Lối vào chính của hầm mộ ngầm nằm ở quảng trường Luyện Ngục gần đài thiên văn Intis.
Kiến trúc bao bọc lấy lối vào được chống đỡ bởi những cột đá sừng sững, phía trên là mái vòm phủ đầy phù điêu chạm khắc, trông tựa như một đài kỷ niệm thu nhỏ hoặc phần nổi trên mặt đất của một lăng mộ khổng lồ.
Khi Lumian tới nơi, đã có chừng hai ba mươi người tụ tập bên bậc thang dẫn xuống bên dưới.
Họ gồm cả nam lẫn nữ, trang phục tuy khác nhau nhưng nhìn chung đều khá trang trọng.
Đứng đầu nhóm người là một gã đàn ông tầm ba mươi mấy tuổi, mặc áo gile xanh lam kết hợp quần dài màu vàng.
Gã sở hữu mái tóc nâu hơi xoăn, bộ râu rậm rạp, đuôi mắt hơi nhếch lên, trên tay xách chiếc đèn khí đá bằng sắt đen chưa thắp sáng.
Gã cất giọng oang oangnói với nhóm du khách:
“Tôi là Kendal, một trong những người quản lý hầm mộ ngầm.
Hôm nay tôi sẽ phụ trách dẫn các vị tham quan những hầm chứa xương kia.
“Mọi người đã chuẩn bị sẵn một cây nến trắng hết chưa?
Nếu chưa có, xin hãy báo ngay cho tôi.”
Khách tham quan sao?
Lumian dời ánh mắt sang cầu thang đá phía sau Kendal.
Bậc thang trải dài xuống dưới, chìm lấp vào bóng tối mịt mùng, hoàn toàn không thấy đâu là đáy.
Cách Kendal không xa có một cánh cửa lớn nặng nề đang mở rộng.
Cánh cửa được ghép từ những tấm gỗ dày, một bên dùng sơn vàng vẽ thánh huy Thái Dương, bên còn lại là hình tam giác kiên cố chứa đầy các biểu tượng hơi nước, đòn bẩy, bánh răng.
Sau khi nhận được câu trả lời xác nhận, Kendal thắp sáng đèn khí đá rồi xoay người đi xuống lòng đất.
Nhóm du khách nối đuôi theo sau, một số người tay xách đèn bão.
Lumian đi tụt lại phía sau họ chừng bốn năm mét, tay cầm chiếc đèn khí đá chôm được từ chỗ Ramaye, thong thả rảo bước xuống thang đá.
Với thính giác đã qua phi phàm thăng hoa, anh dễ dàng nghe rõ lời giới thiệu của người quản lý Kendal ở đi đầu:
“Đi hết 138 bậc thang, ở độ sâu 26 mét bên dưới lòng đường Trier, các vị sẽ được nhìn thấy hài cốt của gần 50 thế hệ người Trier.
“Đó mới chỉ là con số khiêm tốn thôi, thực tế còn nhiều hơn 50 thế hệ rất nhiều.
Lịch sử của một số hầm chứa xương trong hầm mộ thậm chí còn truy ngược về tận Kỷ trước...
“Bốn mươi bảy năm trước, Nghĩa trang Người Vô Tội và Nghĩa trang Linh Mục đã chẳng còn đất để chôn người chết nữa.
Xương trắng vứt bừa bãi khắp nơi, mùi hôi thối nồng nặc khiến cư dân xung quanh ngày nào cũng xuống đường biểu tình, đòi tòa thị chính chuyển nghĩa trang ra ngoại thành...
“Cuối cùng, tòa thị chính đã chọn lòng đất.
Họ thông một số khu mộ từ Kỷ Thứ Tư với nhiều mỏ đá ngầm lân cận, tạo thành một hầm mộ cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ lớn...
Những gì các vị tham quan hôm nay chỉ là một phần nhỏ trong đó mà thôi...”
Giọng nói của Kendal vang vọng trong cầu thang tối om thanh vắng không thấy điểm dừng, khiến lòng người dấy lên nỗi sợ hãi nguyên sơ đối với hầm mộ và lòng đất sâu thẳm.
Đi xuống hết từng bậc thang, Lumian rốt cuộc cũng thấy một con đường được ngăn ra bởi những cột đá và vách tường kép.
Khác với những nơi khác trong giới lòng đất, lối đi này rõ ràng từng được tu sửa và duy trì bảo dưỡng thường xuyên.
Mặt đường phẳng lỳ rộng rãi, hoàn toàn không có vũng lầy hay ổ gà, chỉ là không khí khá âm u, thỉnh thoảng lại có từng đợt gió lạnh buốt lướt qua.
Cứ cách một đoạn, trên con đường lại gắn một ngọn đèn khí gas.
Ánh sáng vàng nhạt tỏa ra, tạo thành những quầng sáng tối đan xen kéo dài dằng dặc về phía xa.
Kendal mặc áo gile lam lại cất giọng nhắc nhở đoàn du khách:
“Mọi người nhất định phải đi sát theo tôi, tuyệt đối không được tự ý tách đoàn!
“Lòng đất có quá nhiều khu vực chúng ta chưa nắm rõ, một khi đã lạc đường thì khó mà tìm lại được lắm.
“Vào trong hầm mộ cũng không được đi lung tung.
Nơi đó có những con đường dẫn xuống quần thể lăng mộ tầng sâu hơn, nơi các ác linh từ Kỷ Thứ Tư ẩn mình trong bóng tối đang chìm vào giấc ngủ.
Hãy Tán mỹ Thái Dương, tán mỹ ánh sáng!
Chỉ khi đi trên tuyến đường đã được các linh mục kiểm duyệt và xác nhận, các vị mới tránh khỏi mọi nguy hiểm.”
Một vài du khách dang rộng hai tay hô lớn Tán mỹ Thái Dương, một số khác lại vẽ hình tam giác trước ngực.
Đi theo quản lý Kendal cùng đoàn người chừng hai trăm mét, Lumian đã nhìn thấy hầm mộ ngầm.
Nơi đó sừng sững một cổng đá khổng lồ vốn được tạo thành tự nhiên nhưng sau đó đã qua cải tạo.
Hai bên cổng phủ kín những phù điêu tinh xảo khắc hình đầu lâu, cánh tay xương trắng, hoa hướng dương và các biểu tượng hơi nước.
Ngay trên xà ngang cao nhất có hai dòng câu khắc bằng tiếng Intis:
“Dừng lại!
“Phía trước là Đế Quốc Cái Chết!”
Quản lý Kendal một lần nữa quay người lại, dặn dò nhóm du khách:
“Các vị có thể tắt đèn bão và thắp nến trắng lên rồi đấy.
Tất cả mọi người bắt buộc phải làm vậy!
“Nếu ai không muốn vào hầm mộ thì có thể loanh quanh ở khu vực này, nhưng đừng đi quá xa kẻo dễ bị lạc, lúc đó sẽ rất phiền phức đấy.
“Sau khi vô hầm mộ, nếu lỡ sảy chân tách khỏi đoàn thì cũng đừng hoảng sợ, hãy tìm biển chỉ đường.
Nếu không thấy biển chỉ đường thì ngẩng đầu lên nhìn, đi theo vạch màu đen vẽ trên trần hầm mộ, đường đó kéo dài tới tận lối ra vào chính...”
Chẳng bao lâu sau, ánh đèn bão tắt ngấm, nhường chỗ cho những đốm lửa nến màu cam nhảy múa giữa hư không tối đen.
Đoàn người tham quan cùng nâng cao những cây nến trắng, nối bước Kendal đi vào lòng hầm mộ ngầm.
Lumian đứng từ xa nhìn theo, tựa như chứng kiến từng đốm sáng vàng tụ lại thành một dòng suối nhỏ, từ từ chảy về phía thâm sâu của bóng tối.
Anh không đi vào mà tay xách đèn khí đá, đi quanh khu vực cổng hầm mộ để tìm gã Phù Thủy giả Osta Trull.
Mấy phút sau, Lumian trông thấy một đống lửa.
Đống lửa nằm bên cạnh một cột đá, vách đá phía trên mọc đầy rêu xanh ướt át.
Phía sau đống lửa, trên một tảng đá có gã đàn ông đang ngồi.
Gã khoác chiếc áo bào màu đen có mũ trùm, sống mũi cao thẳng, đôi mắt màu nâu thẫm, rậm rạp chòm râu màu đay mọc kín cằm, lúc này đang đăm đăm nhìn ngọn lửa chập chờn.
Lumian tiến lại gần, thẳng thừng hỏi:
“Ngươi là Osta Trull?”
Gã đàn ông đội mũ trùm ngẩng đầu nhìn Lumian, cất giọng cố tình đè thấp trầm ấm, vừa có lực hút vừa chan chứa chiều sâu:
“Ôi tâm hồn đang lạc lối kia, vì sao ngươi lại đến tìm ta?”
Ánh lửa cùng bóng tối luân phiên nhảy múa trên gương mặt Osta Trull, khiến người ta chẳng thể đoán nổi tuổi tác chính xác của gã, chỉ có thể đoán chừng chăng gã chưa tới ba mươi, hoặc cũng có thể đã gần bốn mươi.
Lumian bày ra nét mặt chân thành hết mức:
“Tôi nghe người ta nhắc tới ông, bảo ông là một Phù Thủy thần kỳ có thể giúp tôi giải quyết rắc rối.”
Osta Trull đáp bằng chất giọng khàn khàn nhưng pha chút cuốn hút:
“Phù thuật là cấm kỵ, phù thuật là lời nguyền, ta sẽ không tùy tiện ban phát sự giúp đỡ.”
“Cần tôi làm gì?” Lumian dồn dập hỏi dồn.
Osta trầm giọng cất lời:
“Nguyên tắc của phù thuật là trao đổi đồng giá.
Ngươi hãy nói cho ta biết trước, ngươi muốn nhận được sự giúp đỡ gì?”
Trao đổi đồng giá, đọc tiểu thuyết nhiều quá rồi hả?
Lumian nhịn lại bốc đồng muốn mỉa mai và Khiêu Khích, nét mặt bỗng chốc tràn ngập Thống Khổ:
“Tôi đã mất đi tất cả người thân, tôi cảm thấy mình bị thế giới này ruồng bỏ.
Đêm nào tôi cũng... đêm nào tôi cũng không tài nào ngủ được.
Tôi muốn quên đi những chuyện này để bắt đầu lại cuộc đời.”
Osta Trull quan sát vẻ mặt Lumian, không phát hiện ra chút giả dối nào.
Gã nhẹ nhàng gật đầu:
“Ta cũng từng mất đi rất nhiều thứ, đó là lời nguyền do phù thuật mang lại.
Ta có thể thấu hiểu cảm giác và suy nghĩ của ngươi.
“Thế nhưng, lãng quên nỗi đau là một việc vô cùng gian khó.”
“Vậy sao...” Lumian thở dài một hơi thượt, xoay người định rời đi.
Osta vội vàng gọi với theo:
“Ngươi chờ chút đã!
Gian khó không có nghĩa là không có cách.”
“Thật sao?” Lumian đột ngột quay đầu lại, mặt mày ngập tràn kích động.
Osta khẽ gật đầu nói:
“Ngươi đã từng nghe qua về Suối Người Đàn Bà Samaria chưa?”
“Chưa từng.” Lumian lắc đầu.
Osta liếc nhìn đống lửa đang cháy bùng, giải thích ngắn gọn:
“Trong một hầm chứa xương của hầm mộ ngầm có một vũng nước đục, nó được gọi là Suối Người Đàn Bà Samaria, hay còn gọi là Suối Lãng Quên, Suối Quên Đi.
Chỉ cần uống nó vào, ngươi có thể quên đi sạch sẽ mọi đau khổ.
“Dĩ nhiên, cái đó là giả.
Đâu chỉ là một vũng nước đọng do lỗi kỹ thuật trong quá trình đào hầm mộ ngầm thôi, rồi bị bọn quản lý nhào nặn biến thành một truyền thuyết.”
Thấy ánh mắt Lumian từ lóe sáng bỗng chốc tối sầm lại, Osta Trull nói thêm một bước:
“Nhưng với tư cách là một Phù Thủy, ta có thể tiết lộ cho ngươi biết: ở thâm sâu của thế giới ngầm này, tại một ngôi mộ nghi là di tích Kỷ Thứ Tư, có Suối Người Đàn Bà Samaria thật sự.
“Nơi đó có vô số hài cốt đang cất tiếng hát rằng: 'Hãy uống dòng nước quên đi hạnh phúc, lãng quên nỗi đau khổ nguyên sơ.'
“Ta có thể đi lấy giúp ngươi, nhưng không thể vi phạm nguyên tắc trao đổi đồng giá.
Ngươi phải trả ta 100 Verkin.”
100 Verkin?
Khẩu vị của ngươi cũng nhỏ quá rồi đấy!
Đi tìm đồ vật truyền thuyết nguy hiểm thế kia, không thu vài nghìn Verkin thì sao khiến người ta tin là thật được?
Lumian vốn dĩ lắng nghe rất chăm chú, nhưng sự chênh lệch giá cả này khiến anh cảm thấy thật Hoa Kê.
Dòng nước quý giá như thế mà còn không bằng hai tháng tiền lương của một phục vụ tập sự sao?
Truyền thuyết về Suối Người Đàn Bà Samaria anh từng đọc qua trên tạp chí *Thông Linh*, Aurore khi ấy còn lẩm bẩm một từ mà anh nghe không hiểu, phát âm hình như là “Mạnh Bà”.
Tạp chí *Thông Linh* cũng cho rằng Suối Người Đàn Bà Samaria chỉ là truyền thuyết do bọn quản lý hầm mộ cố tình dựng lên, nhưng họ tin rằng truyền thuyết này không phải tự dưng mà có, rất có thể ở một nơi nào đó trên Bắc Đại Lục thật sự tồn tại “Suối Lãng Quên”.
Lumian giương to hai mắt, lao đến bên cạnh Osta, nắm chặt vai gã:
“Thật sao?”
Osta gạt bàn tay anh ra, điềm tĩnh gật đầu:
“Đó là lời hứa của một Phù Thủy.”
“Được, tốt quá!” Lumian đáp lời một cách kích động, “Nhưng tôi không mang nhiều tiền thế này, giờ tôi quay về lấy, ngày mai tới đây tìm ông được không?”
Osta hài lòng gật đầu:
“Không thành vấn đề.”
Lumian rối rít cảm ơn, xách chiếc đèn khí đá lên rồi hào hứng rời khỏi khu vực đó.
Vừa ra khỏi tầm mắt của Osta, anh thu lại nụ cười trên mặt, đưa lòng bàn tay phải lên khẽ ngửi mùi nước hoa nhàn nhạt.
Trước khi tới khu Đài Thiên Văn, anh đã xịt chút nước hoa rẻ tiền lên tay phải, vừa rồi cố tình va chạm vào người Osta chính là vì mục đích này.
Nối bước trở lại mặt đất, Lumian ngồi xuống sau một cột đá, giấu kín thân hình rồi kiên nhẫn chờ đợi.
Trời đất dần sẩm tối, khi chạng vạng sắp sửa buông xuống, anh ngửi thấy mùi nước hoa quen thuộc thoang thoảng bay tới.
Lumian không vội vã bám theo ngay.
Phải một lúc sau anh mới bước ra khỏi chỗ nấp, lẳng lặng bám theo phía sau dựa vào chút mùi hương Osta để lại, giữ khoảng cách xa đến mức suýt chút nữa không còn nhìn thấy bóng dáng đối phương.
Từng cỗ xe ngựa lướt qua bên cạnh anh, thỉnh thoảng lại có những cỗ máy cơ khí kiểu dáng phô trương xuất hiện.
PS: Chương 1 cầu vé tháng~