Mùi gỗ mít quyện với khói trầm thơm ngát đón Phan Đăng ngay khi cậu vừa bước qua ngưỡng cửa bức bàn đền Mẫu.
Gian tiền tế vắng ngắt, chỉ có tiếng chổi đót của bà Ba Thoải xào xạc quét từng đám lá đa rụng ngoài thềm.
Chiếc áo the nâu sồng của bà bay nhè nhẹ theo làn gió ẩm thổi từ mạn sông lên.
Đăng đứng chần chừ dưới bóng cây thị già, hai tay mân mê gấu áo chàm lấm lem bụi than.
Cậu bước tới gần chân hương án, hít một hơi thật sâu rồi cúi đầu, giọng lí nhí:
“Bà Ba... con lên xin bà một việc.”
Bà Ba dừng chổi, quét nốt vài chiếc lá cuối cùng gom vào góc sân rồi mới quay sang nhìn cậu.
Đôi mắt bà sâu thẳm, phẳng lặng như mặt nước giếng làng lúc sớm mai:
“Chuyện cái đèn nổ tối qua còn chưa làm mày sợ à?”
Mặt Đăng nóng bừng.
Cậu nhớ lại tiếng nổ toác của chiếc đèn rách bươm và luồng năng lượng giằng xé dữ dội dọc phiến đá cổ dưới hầm.
Càng nhớ, cậu càng thấy xấu hổ.
“Con... con biết lỗi rồi ạ,” Đăng gãi đầu, ngón tay bấu chặt mép chiếu cói.
“Trước đây con nông nổi quá.
Cậy học mót được mấy cái cổng âm dương bên Trung Thổ rồi nghĩ người làng mình chỉ mê tín, đàn ca sáo nhị rỗi hơi.
Con cứ tưởng hầu đồng chỉ là dâng lễ cầu may, không ngờ các cụ ngày xưa gửi cả cách vận mạch vào đấy...”
Bà Ba tựa cán chổi vào cột gỗ, khóe môi hơi nhếch lên.
Ánh mắt bà dường như không có chút phật ý nào, nom như thể người lớn đã kiên nhẫn đợi đứa trẻ bướng bỉnh tự mình ngộ ra điều ấy từ rất lâu.
“Biết cúi đầu là chưa muộn,” bà Ba thong thả bước lại gần sập gỗ, với lấy miếng trầu têm cánh phượng đặt vào cơi đồng.
“Linh khí xứ Nam này không phải thứ để người ta ép vào khuôn đúc như con Cầm đúc chuông, cũng chẳng phải mớ con số khô queo của cậu Tô.
Nó sống, nó thở, nó có nhịp điệu của nó.”
“Dạ,” mắt Đăng sáng lên, cậu bước dấn thêm một bước.
“Thế... bà mở cho con một canh hầu được không ạ?
Con muốn xem cái mạng lệch giá nó xoay vần thế nào.”
Bà Ba liếc Đăng một cái, giọng nghiêm lại:
“Mở một canh hầu đâu phải trò đùa con trẻ.
Lòng không tịnh, thánh không giáng, mạch không thông.
Tao cho phép mở đàn, nhưng cấm tiệt mày táy máy dây đồng, que sắt làm kinh động nơi cửa Mẫu.
Đêm nay, mày chỉ được ngồi nép một góc cạnh cung văn thôi.”
Bà hất cằm về phía chiếc trống bản bịt da trâu đã mòn bóng treo bên góc cột:
“Không ghi chép, không bấm độn.
Ngồi cạnh bác trùm mà dỏng tai lên, học cho thuộc cách đếm từng nhịp trống.
Đếm không xong nhịp gõ thì cả đời mày cũng đừng hòng hiểu được tiếng đất thở.”
Đêm buông xuống, đền Mẫu bừng lên ánh nến sáp ong vàng óng cùng làn khói trầm.
Tuân đúng lời dặn, Đăng nép sau cột lim cạnh cung văn, còn Tô Mặc ngồi thụp bên cạnh, gài từng khung phù cảm biến dọc đường vân đá chạy từ mép hương án ra thềm.
Những vệt chu sa trên giấy dó khẽ phập phồng như đang thở.
