Một bên là huyện thành Hòe Hoàng mang vẻ già nua trầm mặc, một bên là thành Xử Châu phồn hoa tựa gấm, người xe như nước.
Quần sơn sừng sững chắn ngang ở giữa.
Tựa như cách nhau một chiếc bàn, hai bên ngồi một kẻ câm và một kẻ lắm lời.
Trấn nhỏ năm xưa cứ một giáp lại mở cửa một lần.
Bách tính địa phương nếu may mắn, cả đời cũng chỉ gặp được thần tiên đôi lần.
Còn nay, những luyện khí sĩ trên núi hay các vị thần tiên hô mưa gọi gió, cưỡi mây đạp gió trong truyền thuyết, dẫu là dân cư huyện Hòe Hoàng hay bách tính thành Xử Châu, sớm đã nhìn đến phát chán.
Chu Liễm trước tiên dẫn họ men theo những bậc thềm đá thẳng tắp vút lên cao, đi thẳng lên đỉnh Tập Linh Phong để phóng tầm mắt ngắm nhìn non sông tráng lệ.
Kiến trúc nơi đây chính là trận nhãn của kiếm trận - một trong hai đại trận hộ sơn, vốn được cải tạo từ một ngôi miếu sơn thần cũ.
Trận đồ bắt nguồn từ Thái Bình Sơn ở Đồng Diệp Châu, còn số phi kiếm dùng để bày trận đều do sơn chủ gom góp được trong các chuyến du lịch bên ngoài.
Vừa có kiếm đoạt được từ tay Ly Chân - quan môn đệ tử của Đại tổ Thác Nguyệt Sơn, lại có kiếm “ngẫu nhiên có được” khi mấy vị kiếm tu sánh vai tung hoành cõi Man Hoang, tiện đường ghé kinh thành vương triều Vân Văn làm khách.
Chu Liễm cười nói: “Sơn chủ thích làm chưởng quầy vung tay là thật, với chúng ta thì tụ ít xa nhiều.
Thế nhưng mỗi lần người về núi lại như chim én tha mồi ngậm bùn về tổ, tích tiểu thành đại mới gom góp được cơ nghiệp như ngày hôm nay.”
Đỉnh núi được bao bọc bởi lan can bạch ngọc.
Do Lạc Phách Sơn tọa lạc ở cực nam quần sơn phía tây Ly Châu Động Thiên năm xưa, nên tựa lan can nhìn về phương bắc sẽ thấy các ngọn núi trùng điệp vươn cao, đạo khí mỗi đỉnh ngưng tụ một vẻ; trông về phía nam lại thấy sông ngòi như sợi chỉ mảnh, đồng ruộng phẳng phiu trải dài tựa lòng bàn tay.
Nghe nói tổ sư đường của Lạc Phách Sơn không đặt ở núi tổ mà lại dựng trên một đỉnh núi phụ là Tễ Sắc Phong, Lữ Bích Hà bèn tò mò hỏi nguyên cớ.
Chu Liễm cười đáp rằng năm xưa trong tay sơn chủ chẳng mấy dư dả, thật sự tiếc của không nỡ dỡ bỏ ngôi từ miếu từng ngốn không ít thần tiên tiền của Bộ Hộ Đại Ly.
Hơn nữa, sơn chủ nhà mình lại càng sợ phạm vào kiêng kỵ, cảm thấy vừa mới dọn đến núi đã vội phá bỏ miếu sơn thần thì điềm gở vô cùng.
Sơn chủ vốn rất coi trọng những quy củ xưa cũ này.
Sư Hành Viên thẳng thắn hỏi: “Trong hai lý do đó, cái nào chiếm phần nhiều hơn?”
Lữ Bích Hà khẽ lắc đầu, nhắc nhở Sư Hành Viên chớ nên thiếu chừng mực như vậy.
Trước khi lên núi nói chuyện bâng quơ vài câu thì chẳng sao, nhưng đã đặt chân vào đất người ta rồi thì vẫn nên cẩn trọng lời ăn tiếng nói.
