Làng Vọng Nguyệt đón ba người bằng mùi dầu trẩu nồng đượm và bạt ngàn những khung tre uốn tròn đang phơi dọc triền đê.
Khác với vẻ lách cách đe búa bên làng rèn hay tiếng cối giã dó dồn dập ở Yên Thái, làng đèn phẳng lặng như tờ, chỉ có tiếng dao rọc giấy lướt soạt soạt trên mặt phản gỗ.
Đăng đặt bó giấy dó loại mỏng dai cùng phiến mộc bản khắc sẵn đồ hình truyền âm phù lên bàn thợ của ông Cả Nhâm, người thợ làm lồng đèn kỳ cựu nhất làng.
Cạnh cậu, Đỗ Cầm khoanh tay đứng cạnh một bọc kẹp chì và then nhiệt bằng đồng thau mỏng tang, còn Tô Mặc thì cẩn thận đặt xuống nghiên chu sa pha bột thạch anh mịn.
“Giấy này vừa dai vừa nhẹ, gió trên cao giật mấy cũng không rách,” Đăng gõ ngón tay lên mép gỗ bản in, chỉ vào những đường rãnh ngoằn ngoèo đã được khắc ngược tinh xảo.
“Còn mộc bản này là cổng âm dương dẫn tiếng động.
Chỉ cần quét chu sa, dập một phát lên vách lồng đèn, chèn mẩu linh thạch vụn vào rãnh then đồng của chị Cầm là xong cái miệng nói.”
Ông Cả Nhâm nheo mắt nhìn đường rãnh mực đỏ, ngón tay thô ráp lần theo từng nét khắc thẳng thớm như thợ may sờ nếp áo.
Ông ngẩng lên nhìn Đăng, ánh mắt dường như còn chút ngờ vực lẫn dè chừng vốn có của phường thợ:
“Cậu Đăng mang thứ bí truyền này sang, muốn đổi bao nhiêu tiền đèn?”
“Cháu không lấy tiền,” Đăng cười xòa.
“Cháu cần đèn trời của các bác.
Nhưng không phải loại đèn bay nửa tuần hương rớt xuống ruộng bấc lụi tàn, mà phải là loại bay cao tít, giữ lửa cháy đều suốt ba bốn canh giờ không tắt.”
Mấy thợ phụ đứng quanh xì xào, dường như cho rằng ba đứa trẻ con đang đòi chuyện viển vông.
Nhưng ông Cả Nhâm chỉ trầm ngâm giây lát rồi vỗ đùi đánh đét một cái.
Ông kéo từ dưới gầm phản ra một bó nan tre mảnh như sợi tăm nhưng dẻo quánh, cùng một hũ mỡ đặc quánh màu cánh gián.
Theo lời ông chỉ, bí quyết giữ lửa không nằm ở lượng bấc mà ở bùi nhùi rơm nếp ủ mỡ rái cá trộn nhựa thông, cháy riu riu không khói mà sinh nhiệt cực đều.
Khung nan phải vót theo lối tam giác lồng, nhẹ tênh nhưng giữ cho miệng đèn luôn hứng trọn luồng khí ấm bốc lên để tự cân bằng giữa gió tầng cao.
Ông tận tay vót cho Đăng xem một chiếc nan mẫu, tỉ mỉ gọt từng mắt tre sao cho trọng lượng hai đầu đều tăm tắp.
Khi chiếc lồng đèn mẫu đầu tiên dán xong bằng giấy dó Yên Thái, nhẹ đến mức chỉ cần một hơi thở mạnh cũng chao đi, ông Cả Nhâm mới đứng thẳng lưng, ngập ngừng nhìn cuốn sổ tay bìa bọc da mà Đăng luôn mang theo bên hông.
“Nghe nói bên đình Yên Thái có cuốn sổ chung ghi tên các phường thợ?” Ông hỏi, giọng rụt rè hơn hẳn.
“Làng Vọng Nguyệt chúng tôi... liệu có được góp tên vào một góc không?”
Đăng nhìn sang Cầm, thấy cô gái làng đúc mỉm cười khẽ gật đầu, còn Tô Mặc thì lặng lẽ mài thêm mực.
Cậu mở rộng trang giấy dó, chìa bút lông về phía người thợ cả làng đèn:
“Hợp tác xã Nam Việt còn trống hẳn một trang chờ thợ đèn Vọng Nguyệt điểm chỉ đấy ạ.”