Tiếng đàn nguyệt so dây réo rắt vang lên, rồi một tiếng “tum” trầm đục nổ giòn trên mặt da trâu, xé toang tĩnh mịch.
Bà Ba Thoải ngồi giữa sập, trùm tấm khăn điều đỏ thắm, lắc lư theo từng hồi tụng niệm.
Khi khăn điều mở ra ở giá Quan Lớn, bác trùm gõ dồn dập, dùi trống thúc liên hồi như lũ tràn bờ.
Dưới chân Đăng, đường vân đá bỗng rực lên một làn lam quang yếu ớt.
Chiếc kim trên phù cảm biến giật nảy tanh tách, vệt sáng xanh nhảy chồm chồm theo từng tiếng “tum... cắc... tum”.
Tô Mặc mở to mắt nhìn trân trân: tần số linh mạch đang uốn mình chạy hệt theo nhịp gõ của dùi trống.
Bà Ba thoăn thoắt múa đôi kiếm gỗ, vạt áo lướt gió phần phật.
Đăng dán mắt vào kẽ đá, tim đập thình thịch.
Cứ mỗi lần đổi giá, nhịp trống chầu văn lại biến hóa khôn lường.
Sang giá Chầu Bà, nhịp gõ rập rình, phóng khoáng như gió qua khe núi; dòng năng lượng trong vân đá lập tức chùng xuống, lượn sóng mềm mại.
Đến giá Cô, giá Cậu, phách trống chuyển sang nhịp ba lí lắc rộn rã, linh khí cũng phân nhánh li ti, chớp tắt liên tục như bầy đom đóm rủ nhau bay dọc rãnh đá.
Rồi tiếng hát văn chợt lắng lại, trang nghiêm và sâu thẳm khi bước vào giá Mẫu.
Tiếng trống không còn thúc giục mà chuyển sang nhịp trầm hùng, khoan thai, mỗi tiếng gõ cách nhau một khoảng ngân dài tựa nhịp thở của đất trời.
Kỳ diệu thay, luồng linh khí chực làm toác cả đèn trời tối qua bỗng ngoan ngoãn dịu xuống.
Tia sáng xanh gắt gỏng trong vân đá chuyển dần sang màu trắng bạc trong vắt, êm ả trải dài dọc kẽ nứt.
Chu sa trên phù cảm biến không còn rung giật, mà sáng đều đặn, phẳng lặng tựa mặt hồ không gợn sóng.
Đăng ngẩng nhìn dáng bà Ba giữa làn khói hương mờ ảo, lòng trào dâng niềm thán phục khôn cùng.
Tổ tiên làng mình không hề chế ngự linh mạch bằng bạo lực hay cấm chế; họ trò chuyện với dòng chảy đất trời bằng chính lời ca và nhịp phách.
Khi canh hầu khép lại trong làn sương sớm bảng lảng, Đăng vẫn ngồi chết trân bên chiếc trống bản.
Đầu óc cậu quay cuồng với từng âm thanh vừa lắng xuống.
Hóa ra chẳng có sự thần bí vô căn cứ nào ở đây cả.
Tổ tiên ngàn năm trước đã tìm ra cách điều biến dòng chảy đất trời mà không cần tới đan lô hay pháp trận đắt đỏ của Trung Thổ.
Thứ tự ba mươi sáu giá đồng không hề ngẫu nhiên: nhịp trống dồn dập của Quan Lớn kích mở mạch ngầm, phách rập rình của Chầu Bà uốn nắn dòng chảy, điệu múa vui tươi của Cô, Cậu tản nhỏ xung lực, rồi nhịp trầm hùng, khoan thai của giá Mẫu khóa chặt và ổn định toàn bộ linh mạch.
Từng tiếng “tum, cắc, tùng, dinh” chính là nhịp gõ điều hòa, giữ cho năng lượng không vượt ngưỡng mà vỡ toác.
“Đã vỡ ra chưa?” Giọng bà Ba Thoải vang lên bên sập gỗ, mộc mạc mà như rọi thẳng vào lòng Đăng.
“Con hiểu rồi bà ạ!” Đăng bật dậy, mắt sáng quắc.
Cậu lôi vội xấp giấy dó dày và quản bút lông thỏ ra trải lên mặt chiếu.
“Người xưa mượn tiếng trống để dắt linh khí đi đúng đường!
