn đổ về dồn dập qua mạng đèn.

Tiếng các ông thủ nhang bên Thác Bờ, Hưng Hóa chập chờn lẫn trong tạp âm: mưa như trút ba ngày ba đêm không ngớt ở đỉnh rừng, nước khe tuôn xối xả làm vỡ hàng loạt bờ kè đá, đất đỏ ngầu cuộn thành từng đợt sóng cao ngang ngọn dâu.

Đăng chạy vội lên gò đền Mẫu.

Dưới chân cột gỗ lim góc tây điện thờ, bà Ba Thoải đang ngồi xổm, ngón tay gầy guộc miết dọc theo từng ngấn khắc đã ngả màu rêu phong.

Đó là những vết đánh dấu các trận đại hồng thủy cụ cố cụ kỵ truyền lại, cạnh mỗi vạch đều có một chữ Nôm khắc sâu: Giáp Tý, Bính Thìn, Mậu Thân.

“Đèn số chín mươi lăm báo nước đã chạm bậc tam cấp đền Ghềnh,” Đăng thở hổn hển, rút thỏi than củi kẹp bên vành tai, giở mảnh giấy dó ghi chép cữ nước từng dặm.

“Từ Thác Bờ xuôi về bến Yên Thái chừng hơn sáu mươi dặm đường sông.

Dòng chảy xiết gấp ba ngày thường...”

Cậu quỳ một gối xuống nền gạch, vạch từng nét than lia lịa, tính độ dốc linh mạch kết hợp với lưu tốc con nước mà Tô Mặc vừa đo được sáng nay:

“Không quá hai ngày nữa.

Chậm nhất rạng sáng ngày kia, lũ dữ sẽ tràn qua mặt đê Yên Thái.

Lần này sẽ ngập lút nóc nhà.”

Bà Ba Thoải đứng dậy, nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu.

Bà nhìn những ngấn mực cổ rồi nhìn sang mảnh giấy chằng chịt con số của Đăng, giọng trầm thấp:

“Năm Mậu Thân nước cũng đỏ quạch như thế.

Đợt ấy cả vùng trôi mất non nửa làng, trâu bò chết mắc tít trên ngọn gạo.

Đi gọi lý trưởng đi.”

Nhưng giữa sân đình Yên Thái, gió sông mới chỉ thổi hiu hiu làm lay nhẹ mấy tán bàng.

Bác Cả Khang đang ngồi trên sập gỗ trước gian tiền tế, tay cầm quạt nan phe phẩy, trước mặt là mấy vị kỳ mục đang thong thả nhấp trà sen.

Nghe Đăng vừa thở vừa kể một hơi, mặt bác Cả sầm lại quàu quạu.

“Bậy nào!” Bác Cả đập bẹp chiếc quạt nan xuống mặt sập.

“Trời quang mây tạnh, ngọn cỏ đầu đê còn chưa buồn rạp, anh lại về đây hô hoán làm kinh động xóm làng là cớ làm sao?”

“Cháu tính theo giờ nước từ mạn ngược truyền về qua đèn trời...”

“Lại mấy cái đèn giấy!” Bác Cả trợn mắt, chòm râu rung rinh vẻ bực bội.

“Mấy cái nan tre dán giấy lơ lửng trên trời biết cái quái gì chuyện đất trời sông nước?

Mấy mươi năm tao làm lý trưởng đất này, chỉ có trông trời trông đất, nhìn kiến chuyển tổ, chuồn chuồn bay thấp bay cao mới biết mưa rào.

Đằng này anh nghe mấy tiếng vo ve trong cái ống rỗng rồi đòi dọn cả đình, dời cả tượng Mẫu đi trốn lũ?”

Mấy ông trùm, bác tuần xung quanh cũng xầm xì gật gù, vẻ ái ngại nhìn Đăng.

“Bác Cả, đợi mưa tới đây thì chân đê vỡ mất rồi!” Đăng sốt ruột bước lên, giơ mảnh giấy tính toán ra trước mặt hội đồng kỳ mục.

“Anh im ngay!” Bác Cả Khang đứng phắt dậy, chỉ tay thẳng ra cổng đình.

“Đình đền là nơi tổ tiên ngự, đất Yên Thái này sống nhờ lộc Mẫu, chết chôn chân rộc.