Bãi đất bồi ven đê Vọng Nguyệt lộng gió sông.
Bùi nhùi ngấm mỡ rái cá bén lửa xoè, tỏa mùi nhựa thông ngai ngái trong hơi nóng rừng rực.
Khung đèn tre căng phồng lớp giấy dó mỏng, đỏ rực như bọc than hồng trôi lơ lửng.
Đỗ Cầm dùng kìm bấm chốt then đồng vào mép đáy lồng đèn.
Mẩu linh thạch vụn bằng hạt ngô non ép chặt giữa hai lá đồng mỏng tang, lập tức khiến những đường chu sa in trên vách giấy ửng lên ánh đỏ đều đặn.
“Được rồi đấy,” Cầm lau vệt muội than trên má.
“Thả đi xem miệng nó nói được tới đâu.”
Đăng buông tay.
Chiếc đèn trời nhẹ bẫng bốc lên không trung, nương theo gió đông nam vút xa về phía hạ lưu sông Đáy.
Cậu áp chặt mảnh phù thu âm gắn phễu đồng nhỏ vào tai, ngón tay giữ nhẹ then nhiệt để đóng mạch.
Cách đó một dặm, Tô Mặc đã cưỡi ngựa dọc bờ đê, mang theo chiếc phễu đồng đối ứng.
“Mặc huynh!
Nghe rõ không?” Đăng gí sát miệng vào phiến mộc bản cầm tay, cao giọng gọi.
Một thoáng im lặng trôi qua, chỉ có tiếng gió rít.
Rồi từ lòng phễu, giọng Tô Mặc dội về rành rọt đến mức mấy bác thợ già Vọng Nguyệt đứng sau Đăng phải giật bắn người:
“Rõ mồn một.
Ta đang ở điếm canh đê số một, đèn bay ngang đỉnh đầu, cao chừng ba mươi trượng.”
Đăng và Cầm nhìn nhau mỉm cười.
Chiếc đèn lướt êm ru giữa tầng không, mạch chu sa không hề bị gió giật làm đứt gãy.
Nhịp rung của ngọn lửa dường như còn giúp giữ cho luồng linh khí qua then đồng thêm ổn định.
Nhưng khi chiếc đèn trôi qua bến đò Cầu Lim rồi chạm tới mốc dặm thứ hai, âm thanh bắt đầu biến đổi.
“Đang... qua rặng tre... rào rào...” Tiếng Tô Mặc bắt đầu lẫn những tiếng lẹt xẹt như củi ướt ném vào bếp lò.
“Gió lớn làm lệch mạch chăng?” Đỗ Cầm sốt ruột ghé sát tai vào mép phễu.
“Không phải do gió,” Đăng nheo mắt dõi theo đốm lửa lúc này chỉ còn như hạt đỗ.
Mắt thường nhìn không thấu linh khí, nhưng ngón tay giữ then đồng cảm nhận rất rõ: luồng rung ấm áp truyền từ mẩu linh thạch vụn đang nguội đi nhanh chóng.
Đến ranh giới dặm thứ ba, lướt qua ngọn cây gạo đầu làng bên, tiếng Tô Mặc chỉ còn khè khè nghẹt thở:
“Rè... không... nghe... tạch...”
Một tiếng tanh tách khô khốc vang lên bên trong phễu đồng, rồi tất cả chìm vào im lặng.
Chiếc đèn trời vẫn no gió bay tít tắp, bùi nhùi vẫn đỏ lửa, nhưng mạch âm thanh đã ngắt ngấm.
Đăng thở hắt ra, hạ chiếc phễu đồng xuống.
“Hết đà rồi,” cậu khẽ lắc đầu.
“Mộc bản in rất chuẩn, giấy dó giữ nhiệt tốt.
Nhưng mẩu linh thạch vụn bé quá, sức đẩy chẳng bõ dính răng.
Đẩy tiếng nói đi được ba dặm đường gió là cạn kiệt linh lực rồi.”
Cầm khoanh tay, nhìn chiếc đèn trôi dần thành một chấm nhỏ xíu trên nền mây mù, giọng thoáng chút hậm hực: “Chẳng lẽ lại phải mua linh thạch nguyên viên của Vạn Thông?
Cả làng bán hết lúa cũng không nuôi nổi mười chiếc đèn như thế.”
Kho giấy cũ của nhà Đăng vẫn vương mùi bột dó ngâm vôi chua nồng và bụi mùn cưa mục.