Nếu con chép lại được nhịp phách này thành mạch dẫn, đèn trời sẽ tự biết thở theo đất mẹ!”
Bà Ba nhìn cậu, khẽ gật đầu.
Dưới ánh bình minh le lói qua kẽ liếp, bà chậm rãi đọc lại từng nhịp gõ, từng phách lơi, phách dồn của bài ca văn cổ.
Đăng nín thở, ngọn bút thoăn thoắt trên mặt giấy.
Tiếng “tum” trầm đục hóa thành nét móc đậm mang tính âm giữ nhịp; tiếng “cắc” giòn tan biến thành nét chấm mảnh mang tính dương dẫn lối.
Dưới tay cậu, những nốt nhạc dân gian dần hiển hiện thành một hệ thống vân mạch kỳ ảo chưa từng có trong sách vở tông môn: một lá “phù nhịp”.
Mực vừa ráo, Đăng cuộn chặt xấp bản thảo, chào bà Ba rồi cắm đầu chạy một mạch sang làng tranh Hồ Khê bên kia rặng tre.
Xưởng tranh của bác thợ Cả sớm nay nồng đượm mùi gỗ thị tươi và mùn cưa.
Thấy Đăng thở không ra hơi chìa ra những nét vẽ uốn lượn như sóng nước mà rành mạch từng đốt phách, bác Cả nheo mắt nhìn một hồi rồi vỗ đùi đánh “đét”:
“Tưởng gì lạ, chứ nét khắc rập rình này thợ Hồ Khê tao nhắm mắt cũng gọt được!
Mày muốn khắc bao nhiêu bản?”
“Dạ, khắc ngay cho cháu một bộ mộc bản gỗ thị thật chuẩn, nét phải đều tăm tắp như nhịp trống!” Đăng hổn hển đáp.
Chẳng mấy chốc, tiếng đục, tiếng vồ lách cách đã vang rộn khắp gian xưởng.
Dưới đôi bàn tay chai sần khéo léo của thợ làng Hồ, từng nhịp chầu văn cổ xưa của đền Mẫu bắt đầu hằn sâu vào thớ gỗ, sẵn sàng in ra hàng trăm, hàng ngàn lá phù điều nhịp cho đất trời xứ Nam.
Hoàng hôn buông đỏ ối trên ngọn đa đầu làng, sân đình Yên Thái chật ních người già trẻ nhỏ.
Một trăm chiếc đèn trời dán giấy dó in phù nhịp mới tinh, mang khung nan tam giác của thợ Vọng Nguyệt, xếp thẳng tắp dọc sân gạch.
Khi Đăng cùng nhóm thợ châm lửa vào bùi nhùi ủ mỡ rái cá, những khối lồng giấy căng phồng lên, rực rỡ như những quả cầu lửa.
Cả trăm cánh tay cùng buông ra.
Đăng ngửa mặt nhìn lên, tim đập rộn ràng.
Từng chiếc đèn chao nghiêng đón gió rồi vút lên cao, bay thành một dải dài tít tắp về phía rặng mây chiều.
Nhờ những vệt chu sa mang nhịp trống chầu văn điều hòa dòng chảy, không một chiếc nào bị giật hay xì khói.
Chúng neo mình giữa tầng không, nối nhau bằng những sợi quang lấp lánh như vệt đom đóm giăng ngang trời, tỏa ra thứ ánh sáng vàng dịu êm.
“Sáng đều rồi!
Kìa, đứng im một dải rồi!” Đỗ Cầm reo to, đập mạnh vào vai Đăng một cái đau điếng.
Trên hương án đình làng, lá phù truyền âm trung tâm kết nối với mạng đèn bắt đầu rung khe khẽ, phát ra tiếng vo ve trầm ấm.
Dân làng nín thở xúm quanh, các cụ kỳ mục vuốt chòm râu bạc, mắt dán chặt vào tấm phù.
Thằng Tí nãy giờ lượn qua lượn lại sốt ruột, thấy Đăng gật đầu liền nhảy tót lên bậc thềm.
Cậu nhóc chụm hai bàn tay lem luốc quanh mép lá phù, hít một hơi căng lồng ngực rồi hét tướng lên:
“Cụ trùm Du ơi!