Chưa có giọt nước nào liếm qua mép bến mà đòi bỏ đình bỏ đền tháo chạy cho thiên hạ người ta cười vào mặt à?

Đứa nào dám nhốn nháo thu dọn đồ đạc, tao phạt vạ ba quan tiền nộp vào quỹ tuần đinh!”

Bị bác Cả Khang mắng đuổi khỏi sân đình, Đăng lầm lũi quay về xưởng giấy ven sông.

Đỗ Cầm đang cùng Tô Mặc kiểm tra lại các mối hàn trên chiếc hộp thu tín hiệu đặt trên chõng tre.

Thấy vẻ mặt hằm hằm của cậu, cô thợ đúc khẽ lắc đầu, quệt vệt muội than trên má:

“Lại bị các cụ dọa phạt vạ chứ gì?

Lòng sông cạn khô thế kia, bảo làng dọn nhà lên đồi thì ai mà tin cho được.”

“Nước mạn ngược đổ về đâu có đợi người ta tin,” Đăng càu nhàu, vừa định ngồi xuống thì chiếc hộp đồng trước mặt bỗng run lên bần bật.

Lá bùa cảm ứng dán trên mặt hộp lóe sáng chập chờn, phát ra tiếng xè xè như mỡ sôi.

Kim chỉ nam bằng đồng quay tít mù rồi giật giật chỉ về phía bờ bắc sông Đáy—nơi tiền tiêu của đám đệ tử Thiên Kiếm Tông mấy tháng nay vẫn lăm le án ngữ.

“Mắt đèn số mười bảy rớt xuống bãi sậy bờ bắc rồi,” Tô Mặc ghé mắt nhìn la bàn trận pháp, tay gảy vội mấy con tính.

“Chắc do gió quẩn kéo đứt dây neo, nhưng cổng thu âm chưa hỏng.

Đang bắt được linh ba rất mạnh... hình như là kiếm khí.”

Đăng vội áp tai vào chiếc phễu bằng đồng thau.

Tiếng rít của gió và tiếng cỏ lau cọ vào khung nan tre lạo xạo truyền tới.

Giữa những tạp âm hỗn loạn ấy, một giọng quen thuộc đứt quãng cất lên:

“Đăng... có phải Đăng đấy không?

Có nghe thấy không?”

Đăng giật mình, nhận ra ngay chất giọng run rẩy của Bạch Viễn—cậu thiếu niên chân truyền Thiên Kiếm Tông từng lén trốn đi ăn bánh đa cua dạo nọ.

Cậu vội gạt chốt âm dương:

“Bạch Viễn!

Tôi nghe đây!

Cậu đang ở đâu?”

“Suỵt... nói nhỏ thôi, tôi nhặt được cái đèn này trong bụi rậm...” Giọng Bạch Viễn dồn dập, thở không ra hơi, dường như đang phải vừa nói vừa canh chừng chung quanh.

“Nghe cho kỹ đây!

Trưởng lão Hạ Hầu Liệt biết tin lũ đầu nguồn sắp tràn về rồi.

Lão bảo trời giúp lão, nhân lúc làng các cậu lo chạy lũ hỗn loạn, lão sẽ vượt sông đánh thẳng vào gò đền Mẫu ngay trong đêm lũ!”

Đăng siết chặt vành phễu đồng, lạnh cả sống lưng: “Lão dám nhân lúc người ta gặp nạn mà cướp sao?”

“Lão không quan tâm phàm nhân sống chết thế nào đâu!” Tiếng Bạch Viễn gấp gáp, xen lẫn tiếng kim loại va nhau lách cách từ đằng xa vọng lại.

“Lần này lão mang theo Cửu Tiêu Kiếm Trận lớn nhất từ trước tới nay, dốc toàn bộ đệ tử Kim Đan cùng ba mươi sáu khẩu Lôi Hỏa Trận Đồ.

Lão quyết tâm phá tung linh mạch dưới đền để rút sạch linh tủy mang về Trung Thổ.

Trốn đi, Đăng ơi, làng các cậu không cản nổi kiếm trận đâu...”