Điếm lớn khinh khách là không phải, nhưng khách lớn lấn át chủ nhà thì đúng chắc?
Chu Liễm trái lại tỏ ra rất cởi mở, cười nói: “Chuyện này chẳng riêng gì Nhiếp Vân tổ sư tò mò đâu, nội bộ chúng tôi cũng tò mò lắm chứ.
Mấy năm qua dưới núi lén bàn luận không biết bao nhiêu bận, phe nào cũng chiếm một nửa, thành thử đến giờ vẫn chưa ngã ngũ.
Đương nhiên, mấy chuyện buôn dưa lê này đều giấu sơn chủ cả.
Nhiếp Vân tổ sư nếu không chê thì cũng có thể ‘đặt cược’ một phen, xem như vui chơi giải khuây.
Sau này khi mọi chuyện ngã ngũ, lần tới ghé núi ngắm cảnh, kiểu gì cũng kiếm được chút hạt dưa với cá khô nhắm rượu.”
Sư Hành Viên bật cười thích thú, không ngờ ngọn núi này lại chan chứa hơi thở nhân gian đến thế: “Được, tính cho ta một phần!”
Nàng đương nhiên thiên về việc Trần Bình An xót tiền hơn.
Chuyện này đâu có gì mất mặt.
Nhớ lại thuở mới lên núi tu đạo, bản thân nàng chẳng phải cũng phải tính toán chi li, thắt lưng buộc bụng mà sống qua ngày đó sao.
Tạ Cẩu đưa tay xoa xoa vành mũ lông chồn, chen vào: “Ví như ta đây thì thấy chắc chắn sơn chủ nhà mình tiếc tiền hơn.
Còn Tiểu Mạch lại khăng khăng rằng công tử nhà hắn từ thuở nhỏ đã có thói quen kính sợ trời đất.”
Trương Phong Hải bỗng quay sang hỏi: “Tiên Úy đạo trưởng, đạo trưởng thấy thế nào?”
Đạo sĩ Tiên Úy khi leo núi đã lẽo đẽo đi tít phía sau cùng, lên đến đỉnh cũng rất thức thời lùi ra đứng ở vòng ngoài mép đoàn người.
Ý nghĩ của gã cũng rất chất phác: muốn ké chút tiên khí từ những vị tuyệt đỉnh thần tiên có thể vượt thiên hạ ngao du khắp nơi này.
Đột ngột bị vị Trương tông chủ Nhuận Nguyệt Phong này hỏi tới, Tiên Úy có phần trở tay không kịp.
Gã đâu dám tùy tiện bình phẩm sau lưng Trần sơn chủ.
Mấy người này là khách, lên núi ngắm cảnh ăn uống chán chê rồi phủi mông rời đi; nếu hợp ý thì sau này ghé lại, bằng không thì đến chết chẳng thèm qua lại...
Còn bần đạo đây thì phải cắm rễ ở chốn này mà tu đạo lâu dài cơ mà!
Chu Liễm đưa mắt ra hiệu, ngụ ý cứ thoải mái chuyện trò, trong lòng nghĩ sao nói vậy, chẳng có gì phải né tránh kiêng kỵ.
Bấy giờ Tiên Úy mới hắng giọng nói: “Chuyện này vừa có trước sau, lại vừa có nặng nhẹ.
Sơn chủ chúng tôi là kính sợ trước rồi mới tiếc của sau.
Nhưng nói tóm lại, kính sợ thì nhẹ mà tiếc tiền thì nặng.”
Trương Phong Hải khẽ gật đầu: “Kiến giải rất hay.”
Sư Hành Viên thầm phục, tiểu đạo sĩ này quả thật khéo ăn khéo nói.
Vừa không gạt gẫm họ bằng những lời đãi bôi vô thưởng vô phạt, lại vừa giữ trọn thể diện cho Trần sơn chủ.
Thảo nào lại được giao cho việc trông cổng Lạc Phách Sơn.
Tiên Úy đỏ mặt, khiêm tốn: “Quá khen, chư vị quá khen rồi.”
Trong bụng lại thầm nhủ: trong đám người này chắc sẽ chẳng có ai đi mách lẻo với sơn chủ đâu nhỉ.
Vốn dĩ khách đã lên tận đỉnh Tập Linh Phong mà vẫn chưa thấy bóng dáng sơn chủ đâu, quả thật có phần thiếu sót lễ nghi.
May mà có lão nhân tự xưng là chưởng quỹ sổ sách của Lạc Phách Sơn dẫn dắt, nhiệt tình giới thiệu cho họ phong thổ nhân tình nơi trấn nhỏ cùng những giai thoại độc nhất vô nhị của bản địa.
Chẳng hạn như việc con suối nhỏ róc rách chảy ra khỏi núi hợp vào sông Long Tu từng là nơi sản sinh ra rất nhiều xà đảm thạch... khiến đám người Sư Hành Viên nghe mà say mê thích thú.
Lữ Bích Hà liền tò mò hỏi: “Chu lão tiên sinh, chẳng hay ngày nay trên đời còn lưu truyền loại xà đảm thạch này chăng?
Liệu còn cơ hội tìm mua được không?”
Chu Liễm đáp: “Khó lắm.
Đại đa số xà đảm thạch một khi vớt khỏi nước thì phẩm chất lẫn màu sắc sẽ nhanh chóng phai nhạt, không cách nào cứu vãn, y hệt như cá diếc suối đang bơi lội mà nhảy lên bờ là chết ngắc.”
Lữ Bích Hà không khỏi tiếc nuối.
Nàng quả thực đã động tâm, muốn tìm mua vài viên xà đảm thạch cực phẩm hiếm thấy, giá cả bao nhiêu cũng chẳng thành vấn đề.
Dẫu sao nàng cũng là một đại tu sĩ Phi Thăng cảnh, tuy từng bị giam cầm ở Yên Hà Động mấy trăm năm, nhưng đạo trường nơi nàng đắc đạo phi thăng năm xưa vẫn được bảo tồn vẹn nguyên, lại còn có một nhánh pháp mạch truyền thừa đến tận bây giờ.
Chưa kể thuở trẻ khi du ngoạn khắp các châu, nàng từng phát hiện không ít sơn thủy bí cảnh cùng các tiên phủ động thiên vô chủ từ thuở nào, thần tiên tiền trong túi tự nhiên rủng rỉnh khôn cùng.
Sư Hành Viên khẽ thở dài: “Cũng bởi thủy vận của Thanh Minh Thiên Hạ quá đỗi mỏng manh, khiến cho hậu duệ giao long cùng những tu sĩ thuộc dòng thủy tiên tu luyện thủy pháp phải chịu muôn vàn trắc trở.”
Cảnh ngộ ấy chẳng khác nào một trận hạn hán kéo dài đằng đẵng vạn năm, chưa đến mức tuyệt đường sống của người ta, nhưng lại khiến ngày tháng trôi qua vô cùng chật vật, khổ sở.
Các đạo quan cùng dã tu khắp các châu ở Thanh Minh, trừ phi vạn bất đắc dĩ, bằng không chẳng ai dại gì đi kiêm tu thủy pháp.
Nhưng xà đảm thạch lại có thể lập tức gia tăng đạo lực, chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ khiến người ta thèm thuồng nhỏ dãi; huống chi nó lại chẳng để lại chút di chứng đại đạo nào, quả thực là huyền diệu vô cùng.
Huống hồ bên phía Nhuận Nguyệt Phong còn có một dòng Nhược Thủy trứ danh, chẳng có đạo trường nào dựng bên bờ nước mà lại chê thứ xà đảm thạch này quá nhiều bao giờ.
Sư Hành Viên hoài nghi hỏi dồn: “Chu tiên sinh, chí bảo bực này quả là món hàng quý có thể găm giữ trục lợi, lẽ nào Tống thị Đại Ly cùng các vị đại tu sĩ lại không âm thầm thu gom tích trữ?”
Chu Liễm lắc đầu cười đáp: “Chuyện này thì chịu thôi, không tỏ tường được.”
Sư Hành Viên lập tức truyền âm: “Lữ tỷ tỷ, nghe giọng điệu của lão, dường như vẫn còn chừa đường lui đấy.
Đợi lúc vắng người, mình tìm cơ hội thương lượng thử xem sao?”
Lữ Bích Hà mỉm cười đáp lại: “Vẫn nên để Trương tông chủ định đoạt thì hơn.”
Nếu Trương Phong Hải và Trần sơn chủ đàm đạo êm thấm thì chuyện gì cũng dễ bàn; nhược bằng đôi bên nói chuyện không xuôi, bọn họ rời khỏi ranh giới Lạc Phách Sơn bằng cách nào e rằng vẫn còn là một ẩn số lớn.
Đoàn người cứ thế thuận miệng trò chuyện, từ xà đảm thạch lại rẽ sang chuyện thủy vận.
Tân Khổ bất giác nhớ tới vị lão quan chủ từng khai sơn lập đạo trường giữa vầng minh nguyệt nọ.
Năm xưa, Bích Tiêu Động Chủ từng dùng một quả hồ lô thu gom thủy vận bàng bạc của Hạo Nhiên rồi mang thẳng sang Thanh Minh Thiên Hạ, khiến cho giống loài thủy tộc nơi ấy có tạc tượng ca tụng ân đức của ông bao nhiêu cũng không quá lời.
Bởi một luồng thủy vận mênh mông trời đất ấy, đối với bọn họ của hiện tại và mai sau, chẳng khác nào một thời đại mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu không dứt.
Những năm gần đây, đã có hai vị đạo quan lấy thủy pháp làm gốc lần lượt bước vào Phi Thăng, còn những kẻ thuận thế chen chân vào Thượng Ngũ Cảnh đương nhiên lại càng nhiều hơn.
Quả đúng là một phen “liễu ám hoa minh lại một thôn”.
Đạo trường lơ lửng giữa hư không, lại mang đại công đức đối với Thanh Minh, thế nên Tân Khổ tự đáy lòng luôn cảm thấy gần gũi với vị Bích Tiêu Động Chủ này.
Một trong những đại trận của Lạc Phách Sơn vốn lấy bức tranh cuộn do lão quan chủ tặng làm nền móng.
Đại khái cũng vì lẽ đó mà sau khi vào núi, Tân Khổ mới cảm thấy cả thân lẫn tâm đều khoan khoái, nhẹ nhõm.
Xà đảm thạch đối với các đạo quan và thủy tộc tu luyện thủy pháp cũng giống như tiền đồng Kim Tinh đối với thần linh sơn thủy, hay Trảm Long Đài đối với kiếm tu vậy: vừa đáng giá liên thành, lại thuộc loại có tiền cũng chẳng mua được.
Dẫu với thân phận và tình nghĩa hương hỏa trên núi của Trần Bình An hiện giờ, thuở trước muốn tìm kiếm mấy khối đá mài kiếm cũng vô cùng trầy trật, đủ thấy mức độ quý hiếm của nó ra sao.
Còn việc trên đời hiện nay rốt cuộc sót lại mấy viên xà đảm thạch, có lẽ trong lòng hai người Trần Quốc sư và Ngụy Thần Quân là rõ ràng nhất.
Chỉ là Chu Liễm dù sao cũng không tiện chủ động khoe khoang gia sản với người ngoài.
Đúng như nỗi lo của Lữ Bích Hà, chuyện đôi bên có thể vui vẻ đến rồi êm đẹp đi hay không rốt cuộc vẫn chỉ nằm trong một ý niệm của Trần sơn chủ và Trương Phong Hải.
- Trần Bình An không vội dẫn Lục Đài đi hội ngộ với nhóm Chu Liễm.
Dọc đường, y rẽ qua hai lối nhỏ trên thần đạo lên núi: một lần là đến xem cây mai trồng ở lưng chừng sườn non, lần khác là ghé qua lầu trúc.
Hai người ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn đá một chốc, cùng ngắm nhìn biển mây cuồn cuộn tựa khách qua đường ngoài vách đá, trôi dạt đông tây, bềnh bồng vô định.
Thỉnh thoảng lại có một đàn chim thong thả lướt qua, điểm xuyết giữa khoảng mây trắng trời xanh.
Thân là sơn chủ, đứng đợi khách dưới chân núi vốn chẳng có gì lạ.
Nhưng người được Trần Bình An đích thân dẫn đi dạo chơi thì chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Lục Đài dường như là người thứ hai nhận được đãi ngộ này.
Người trước đó là một vị hiệp khách râu rậm, bất tri bất giác nay tóc mai đã điểm sương.
Đứng bên mép vực, Lục Đài nhặt một viên sỏi, vung tròn cánh tay dồn sức ném mạnh ra xa, thẳng vào biển mây đang trải rộng như một tấm thảm cỏ biếc.
Trần Bình An ngồi trên ghế đá, thầm tiếc chuyến này ra ngoài không mang theo tẩu thuốc.
Lục Đài phủi phủi tay, cất lời: “Phàm tục đâu hay trường sinh tốt, chỉ nguyện uyên ương chẳng ước tiên.”
Ngoảnh lại nhìn Trần Bình An đang ngồi nhàn tản, Lục Đài cười nói: “Việc đầu tiên khi vào núi tu đạo chính là tìm một gốc cây to để hóng mát.”
Trần Bình An đáp: “Kẻ bước vào nghề thì nhiều, người thực sự nhập môn lại chẳng được bao nhiêu.”
Lục Đài bước lại gần bàn đá, đặt cây gậy trúc xanh lên mặt bàn rồi hỏi: “Sao lại phong sơn rồi?”
Trần Bình An đáp: “Sông ngòi ưa nhánh rẽ, đầm sâu sợ nước đục.”
Lục Đài giơ ngón tay cái lên: “Có lý.”
“Đổi lại là ta, nhất định phải một hơi thu nhận mấy trăm đệ tử ngoại môn.
Mỗi bận về núi, tiếng hô 'cung nghênh sơn chủ' phải dậy sóng gầm biển thét, rền vang như sấm sét mới được.”
“Chỉ nghĩ thôi đã thấy khoái rồi.”
Lục Đài cười sảng khoái.
Y từ trước đến nay lúc nào cũng biết cách tự tìm niềm vui cho mình.
Điều này khiến Trần Bình An vô cùng ngưỡng mộ.
Nhìn sáu viên gạch xanh dưới đất, Lục Đài hỏi: “Còn tẩu thung luyện quyền không?”
Trần Bình An cười: “Quen tay hay việc, hầu như ngày nào cũng luyện, có điều lười đếm số lần rồi.”
Lục bộ tẩu thung, cảnh giới võ học càng cao thì đi lại càng nhanh.
Tựa như phàm phu tục tử khi tuổi tác xế chiều, cảm nhận được dòng chảy của con sông thời gian trôi qua vun vút.
Lục Đài ngẩng đầu nhìn lên tầng hai lầu trúc: “Nơi này chính là chỗ học quyền với Thôi lão gia tử sao?”
Trần Bình An cười nói: “Cũng là nơi lần đầu tiên trong đời ta uống rượu.”
Lục Đài tò mò hỏi: “Năm đó hai người một dạy một học quyền pháp thế nào?”
Trần Bình An ngắc ngứ một thoáng rồi mới nói: “Sư phụ tài giỏi dạy đồ đệ ngốc, đương nhiên là nhìn ta kiểu gì cũng thấy ngứa mắt, người làm sư phụ vừa vung quyền vừa chửi mắng sa sả.
Ta thì làm được gì chứ, chẳng lẽ ta không muốn cãi lại hay đánh trả sao?”
Dẫu đã cách biệt bao năm, mỗi lần nhớ lại y vẫn thấy kinh hồn bạt vía.
Trần Bình An đột nhiên hỏi: “Sao ngươi lại biết Thôi tiền bối?”
Lục Đài hất cằm về phía Đỉnh Thiên Đô bên cạnh: “Nhờ phúc của lão tổ nhà mình, từ sớm ta đã nghe ngóng được đôi điều cơ mật bí sử của Bảo Bình Châu.”
Nhờ là con cháu của Âm Dương gia Lục thị, Lục Đài biết được nhiều chuyện thâm cung bí sử hơn hẳn tu sĩ bình thường.
Chẳng hạn như việc một đại châu nhỏ bé nhất lại sở hữu tới hai tòa tổ đình Binh gia, điều này vô cùng đáng để suy ngẫm.
Lại còn có cả một vọng tộc cổ xưa chủ động dời cả nhà đến Bảo Bình Châu - Vân Lâm Khương thị.
Ngoài ra, dòng khí vận kiếm đạo luân chuyển tại Bảo Bình Châu cũng lộ rõ vẻ kỳ quặc, bất thường.
Còn về tu sĩ Bảo Bình Châu, Lục thị trước giờ căn bản chẳng thèm để vào mắt.
Đừng nói đến Phi Thăng, ngay cả sinh ra một Tiên Nhân cảnh cũng khó khăn muôn bề, thì đạo pháp có thể cao siêu tới đâu được chứ?
Thế nhưng thuở nhỏ, khi Lục Đài lén lút lẻn vào cấm địa gia tộc, đang nhảy ô trên một bức địa đồ phong thủy cửu châu khắc dưới mặt đất thì vừa vặn bị gia chủ Lục Thần bắt gặp.
Khi ấy Lục Đài sợ tới mức câm như hến.
Đừng thấy người bên ngoài khinh nhờn vị Lục chưởng giáo “trong tường nở hoa ngoài tường thơm” kia ra sao, hễ thấy Lục Thần đương gia làm chủ, Lục Đài vẫn cung kính vạn phần.
Lục Thần cũng không so đo tội vượt quyền của Lục Đài, chỉ bảo y bước ra khỏi địa đồ.
Một già một trẻ, một cao một thấp cùng nhau rảo bước dạo quanh tấm bản đồ, một hỏi một đáp, Lục Thần đã hé lộ cho Lục Đài nghe một số bí mật.
Khi Lục Đài đưa tay chỉ về phía Bảo Bình Châu, hỏi lão tổ xem vùng đất nhỏ bé này có kỳ nhân dị sự gì không.
Trước tiên Lục Thần nhắc tới hai vị tu sĩ, nhưng lại không nói rõ danh tính.
Mãi sau này Lục Đài mới biết hai vị mà lão tổ tông nhắc tới năm xưa, một người từ nơi khác tới, một người là dân bản địa.
Người trước có đạo hiệu “Thanh Chủ”, người sau mang đạo hiệu “Thuần Dương”.
Ngoài họ ra, Lục Thần còn kể về hai “người trẻ tuổi”, đều xuất thân từ Văn Thánh nhất mạch.
Còn về võ phu thuần túy, Lục Thần chỉ nhắc duy nhất một cái tên: Thôi Thành.
Đánh giá của Lục Thần khi ấy vỏn vẹn chỉ có hai chữ: Quyền cao.
Tầng một lầu trúc không khóa, Trần Bình An đẩy cửa bước vào.
Trong phòng chỉ có độc một chiếc ghế, nơi đây vốn chẳng phải chỗ để tiếp khách.
Lục Đài lại như tu hú chiếm tổ chim khách, thản nhiên vòng qua bàn sách ngồi phịch xuống ghế.
Trần Bình An cũng chẳng để tâm, chỉ đứng tựa bên mép bàn.
Lục Đài ngả lưng vào thành ghế, hai tay gác lên tay vịn, vạt áo rủ xuống, khoan khoái thảnh thơi đưa mắt nhìn quanh.
Trong phòng kê một chiếc kệ bách bảo, bên trên bày biện mấy món đồ sứ men xanh cùng vài thứ văn phòng tứ bảo linh tinh.
Chiếc giá áo bằng gỗ theo kiểu dáng trên núi treo ba chiếc pháp bào, có chiếc thanh nhã, có chiếc dệt may tinh xảo, tay áo đều rộng thùng thình rủ xuống.