Cậu quỳ rạp xuống nền đất nện, dùng tay áo gạt sạch lớp xơ bương vương vãi để lộ ra phiến đá xám nhẵn thín nằm sát góc kho.
Rãnh đá chìm sâu chừng nửa đốt ngón tay, thẳng thớm lạ thường, miết ngón trỏ vào lòng rãnh chỉ thấy lạnh ngắt như chạm vào sắt nguội.
Đăng ghé mắt nhìn: vệt rãnh không dừng lại ở mép đá mà ăn ngầm xuống lớp đất sét vàng, xuyên qua chân tường gạch mộc rồi chạy tuột ra sau vườn.
Cậu cầm que tre gạt đất, cẩn thận lần theo vệt cỏ mọc xanh đậm hơn hẳn bình thường.
Vệt nứt mờ luồn lách qua bụi tre gai ken dày, men bờ mương rêu phong rồi đâm thẳng lên gò cao phía tây làng — nơi mái ngói đền Mẫu lẩn khuất dưới bóng đa già.
Mùi trầm hương bài quyện với hơi nước bảng lảng quanh sân đền vắng ngắt.
Tiếng chổi tre quét lá lẹt xẹt bỗng dừng bặt khi Đăng vừa bước chân qua ngưỡng cửa bức bàn.
Bà Ba Thoải đứng cạnh cột cái, manh áo nâu sồng buông thõng, chống cán chổi nhìn cậu trân trân.
Ánh mắt bà nghiêm nghị, sâu thẳm như giếng nước mùa đông, dường như chẳng hề bất ngờ trước sự xuất hiện của cậu thiếu niên lấm lem bùn đất ở hai đầu gối.
“Tìm thấy đường rồi à?” Bà Ba hỏi, giọng khẽ khàng mà rành rọt át cả tiếng gió xào xạc ngoài hiên.
Đăng khẽ gật đầu, ngón tay vẫn còn giữ một mẩu than nhặt ven đường: “Nó chạy thẳng từ kho nhà cháu lên tận chân bệ thờ, bà ạ.
Không phải rãnh nước, cũng chẳng giống hang dế.”
Bà Ba không đáp, chỉ khẽ thở dài một tiếng khô khốc rồi quay người bước về phía hậu cung tối om.
Đăng vội vàng bước theo sau.
Không gian bên trong tĩnh mịch lạ thường, ngọn đèn dầu lạc leo lét trên ban thờ chỉ đủ rọi sáng những tệp tiền vàng và đôi hạc đồng phủ lớp bụi mờ.
Bà Ba cúi người, dùng gót chân gạt mép chiếc chiếu cói dệt hoa điều đã sờn rách sau hương án.
Bên dưới lộ ra nắp hầm ghép bằng ba tấm ván lim dày cộp, đóng chốt đồng gỉ xanh.
Bà thò tay nhấc then cài, kéo bật nắp hầm lên.
Một luồng hơi ẩm lạnh buốt xộc thẳng lên, mang theo mùi của đá ướt ngàn năm và sự râm ran kỳ lạ khiến lông tơ trên cánh tay cậu dựng đứng cả lên.
“Muốn nhìn thì nhìn cho rõ,” bà Ba thắp một cây đuốc con bằng bùi nhùi nứa, cắm vào khe tường đá cạnh bậc tam cấp hẹp, giọng đanh lại: “Nhưng nhớ lấy lời tao: chỉ được nhìn bằng mắt, cấm tiệt không được đào bới lung tung.
Động vào gốc rễ dưới này, cả cái làng Yên Thái không gánh nổi đâu.”
Đăng nén hơi thở, men theo bốn bậc đá ẩm ướt bước xuống hầm.
Gian hầm chỉ rộng chừng một gian nhà lá, trần cuốn bằng đá ong, nhưng chiếm trọn bức tường trung tâm lại là một phiến bia đá xanh xám khổng lồ, cao ngập đầu người.
Mặt bia không hề khắc bất kỳ chữ Nôm hay chữ Hán nào.
Đập vào mắt Đăng là chi chít những đường vân chìm nổi uốn lượn, đan bện vào nhau như tấm lưới nhện khổng lồ.
Có những đường chạy thẳng tắp sắc lẹm, lại có nút giao phình to ra như mắt củ gừng rồi tỏa nhánh đi bốn phương tám hướng.