Một tiếng quát tháo đanh gọn từ bờ bên kia vang lên át cả giọng cậu: * “Kẻ nào lén lút ngoài bãi dâu?”*

“Tôi phải đi rồi...” Tiếng Bạch Viễn hốt hoảng, kế đó là một tiếng *rắc* khô khốc khi nan tre bị bẻ gãy.

Đầu bên kia chỉ còn lại tiếng ù ù vô tận của gió sông.

Đăng từ từ buông phễu đồng xuống mặt bàn.

Cậu ngẩng lên nhìn Tô Mặc và Đỗ Cầm.

Gió ngoài bãi dâu bắt đầu đổi chiều, mang theo hơi ẩm nồng nặc và mùi tanh nồng của phù sa thượng nguồn.

Lũ dữ đã cận kề, mà lưỡi kiếm của kẻ thù cũng đã tuốt khỏi bao ngay trên đầu ngọn sóng.

Đăng quay ngoắt lại bàn trận, hai tay gạt phắt các chốt đồng trên hộp cộng hưởng.

Dưới áp lực khí tức dồn về, cuộn dây đồng quanh lõi từ rền rĩ tiếng vo vo, kéo căng màng giấy dó trong phễu truyền âm.

“Đỗ Cầm, nạp thêm chu sa vào khay kích mạch!

Tô Mặc, mở hết các cổng âm mạn xuôi!” Đăng áp sát miệng vào phễu đồng, giọng đanh lại: “Bãi Sáo, Kim Lũng, Đúc Thượng, Hồ Khê nghe rõ!

Nước đỏ Thác Bờ đã vượt ngấn ba!

Chỉ nội trong đêm nay lũ dữ sẽ tràn tới.

Kè đá không giữ nổi đâu, các làng mau đưa người cùng gia súc lên bãi cao, dỡ đồ nghề lên gác ngay!”

Cậu gõ cần đồng nhắc lại ba lần như trống thúc.

Chỉ mấy khắc sau, từ phễu đồng thau vang lên tiếng gió rít lẫn âm thanh nhốn nháo từ phương nam.

Giọng cụ trùm Du bên Bãi Sáo khàn đặc dội về: * “Nhận rõ rồi!

Lũ trẻ đang dắt trâu lên đồi Đống Gai, bọn ta tháo khung diều cất lên xà đây!”* Tiếp đó là tiếng ông thợ cả Kim Lũng quát lớn át tiếng bễ lò ràn rạt: * “Kim Lũng nghe rồi!

Đang khiêng đe búa với quặng sắt lên chùa Cao, đàn bà con nít đã đi trước!”*

Không dùng dằng như các cụ kỳ mục Yên Thái, những làng nghề hạ lưu từng nếm mùi chìm thuyền mất xưởng lập tức hành động như cỗ máy vào guồng.

Thấy các làng đã kịp sơ tán, Đăng thở hắt ra, toan bàn với Tô Mặc chuyện kiếm tu bên bờ bắc thì ngoài ngõ xưởng đã vang lên tiếng gậy gõ lộc cộc quen thuộc.

Bố cậu—ông Phan Lộc—đang chống chiếc gậy tre đực, tay kia nách hai thếp giấy dó bản đại dày cộp, lặc lè bước cà nhắc qua bậu cửa.

Đôi ống quần cộc của ông vẫn bê bết bùn non ngoài bể ngâm dướng.

“Bố!

Chân đang đau, ai mượn bố ra đây khuân vác thế này?” Đăng vội chạy lại đỡ lấy thếp giấy.

Ông Lộc quệt mồ hôi trán, nhe răng cười tỉnh queo như thể chẳng có trận hồng thủy nào sắp tới:

“Anh tướng mã của tôi ơi, tôi không khuân thì để mấy trăm tờ giấy lụa ngâm nước thành cháo dó à?

Nước sông Đáy chứ có phải canh riêu cua đâu mà định để nó tráng xưởng?”

Ông hất hàm về căn gác xép ọp ẹp bằng gỗ xoan trên mái:

“Đỡ nốt chỗ này vần lên xà hộ tôi.

Cái thân già này ngâm nước khéo lại nở thêm vài lạng thịt, chứ đống giấy của anh mà ướt thì lấy đâu ra dán đèn dán sáo cho thiên hạ nghe anh hò hét?”

Nhìn dáng đi xiêu vẹo mà vững chãi của bố, nghe câu đùa tếu táo mộc mạc, tảng đá đè nặng ngực Đăng dường như nứt ra một kẽ hở.