Diều cụ đứt dây bay sang bụi tre làng con rồi kìa!”
Cả sân đình im phăng phắc.
Đăng ghé sát tai vào mặt giấy dó, cảm nhận từng làn sóng âm dập dềnh truyền đi giữa thinh không.
Một thoáng im lặng trôi qua, rồi mặt phù đột ngột rung lên bần bật.
Từ trong phiến giấy, một giọng nói ồm ồm khàn đặc khói thuốc lào vang lên rành rọt khắp gian tiền tế:
“Thằng ranh con nhà nào đấy!
Mày trù ẻo cái diều đại của tao đấy à?
Cụ mà túm được thì cụ cắt buồi bôi vôi nhớ!”
Tiếng mắng chửi quen thuộc của cụ trùm Du làng diều Bãi Sáo cách xa hơn mười dặm vọng lại rõ mồn một, như thể lão đang đứng chống nạnh ngay giữa sân đình.
Thằng Tí giật bắn người rụt cổ lại, còn cả sân đình Yên Thái thì vỡ òa tiếng cười nghiêng ngả.
Ông Lộc cười sặc sụa đến rơi cả điếu bát, còn Cả Khang đứng chống gậy một góc cũng không nén nổi tiếng cười khùng khục trong cổ họng.
Giữa những tràng cười râm ran của xóm làng, Đăng nhìn lên bầu trời rực sáng đèn hoa, thấy lồng ngực ấm áp và nhẹ bẫng như cánh diều no gió.
Tiếng cười vừa dứt, quản sự Vạn Thông lách qua đám đông bước tới, mắt đảo liên hồi giữa phiến phù và dải đèn sáng rực trên không trung.
“Để ta thử xem nào,” lão hắng giọng.
“Nếu truyền được báo giá chuyến vải vụn sang chi điếm Hồ Khê cho lão Trương thì mới gọi là nên trò.”
Đăng lùi lại nửa bước nhường chỗ.
Lão ghé sát mặt phù, đọc rành rọt số lượng cùng giá tiền.
Chỉ vài nhịp thở sau, phiến phù rung nhẹ rồi phát ra giọng một tay chấp sự Hồ Khê lanh lảnh xác nhận đơn hàng, không sót một chữ.
Lão quản sự giật giật khóe môi, vô thức sờ vào bọc áo nơi cất chiếc Thiên Cơ Kính vốn mỗi lần gõ tin là ngốn đứt cả chục linh thạch vụn.
Giờ đây, chỉ nhờ mấy chiếc lồng đèn nương gió và vài nét mực in tranh gỗ, cả một bản tin buôn bán dài dằng dặc đã qua sông mà chẳng tốn lấy nửa cắc linh khí.
“Trời đất ơi... không tốn một hạt bụi linh thạch...” Lão lẩm bẩm, mắt dán chặt vào mặt giấy dó như muốn nuốt chửng.
Đám đông chẳng để lão chiếm chỗ lâu, tiếng reo hò lập tức ùa tới:
“Đến lượt tao!
Tránh ra cho tao hỏi thăm con Mận bên Đúc Thượng xem đẻ đái thế nào rồi!”
“Bác dặn thằng cu Lớn bên Kim Lũng rèn hộ cái lưỡi cày bắp với!”
Bà con chen nhau lên thềm đình, rồng rắn xếp hàng sau lưng Đăng, ai nấy háo hức chờ tới lượt được ghé miệng vào lá phù.
Những lời hỏi han mộc mạc, tiếng giục giã, tiếng cười đùa cứ thế bay vút lên cao, chuyền từ chiếc đèn này sang chiếc đèn khác, dệt nên dải âm thanh ấm áp vắt ngang trời đêm xứ đồng.
Dưới mái hiên, Cả Khang vuốt chòm râu, nhìn dải đèn lơ lửng rồi quay sang nhóm Đăng:
“Cái phép này nối liền làng trên xóm dưới, đẹp chẳng kém gì sao sa.
Hợp tác xã mình phải đặt cho nó một cái tên ra tấm ra miếng chứ nhỉ?”
Đỗ Cầm quệt vệt nhọ trên má, cười toe:
“Gọi là Mạng Đèn Trời đi!”
“Nghe quê mùa quá,” Tô Mặc lắc đầu, khóe mắt ánh lên nét thán phục hiếm hoi.
“Trăm chiếc đèn giăng trên tầng mây, dệt thành tấm lưới linh khí truyền tin khắp các phủ...
Chi bằng gọi là Thiên Đăng Võng.”
“Thiên Đăng Võng!” Đăng lặp lại, lòng rộn rã niềm tự hào khó tả.
Cậu nhìn dòng người đang râm ran trò chuyện bên hương án, cảm thấy tấm lưới đèn ấy không chỉ nối những làng nghề với nhau, mà dường như đang ôm trọn lấy cả mảnh đất này.
Gà gáy canh năm le te cất tiếng bên xóm Đông.
Gió bấc kéo về mang theo làn sương mù đặc quánh, lạnh buốt thấu qua lớp áo nâu sồng đẫm mồ hôi của Đăng.
Dân làng sau một đêm hò reo mệt lử đã lục tục kéo nhau về ngủ gà gật, sân đình chỉ còn vương vãi tàn tro bùi nhùi và những chén trà đã nguội ngắt.
Đỗ Cầm ngồi bó gối tựa lưng vào chân cột lim, mí mắt trĩu nặng nhưng miệng vẫn tủm tỉm cười.
Trên nền trời nhập nhoạng nửa tối nửa sáng, dải Thiên Đăng Võng vẫn bền bỉ treo mình giữa tầng không, tựa như một chuỗi ngọc vàng mờ ảo xuyên qua màn sương mù.
Đăng ngồi xếp bằng bên mép hương án, cẩn thận dùng que đóm gạt bớt muội than trên bát hương.
Bỗng nhiên, phiến phù truyền âm trung tâm giật nảy lên.
Không còn là tiếng ngân nga êm ả như lúc nửa đêm, mặt giấy dó in phù nhịp rung bần bật, phát ra những tiếng “xè xè” chói tai tựa như có ai đang cào móng tay trên mặt đá nhám.
Tô Mặc đang gà gật bỗng choàng tỉnh, vội vã chụm ngón tay bấm độn rồi nhìn trân trân vào la bàn đồng đặt bên cạnh:
“Chiếc đèn số một trăm...
Đèn xa nhất ở tận đền Thoải phủ mạn Thác Bờ!”
Đăng vội nhoài người tới, áp sát tai vào mặt phù.
Tim cậu thắt lại khi nghe thấy những tạp âm rợn người truyền về qua thinh không: tiếng gió rít gầm rú dữ dội, và lẫn trong đó là tiếng ầm ào cuồn cuộn của thác lũ đang vặn mình xé toang bờ bãi.
Âm thanh ấy hung hãn đến mức làm rung cả những hạt bụi bám trên mép giấy.
Rồi từ trong lòng phiến phù, một giọng đàn ông khàn đặc, hoảng loạn đến lạc cả đi vang lên giữa gian tiền tế vắng ngắt:
“Có ai nghe thấy không?
Yên Thái...
Làng gốm, làng giấy... có ai đang bắt được tiếng không?!”
Đăng nín thở, chụm tay hét vội vào tâm phù:
“Có!
Yên Thái đây!
Bác là ai?”
“Tôi là thủ nhang đền Thoải mạn Thác Bờ đây!” Tiếng thở dốc hồng hộc lẫn trong tiếng nước réo réo rắt bên tai.
“Báo ngay cho các làng dưới xuôi phòng bị!
Nước sông... nước sông đang dâng nhanh bất thường!
Trời không hề mưa một hạt mà nước đỏ ngầu từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về như vỡ đập!
Nước dựng đứng thành từng ngọn sóng, đã ngập trắng chân kiệu Mẫu rồi!
Nhanh lên, nước đang tràn xuống hạ lưu đấy...”
Tiếng thét tắt ngấm bởi một tràng rào rào chói gắt, rồi mặt phù lịm đi, chỉ còn lại tiếng ù ù lạnh lẽo của gió sớm.
Đăng sững sờ ngẩng lên.
Dưới ánh bình minh nhợt nhạt đang rạch đôi chân trời, dải đèn trời xa tít tắp ở mạn ngược dường như đang chao đảo ngả nghiêng trước một cơn cuồng nộ vô hình vừa ập đến từ cội nguồn con nước.