Những đường rãnh ấy nhẵn bóng, sâu hoắm, tựa hồ từng có dòng nước vô hình cuồn cuộn chảy qua suốt hàng trăm năm mà bào mòn thành hình.
Tô Mặc bước xuống hầm sau tiếng gọi khẽ của Đăng, mang theo một bó que tính bằng tre cật, chiếc la kinh nhỏ và cuộn giấy vẽ hải trình mà hắn từng đổi được từ đám lái buôn sông nước.
Vừa nhìn thấy mặt bia, đôi mắt gã cựu đệ tử Thiên Kiếm Tông liền sáng rực lên, vẻ mệt mỏi sau chuyến đi làng đèn tan biến sạch trơn.
Hắn quỳ sụp xuống cạnh Đăng, ngón tay run run lần theo từng đường rãnh đá nhẵn thín.
Một tay cầm que tính gõ nhịp lách cách trên nền đá, tay kia thoăn thoắt chấm mực, ghi lại những con số góc độ và khoảng cách tương quan giữa các mắt nút.
“Kỳ lạ thật...” Tô Mặc lẩm bẩm, trán lấm tấm mồ hôi dù gian hầm lạnh toát.
“Độ dốc của các đường rãnh này đều tăm tắp, cứ ba tấc lại có một điểm trũng khép kín, hệt như cổng âm dương để hãm dòng khí.”
Hắn trải rộng tấm bản đồ hành trình của cánh phu bè mảng và phường lái gỗ lên nền đất, đặt sát cạnh chân bia đá.
Đăng ghé mắt nhìn theo ngón tay trỏ đen nhẻm vì mực của Tô Mặc.
Cậu nhận ra ngay điểm giao nhau lớn nhất ở góc dưới bên phải phiến đá: một nút tròn có ba vòng vân đồng tâm, từ đó tỏa ra một đường rãnh cạn chạy thẳng tắp ra hướng cửa hầm — chính là đường dẫn xuyên qua rặng tre về kho giấy nhà cậu.
“Đây là đền Mẫu làng Yên Thái,” Tô Mặc gõ nhẹ đầu que tính vào điểm đó, rồi lia thẳng lên phía trên cùng của phiến bia.
“Nếu quy đổi theo tỷ lệ bước chân của lái buôn, đường vân vút thẳng lên hướng bắc này dẫn thẳng tới đỉnh núi cao nhất xứ Đoài.
Đó là nơi ngự của đền Thượng, thuộc về Thiên phủ.”
Hắn lại rà ngón tay sang nhánh uốn lượn ngoằn ngoèo men theo mép trái phiến đá:
“Nhánh này chạy song song với dòng sông Lô, ngược lên tận vùng thác ghềnh hiểm trở nơi ngã ba sông ngầm.
Đó là đền Thác Bờ, cái nôi của Thoải phủ.
Thảo nào gã quản sự Vạn Thông bảo nước ở đầu nguồn dâng lên kỳ dị cùng lúc Thiên Cơ Kính tắt ngấm.
Mạch nước và mạch đá này vốn ăn liền một dải.”
“Còn vệt chằng chịt đâm sâu vào mạn đông nam này?” Đăng nheo mắt chỉ vào một chùm vân ken dày như rễ cây cổ thụ.
“Đó là rừng rậm phương Nam, vùng đất của Nhạc phủ,” Tô Mặc ngẩng lên nhìn Đăng, ánh mắt vừa bàng hoàng vừa thán phục như thể vừa nhìn thấu một bí mật tày trời.
“Đăng này, đây tuyệt đối không phải là tranh thờ hay bùa chú trấn yểm vu vơ.
Toàn bộ bốn phủ Thiên, Địa, Thoải, Nhạc thời cổ xưa thực chất là một mạng trận pháp khổng lồ trải khắp Nam Việt.
Các tiền nhân không dùng linh thạch để chôn dưới đất như Trung Thổ, mà họ dùng chính những dải đá vân tự nhiên này làm dây dẫn, biến cả non sông thành một cái khung trận khép kín.”
Đăng đưa tay sờ vào phiến đá, cảm nhận rõ rệt từng xung động tê rần chạy qua đầu ngón tay.
Lâu nay, dân làng chỉ biết đền Mẫu là nơi xin lộc, cầu an, cúng tế ngày rằm; chẳng một ai ngờ rằng bên dưới lớp chiếu cói và chân hương tàn lại là điểm đấu nối của một mạng lưới truyền dẫn năng lượng vĩ đại đến nhường này.
Dây dẫn đã có sẵn dưới chân, dài hàng trăm dặm, chỉ chờ có người biết cách mở khóa mà thôi.
Đăng rút từ trong đãy ra chiếc đèn trời nhỏ cỡ cái giành tích, khung vót bằng nan tre làng Vọng Nguyệt, vách dán giấy dó Yên Thái đã in sẵn mạch chu sa.
Cậu lôi thêm một sợi dây đồng mảnh do Đỗ Cầm tự tay kéo sợi, một đầu bấm then kẹp, đầu kia vuốt nhọn như mũi kim.
“Thử cắm vào xem sao,” Đăng khẽ thì thào, tim đập thình thịch trong lồng ngực.
“Nếu đây là dây dẫn khổng lồ, cần gì phải tốn linh thạch mua của bọn Vạn Thông nữa.”
Tô Mặc nín thở lùi lại nửa bước, mắt dán chặt vào từng động tác của Đăng.
Đăng quỳ một chân xuống nền đất, cẩn thận cắm mũi kim đồng ngập vào chính giữa tâm của ba vòng vân đồng tâm trên phiến đá.
Đầu dây còn lại, cậu kẹp chặt vào then đón linh khí ở vành đáy đèn trời rồi thắp bùi nhùi nứa lên.
Chiếc đèn khẽ đội gió bốc lên, sợi dây đồng căng ra như dây néo diều.
Trong một chớp mắt, Đăng ngỡ như mình đã chạm tới điều kỳ diệu: không cần một hạt linh thạch nào, những nét chu sa trên mặt giấy dó bỗng bừng sáng sắc đỏ thắm.
Tiếng xèo xèo ấm áp vang lên trong then nhiệt, miệng phễu đồng rung lên nhè nhẹ như sắp phát ra tiếng nói.
Nhưng niềm vui chưa kịp nở đã vụt tắt.
Từ lòng phiến đá xám, luồng năng lượng truyền lên sợi dây đồng không hề êm ả như dòng chảy từ linh thạch.
Nó giật từng cơn dữ dội, hỗn loạn như sóng vỗ chân đê mùa lũ.
Lúc thì ánh sáng đỏ rực chói lòa, lúc lại lịm đi chỉ còn tia le lói, nhấp nháy điên cuồng theo từng nhịp thở ngắt quãng.
Chiếc đèn trời trên đầu sợi neo chao đảo kịch liệt.
Khung nan tre kêu răng rắc dưới sức giằng xé vô hình.
Đăng cảm giác như có hai ba dòng nước ngược chiều cùng lúc xộc vào thân đèn, nghiền nát cấu trúc cân bằng mà ông Cả Nhâm đã dày công tính toán.
“Rút ra!
Đăng, ngắt mạch mau!” Tô Mặc hét lên, giơ tay che mắt.
Đăng toan giật mạnh sợi dây neo, nhưng đã quá muộn.
Một tiếng “bụp” khô khốc vang lên từ vành đáy.
Then nhiệt nóng đỏ rồi chảy quắt lại, ngọn lửa từ bùi nhùi bốc ngược lên táp thẳng vào vách giấy dó quá tải linh khí.
Toàn bộ chiếc đèn bùng lên thành một quả cầu lửa đỏ rực, chao lượn một vòng rồi nổ tung thành muôn vàn mảnh tàn than rực cháy.
Hơi nóng phả rát mặt Đăng.
Cậu ngồi thụp xuống nền đất ẩm, ngơ ngẩn nhìn những đốm lửa tàn rơi lả tả xuống vũng nước dưới chân bia đá.
Sợi dây đồng của Cầm cháy đen thui, xoăn tít lại khét lẹt.
Những vệt vân đá dưới chân cậu vẫn rung lên nhè nhẹ từng đợt ngắt quãng, lạnh buốt mà bướng bỉnh, như một con ngựa bất kham không chịu để ai ghìm cương.
Bà Ba Thoải từ đầu cầu thang đá chậm rãi bước xuống.
Tà áo nâu sồng phất phơ trong làn khói dầu trẩu cay xè.
Bà chẳng hề giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên trước đống tro tàn đang bốc khói mỏng dưới chân.
Bà dừng lại cạnh phiến bia, đưa mắt nhìn những vụn than đen rơi vãi trên rãnh đá, chỉ nói:
“Lâu rồi không ai chầu, mạng lệch giá rồi.”