Cậu ôm chặt đống giấy thơm mùi vỏ cây vào lòng, khẽ dạ một tiếng rồi thoăn thoắt leo lên thang tre.

Ngoài trời, từng đám mây đen kịt như mực tàu từ mạn ngược bắt đầu ùn ùn kéo tới, đè nặng lên rặng tre xanh.

Nửa đêm, trời đất như sụp xuống.

Mưa không còn rơi thành hạt mà quất ràn rạt thành từng tấm màn trắng xóa, giội ầm ầm lên mái ngói, quật tơi bời những rặng tre ven bến.

Dưới chân đê, tiếng nước sông réo sôi lục bục, đục ngầu phù sa, dâng lên nhanh đến mức mắt thường cũng thấy mép nước ngoạm dần từng bậc đá.

Dân làng Yên Thái bấy giờ mới hoảng loạn bồng bế con cái, dắt díu lợn gà lục tục kéo lên bãi gò cao quanh đền Mẫu trú ngụ.

Đăng ướt sũng từ đầu đến chân, nước mưa chảy cay xè khóe mắt.

Cậu cùng Đỗ Cầm và Tô Mặc chằng néo lại mấy tấm bạt gai che tạm cho đống đồ nghề và đám người già con trẻ đang co ro tránh rét.

Tiếng trẻ con khóc thét lẫn trong tiếng thở dốc của người lớn nhốn nháo cả một góc đồi.

“Kỳ mục điểm danh xem còn sót nhà nào dưới xóm ngoài không!” Ông Phan Lộc đứng dưới mái hiên đền, chống gậy hô lớn át tiếng gió.

“Ủa, bác Cả đâu rồi?” Tiếng thím Tám bỗng thất thanh vang lên giữa đám đông.

“Lúc nãy nước mấp mé chân rào, tôi còn thấy bác ấy đứng ngoài điếm tuần cơ mà!”

Đăng giật thót người, vội buông đầu dây thừng, đảo mắt tìm khắp một lượt quanh gò đền.

Giữa hàng trăm con người đang chen chúc dưới bóng đa và các chái nhà thờ họ, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng chiếc áo lương thâm quen thuộc, cũng chẳng có tiếng quát tháo quàu quạu như mọi ngày.

Mấy ông tuần đinh nhìn nhau trân trân, người nọ ngó người kia rồi cùng lắc đầu lúng túng.

Nơi sơ tán không một ai thấy bác Cả Khang đâu cả.

Chưa kịp cất tiếng gọi tìm, một tiếng nổ trầm đục rung chuyển cả mặt đất dội lên từ khúc sông cong.

Trên nền trời đen kịt mù mịt nước rưới, chiếc đèn trời treo cao nhất trên chỏm ngọn đa cổ thụ bỗng chao đảo dữ dội.

Mạch phù văn khắc nhịp điệu trên thân đèn gặp phải áp lực linh khí khổng lồ từ con nước lũ cuộn dâng bèn tức khắc đổi chiều, ngọn lửa vàng ấm áp trong chớp mắt chuyển sang một quầng sáng đỏ rực, chói gắt như máu.

Rồi như một vệt lửa bén trên đồng cỏ khô, từ bến đò Yên Thái sang làng Đúc Thượng bên kia sông, xuôi tít tắp về phía Bãi Sáo và Kim Lũng, hàng trăm chiếc đèn lồng treo dọc theo mạng Thiên Đăng Võng đồng loạt rực lên sắc đỏ báo động.

Cả vòm trời đêm mịt mùng bỗng bừng sáng bởi một chuỗi huyết quang dài dằng dặc, uốn lượn như một con rồng lửa đang oằn mình cảnh báo dòng thác dữ đã tràn qua mặt đê.

Và ngay trong khoảnh khắc mạng đèn đỏ rực trời ấy, từ bên kia bờ bắc sông Đáy, một tiếng hú dài xé toạc màn mưa.

Hàng chục đạo kiếm quang sắc lạnh, sáng lóa mắt đồng loạt bùng lên, rít gào xé gió vượt qua dòng nước đỏ ngầu cuồn cuộn, hung hãn lao thẳng về phía gò đền Yên Thái.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương