Chương 15·16 phút đọc

Đàn diều biết né người

✻

Khói nhang trầm trong đình Yên Thái hôm nay đặc quánh, quyện mùi mồ hôi của cánh thợ thuyền năm làng ngồi chật ba gian gỗ.

Chiếu cạp điều bày ở gian giữa, nơi tề tựu những người thợ cả: bác thợ rèn Kim Lũng bắp tay cuồn cuộn, bác thợ in Hồ Khê ngón tay lem mực, bác trùm diều Bãi Sáo ngậm tẩu, Đỗ Cầm đại diện bên Đúc Thượng, cùng các cụ kỳ mục do bác Cả Khang dẫn đầu.

Đăng đứng giữa chiếu, đặt mạnh cuốn sổ đóng bằng giấy dó dày cộp xuống phản.

Mùi vỏ dướng tươi tỏa ra hăng nồng.

“Năm ngày nữa kiếm trận của đối phương khóa kín khúc sông,” Đăng dõng dạc, dù lòng bàn tay hơi rịn mồ hôi.

“Họ có trận pháp bạc vạn, ta chỉ có nghề tay chân.

Nhưng nếu Yên Thái xeo giấy bọc khí, Bãi Sáo vót nan, Đúc Thượng đúc khóa, Kim Lũng tôi then nhiệt, rồi Hồ Khê in vệt chu sa dẫn mạch... năm làng gom lại thành một hợp tác xã.

Quan trọng nhất, mọi kích thước, cách pha hồ chu sa hay góc vót nan sẽ chép thẳng vào cuốn sổ này.

Đặt ở đình, ai vào đọc cũng được, làng nào cũng được học.”

“Càn rỡ!”

Bác Cả Khang đập rầm xuống chiếu làm chén nước chè chao đảo.

Chòm râu ông rung bần bật:

“Mày định phá nếp cũ hả Đăng?

Nghề tổ Yên Thái giấu như giấu vàng, nay mày mang phơi cho thiên hạ coi?

Rồi làng khác cướp bát cơm thì sao?

Các ông đừng nghe thằng ranh này dụ dỗ!”

“Bác Cả nói thế không đúng,” Đỗ Cầm khoanh tay đứng dậy, nhìn thẳng vào ông.

“Đúc Thượng giữ nghề đúc đồng mấy trăm năm, nay sông bị chặn cát không chở về được, lò nguội ngắt thì ôm bí truyền húp cháo à?

Tôi chịu góp thợ đúc then đồng!”

“Phải đấy,” bác thợ cả Kim Lũng ồm ồm lên tiếng.

“Một mình làng rèn làm cái then mỏng dính chẳng để làm gì nếu thiếu giấy phù.

Gom lại mới nên chuyện.”

Bác thợ in Hồ Khê gõ cối tẩu: “Hồ Khê in nghìn tờ tranh một buổi, in vài trăm mạch bùa dẫn khí có khó gì?

Tôi theo.”

Cả gian đình xôn xao, những cánh tay thô ráp lần lượt giơ lên tán đồng.

Thấy thợ các làng đều ngả về phía Đăng, bác Cả Khang thở hồng hộc, mặt đỏ gay.

Đến lúc tờ giao ước chung của hợp tác xã trải ra để điểm chỉ, bác Cả Khang đứng phắt dậy, hừ một tiếng thật nặng rồi bước thẳng ra thềm đình.

Nhưng ông không hô hoán tuần đinh, cũng chẳng buông một lời cấm đoán.

Bóng ông lủi thủi khuất dần sau ngõ, bỏ lại sau lưng tiếng bàn tán rộn ràng bắt đầu bùng lên.

Những ngày sau đó, cả khúc sông như biến thành một đại công trường không ngủ.

Tiếng lò bễ làng rèn Kim Lũng thụt phì phò, búa đập choang choang suốt sáng đêm để tôi những lá then nhiệt mỏng tanh như cuống lúa, bền dẻo mà nhạy bén với từng tia nhiệt linh khí.

Bên kia sông, Đỗ Cầm mặt mũi lem nhem mồ hôi lẫn muội than, thoăn thoắt rót từng muôi đồng lỏng vào khuôn cát mịn màng; từng vốc khóa đồng nhỏ xíu, tròn lẳn và bóng loáng rơi ra lách cách vào chậu nước lạnh, tiếng xèo xèo bốc khói nghi ngút.

Thuyền bè từ Hồ Khê chở sang từng sọt bản khắc gỗ cùng thùng chu sa thơm mùi nhựa thông.

Thợ in Hồ Khê trải từng thếp giấy dó Yên Thái vừa ráo nước, tay ấn con lăn dập cồm cộp đều như gõ mõ.

Mỗi vệt mực chu sa in xuống phẳng phiu, liền mạch từ đầu tới đuôi, không đứt gãy lấy nửa sợi tơ.

Trong khi đó, các cụ làng diều Bãi Sáo ngồi ken nan bên hiên đình, lưỡi dao cau vót cật tre ngọt sớt, dũa từng cái ngàm để gá khóa đồng sao cho ăn khớp tới từng ly.

Đăng chạy như con thoi giữa các góc sân.

Các linh kiện từ bốn phương đổ về, xếp từng chồng ngay ngắn: nan tre, then nhiệt, khóa đồng, mặt phù chu sa.

Ráp một con diều tự hành bỗng hóa thành việc dễ dàng đến lạ lùng, cánh thanh niên phàm nhân chỉ cần nhìn bản vẽ mẫu dán trên cột đình là tay thoăn thoắt lồng then, buộc nẹp, chẳng cần đợi thầy phù niệm chú hay tu sĩ truyền linh lực.

Đêm thứ tư, dưới ánh đèn dầu vặn to hết bấc ở gian giữa đình làng, Đăng ngồi nắn nót giở cuốn sổ bìa dướng.

Thằng Tí bên cạnh lon ton bưng từng bộ cánh đã hoàn chỉnh đặt lên chiếc cân xách nhỏ của phường thợ bạc.

Đăng nhìn vạch cân đung đưa rồi cúi xuống tính toán từng khoản chi: xơ dướng làng mình bỏ công xeo, chút bột chu sa in dập hàng loạt, mẩu đồng Đúc Thượng tận dụng từ quặng xỉ, và lá then thép Kim Lũng mỏng dính.

Cậu chấm mực, viết một dòng dõng dạc vào trang sổ chung: một con diều tự hành hoàn chỉnh chỉ ngốn đúng ba đồng kẽm tiền vật liệu.

Đắt hơn con diều sáo bồi hồ nếp ngày hội làng một chút xíu, nhưng cầm trên tay lại nhẹ bẫng hơn hẳn, gió thoảng qua cũng đủ nâng bổng lên trời.

Đăng vuốt nhẹ lên thớ giấy dó dai mịn phủ kín mạng chu sa, nghe tiếng lách cách rất khẽ của then nhiệt vừa đóng ngàm, lòng khẽ rung lên niềm tin rộn rã.

Sáng ngày thứ năm, khúc sông Đáy bỗng lặng ngắt như tờ, sương mù bị luồng áp lực lạnh buốt xé toạc.

Dọc bãi bồi phía bờ bắc, bảy cây cột đá xanh cắm sâu vào lòng cát, phù triện trên thân đá tỏa ánh tím biếc ma quái.

Màn khí của Tỏa Thần trận giăng kín mặt sông, đè nặng xuống nước khiến từng gợn sóng cũng không dâng lên nổi, không khí quanh bờ đặc quánh làm đám trai làng sau lưng Đăng phải há miệng thở dốc.

Đăng quỳ một chân trên bãi cỏ ven đê, tay kiểm tra dãy diều xếp đều tăm tắp.

Chín mươi con diều giấy dó Yên Thái, nan tre Bãi Sáo, bụng gá then nhiệt Kim Lũng và khóa đồng Đúc Thượng, khắp mặt cánh in đỏ au mạch chu sa Hồ Khê.

Cậu không hề điều động mảy may linh lực trong đan điền, cũng chẳng phóng ra nửa sợi thần thức.

Bàn tay Đăng thoăn thoắt gạt từng lẫy khóa cơ học, để ngõ vào âm môn hé mở tự nhiên trong gió.

“Thả nào!” Đăng quay lại quát to.

Mấy chục bàn tay thợ thuyền đồng loạt buông dây.

Gió sông Đáy thốc mạnh từ mé nam, nâng bổng chín mươi cánh diều vút lên không trung.

Đàn diều chao nghiêng vài nhịp.

Nhưng khi luồng linh khí nồng nặc từ trận pháp tràn qua, những vệt chu sa trên lưng diều bỗng đỏ rực như than hồng.

Bản thân Tỏa Thần trận chính là nguồn pin khổng lồ kích hoạt hệ thống.

Mạch logic tự hành lập tức lật chuyển, ngõ nạp khí bị áp suất tâm trận hút chặt.

Đàn diều như bầy ong khát mật, không cần ai dẫn lối, tự động rẽ gió lao vút về nơi linh áp đậm đặc nhất: bảy cột đá xanh.

Đăng nín thở ngước nhìn.

Tiếng then nhiệt đóng mở lách cách trên tầng không, vang rền như tiếng gõ mõ tre ngày hội.

Con diều đầu tiên chúi mũi lao thẳng xuống cây cột đá gần nhất, khóa đồng va chạm kéo theo mạch xả bộc phát một tia chớp chói lòa.

Ngay sau đó, mười con, hai mươi con nối đuôi nhau rầm rập bổ nhào.

Từng tiếng “oành” khô khốc nổ ran giữa bãi cát.

Cột đá thứ nhất rung bần bật rồi toác ra đường nứt sâu hoắm.

Đàn diều đổi hướng cực nhanh, con sau tránh con trước theo luồng khí tản, liên tiếp nện vào khớp nối linh mạch của sáu cột còn lại.

Tiếng đá nứt toác “rắc rắc” vang lừng.

Cột thứ ba gãy đôi, cột thứ năm vỡ vụn chân đế.

Màn sáng tím ngắt giăng trên sông Đáy giật liên hồi như dải lụa bị xé rách, chớp tắt hỗn loạn rồi vỡ òa thành muôn ngàn đốm tàn tro li ti, tan biến sạch trơn vào cơn gió sớm.

Sáu cột đá đã đổ sập, chỉ còn lại cây cột đá xanh thứ bảy nằm sát mép nước bờ bắc.

Thân cột nứt toác một đường dài, ánh phù văn bên trong thoi thóp níu giữ chút tàn dư kiếm trận.

Trên tầng không, con diều tự hành cuối cùng bẻ lái, cánh dó rung bần bật trong gió lộng, cắm thẳng mũi lao xuống mục tiêu sót lại.

Đúng lúc ấy, từ phía doanh trại đối phương, một bóng người áo xanh phi vân vụt lao ra.

Đó là một thiếu niên trạc tuổi Đăng, trên ngực áo thêu kiếm ngân cùng ngọc bài khắc hai chữ “Bạch Viễn”.

Cậu ta không tuốt kiếm, cũng chẳng vận hộ thể linh quang, mà dang rộng hai tay chắn trước cột đá nứt nẻ.

Mặt cậu trắng bệch vì linh áp đè nén, nhưng hai chân cắm chặt xuống bãi cát như muốn dùng thân mình giữ lấy thể diện cuối cùng của tông môn.

Tim Đăng thắt lại.

Cậu chồm người về phía trước, siết chặt bờ cỏ.

Con diều đang lao xuống xé gió, khóa đồng nhọn hoắt hướng thẳng vào ngực thiếu niên.

Dù không mang linh lực, cú đâm từ trên cao vẫn thừa sức đục thủng lồng ngực một đệ tử Luyện Khí.

Đăng muốn hét lên nhưng sông quá rộng, gió bấc nghẹn ứ cổ họng.

Chỉ còn cách Bạch Viễn chừng ba thước, hơi ấm thân nhiệt bốc lên hòa vào luồng khí xoáy.

Một tiếng “tách” giòn tan vang lên.

Lá then nhiệt Kim Lũng chạm ngưỡng ba mươi sáu độ liền bật cong, sập mạnh vào ngàm hãm.

Khóa đồng nhả chốt, luồng chu sa trên mặt giấy dó bị ngắt ngọt xớt ở hai giao điểm âm môn.

Mất lực kéo từ tâm trận, con diều khựng lại giữa không trung.

Nan tre Bãi Sáo lảo đảo hai nhịp rồi êm ả rơi bẹp xuống cát ẩm, nằm im sát mũi giày Bạch Viễn.

Không một tia chớp, chẳng có tiếng nổ nào.

Bạch Viễn đứng chết trân một thoáng.

Cậu cúi nhìn mũi giày, rồi từ từ quỳ một gối nhặt con diều lên.

Ngón tay cậu lướt qua thớ dướng thô ráp lem mực in, chạm vào chiếc then thép mỏng tang đang nguội dần.

Thiếu niên ngẩng đầu nhìn qua làn sương mỏng trên mặt sông, thẳng về bờ nam.

Dưới ánh nắng sớm hắt qua rặng tre Yên Thái, Đăng đứng giữa đám thợ áo nâu, hai bên nhìn rõ từng nét mặt của nhau.

Bạch Viễn cẩn thận ôm con diều vào ngực, lùi lại nửa bước rồi khép tay, cúi gập người hành kiếm lễ trang trọng về phía những người thợ bên sông.

Đoạn, cậu quay gót, rảo bước theo đoàn kiếm tu đang vội vã thu dọn rút lên triền đê bờ bắc.

Bên kia sông, trên dải cát bãi bồi lúp xúp ngô non, bóng dáng Hạ Hầu Liệt hiện rõ qua làn sương loãng.

Đăng nheo mắt nhìn sang.

Vị trưởng lão Kim Đan đứng bất động trên gò đất, tà áo thêu chỉ vàng buông thõng, nhưng hai bàn tay chắp sau lưng dường như đang siết chặt đến trắng bệch.

Cỗ Thiên Hoả Lôi Toa đắt đỏ đậu sau lưng ông ta vẫn chưa kịp khai hỏa, nòng sắt đen ngòm trơ trọi giữa làn gió sông lồng lộng.

Hạ Hầu Liệt nhìn trân trối vào bảy đống đá vụn tắt ngấm linh quang, rồi quét mắt qua bóng lưng Bạch Viễn đang ôm con diều rảo bước về hàng ngũ.

Không một lời quát tháo, không một tiếng gầm gừ.

Bàn tay áo rộng của vị trưởng lão bỗng phất mạnh một đường dứt khoát.

Tiếng tù và rúc lên ba hồi trầm đục từ phía lều trại Thiên Kiếm Tông.

Đám đệ tử áo xanh lập tức thu dọn cờ hiệu, khiêng rương hòm lầm lũi rút theo con đê ngược về phía bắc.

Bãi bồi chốc lát sạch bóng người, chỉ còn lại những dấu chân giẫm nát bãi cát và làn khói xám nhạt bốc lên từ vụn đá sập.

Một tiếng hò reo như sấm dậy nổ tung sau lưng Đăng.

Bác thợ cả Kim Lũng quẳng phịch cây búa tạ xuống vệ cỏ, ôm chầm lấy bác thợ in Hồ Khê đang cười toe toét để lộ hàm răng sún lem nhem mực.

Đỗ Cầm khoanh tay đứng cạnh bọc khóa đồng thừa, quệt vệt muội than trên má rồi khẽ nhếch khóe môi, mắt sáng rực nhìn khúc sông Đáy đã bắt đầu lăn tăn gợn sóng trở lại.

Thằng Tí cùng đám trẻ trong làng reo hò ầm ĩ, nhặt sỏi ném tùm tùm xuống mép nước.

Lồng ngực Đăng như vừa trút bỏ tảng đá ngàn cân.

Cậu ngồi phệt xuống thảm cỏ non đẫm sương, hai chân mỏi nhừ sau những canh giờ căng thẳng tột độ.

Cậu kéo cuốn sổ giấy dó dày cộp đặt lên đùi, rút chiếc bút lông gài bên vành tai rồi chấm vào nghiên mực nhỏ Đỗ Cầm vừa đặt cạnh chân.

Mùi vỏ dướng quyện cùng mùi mực tàu bốc lên mộc mạc, át đi cái lạnh lẽo của kiếm khí vừa tan rã.

Đăng lật tới trang giấy còn thơm mùi nắng, nơi ghi chép tỉ mỉ từng con số: ba đồng kẽm, then nhiệt ba mươi sáu độ, ngàm hãm cơ học.

Cậu nắn nót hạ ngòi bút, viết một dòng ngay ngắn:

“Không ai bị thương.”

Ngòi bút dừng lại giữa trang giấy một thoáng.

Cậu ngước nhìn ra mặt sông êm ả, nơi vài cánh diều giấy dó Yên Thái gãy nan trôi lững lờ theo dòng nước đỏ phù sa.

Suốt bao tháng ngày ghi chép, cuốn sổ của cậu chỉ toàn những chữ “chập”, “cháy mạch”, “thất bại”, hay cùng lắm là “cầm cự”.

Lần này, Đăng ấn mạnh ngòi bút lông, mực đen thấm sâu vào từng thớ xơ dướng dai bền:

“Thắng.”

Một chữ duy nhất, vuông vức và dõng dạc, nằm trang trọng giữa trang giấy của năm làng.

Nắng sớm hôm sau rải vàng ruộm trên những liếp phơi giấy dó xếp quanh sân đình Yên Thái, mang theo mùi vỏ cây ngai ngái hòa trong gió sông trong lành.

Đăng đang ngồi trên bậc tam cấp lau chùi chiếc kìm bấm nan tre, bên cạnh là Đỗ Cầm đang kiểm lại số then nhiệt còn sót lại sau trận đấu hôm qua, thì từ đầu ngõ bỗng vang lên tiếng bước chân huỳnh huỵch.

Quản sự thương hội Vạn Thông với cái bụng phệ lắc lư, tà áo the quét đất xốc xếch, mặt mũi tái mét dường như vừa chạy thục mạng suốt mấy dặm đường.

Vừa quẹo vào cổng đình, ông ta trượt chân suýt ngã sấp mặt, phải bám chặt lấy một cột liếp phơi giấy mới đứng vững.

“Cậu Đăng... hỏng, hỏng to rồi!” Quản sự há mồm thở dốc, hai tay run rẩy vịn ngực, mồ hôi nhễ nhại chảy ròng ròng làm nhòe cả chòm râu mép tỉa tót kỹ lưỡng.

“Bác ngồi hớp ngụm nước đã,” Đăng đặt kìm xuống, ngẩng lên nhìn điệu bộ hoảng loạn của tay buôn khôn ngoan vốn ngày thường lúc nào cũng ung dung ép giá.

“Thiên Kiếm Tông lại kéo tới à?”

“Không phải kiếm tông!” Quản sự xua tay lia lịa, họng nghẹn ứ, phải nuốt khan mấy cái mới cất nổi giọng: “Thiên Cơ Kính... toàn bộ trạm kính mẹ lẫn kính con quanh đất Nam Việt... tắt ngấm rồi!

Đêm qua, cùng một khắc, đỉnh núi nào cũng tối om như hũ nút!”

Đỗ Cầm giật mình buông rơi chiếc then đồng, tiếng kim loại va xuống nền gạch kêu “leng keng”.

Đăng đứng bật dậy:

“Tắt hết ư?

Đến cả mạng liên lạc dự phòng cũng không chạy?”

“Không còn một tia sáng nào!” Giọng quản sự Vạn Thông như sắp khóc.

“Hàng hóa Trung Thổ chở sang biên giới bị dồn ứ, thương thuyền ngoài bến không nhận được lệnh chuyển bến, giá chu sa, linh thạch đóng băng cứng ngắc vì chẳng ai gửi nổi một chữ truyền tin.

Nam Việt bây giờ... như người mù bị bịt kín hai mắt, chẳng biết bên ngoài đang xảy ra chuyện quái quỷ gì!”

Ông ta lau mồ hôi trán bằng tay áo ướt sũng, giọng hạ thấp xuống, đầy vẻ hoang mang:

“Hồi sáng sớm, mấy lái buôn trâu từ mạn ngược chạy bộ về, đem theo lời đồn rằng đầu nguồn Thoải phủ đang mưa như trút nước, mây đen cuồn cuộn ngập trời suốt từ đêm qua.

Họ bảo chưa từng thấy nước dâng kỳ dị như thế... nhưng chẳng có trạm kính nào truyền tin xác nhận, không ai dám chắc là thật hay chỉ là lũ rừng thông thường!”

Đăng ngẩng đầu nhìn về phía rặng núi mờ xa phía chân trời.

Mặt trời đã lên cao, nhưng không gian quanh khúc sông Đáy bỗng lặng ngắt một cách lạ thường.

Không một gợn sóng linh khí của Thiên Cơ Kính chao lượn trên tầng không, chỉ có sự im lìm tuyệt đối bủa vây khắp các nẻo làng Nam Việt.

✻

Gợi Ý Cho Bạn

  1. Có audio

    Kiếm Lai

    1.300 chương

  2. Có audio

    Cổ Chân Nhân

    2.857 chương

  3. Ngự Thú: Mạnh Nhất Chăn Nuôi Gia

    222 chương

  4. Cẩu Tại Tân Thủ Thôn Ta, Chồng Chất Mấy Vạn Tầng Bị Động

    626 chương

  5. Dị Năng Của Ta Có Thể Xuyên Tạc Bội Suất

    280 chương

  6. Hồ Yêu: Cửu Thế Luân Hồi, Bắt Đầu Tửu Kiếm Tiên

    79 chương

Bình luận chương