Đối diện với bàn sách, kê sát mép tường là một chiếc giường gỗ trải manh chiếu trúc mát rượi.
Khí hậu trong núi vốn thanh lương, huống hồ thế núi Lạc Phách lại cao vút, đứng đầu trong quần sơn phía tây, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn.
Bởi vậy trên giường xếp gọn một tấm chăn mỏng, đặt một chiếc gối bông nhồi vỏ trấu, không giăng màn.
Lục Đài ngoảnh đầu nhìn sang, trên tường treo một bức bản đồ quận Long Tuyền, hai bên có đôi câu đối mượn chữ để tỏ chí hướng trong lòng.
Nơi đây vừa là chốn đọc sách, lại vừa là chỗ ngả lưng.
Lục Đài cười nói: “Chim sẻ tuy nhỏ nhưng đủ cả ngũ tạng.”
Giữ nguyên tư thế ngoảnh đầu, Lục Đài chỉ vào một điểm trên bản đồ: “Đá mài kiếm nằm ở chỗ này sao?
Sao trên bản đồ lại chú thích hai cái tên thế kia?”
Trần Bình An giải thích: “Long Tích Sơn là cách gọi dân gian của người bản địa chúng ta, còn Giáp Lục Sơn là tên gọi chính thức của triều đình Đại Ly.”
“Trước kia ngọn núi được chia làm bốn phần, triều đình Đại Ly và Long Tuyền Kiếm Tông đều đã khai thác cạn kiệt phần của mình.”
“Mảnh Trảm Long Nhai mà triều đình Đại Ly phân cho Chân Vũ Sơn có tiến độ khai thác rất chậm chạp.
Một nửa nguyên nhân là do Chân Vũ Sơn nhìn xa trông rộng, không vội vàng đục khoét núi non; nửa còn lại là vì muốn khai thác được đá mài kiếm quả thực chẳng dễ dàng gì.”
Nghe tới đây, Lục Đài không kìm được xoay người lại cười nói: “Bảo Bình Châu trước kia, đừng nói là kiếm tiên thượng ngũ cảnh, dẫu là tu sĩ Nguyên Anh cảnh thì phỏng chừng có được mấy người chứ??”
Cảnh giới thấp mà kiếm tu lại miễn cưỡng gượng làm, rốt cuộc việc này là bạt cắt, đẽo gọt đá mài kiếm chứ chẳng phải tôi luyện phi kiếm đơn thuần.
Chỉ cần sơ sẩy một chút, xảy ra trắc trở là sẽ tổn hại đến bản mệnh phi kiếm ngay.
Nhưng chỉ cần cảnh giới kiếm tu đủ cao, phẩm giai bản mệnh phi kiếm đủ tốt, thì đây lại là một cơ duyên luyện kiếm ngàn năm khó gặp.
Vừa khai thác đá vừa tôi luyện kiếm, đôi bên chẳng trễ nải chút nào.
Tạ Cẩu và Tiểu Mạch, nếu cả hai chưa từng rớt cảnh giới, đương nhiên là nhân tuyển đục đá tốt nhất.
Lưu Xoa hiện đang dừng chân ở Hoàng Hồ Sơn, dĩ nhiên cùng với Trúc Tố vừa mới phá cảnh, thực chất đều là những người khá thích hợp.
Chỉ có điều, Trần Bình An đâu thể sai bảo nổi Lưu Xoa.
Ban đầu y cũng định mở lời nhờ Trúc kiếm tiên giúp đỡ, nhưng vì chuyện ngấm ngầm chọn địa điểm xuất kiếm kia, Trần Bình An đành gạt bỏ ý nghĩ này.
Lục Đài cười trên nỗi đau của người khác: “Năm xưa ở Hồ Thư Giản, đối phó với một tên dã tu Ngọc Phác cảnh so với bây giờ đối phó cả ngọn Nhuận Nguyệt Phong, khó hơn nhiều đúng không?”
Trần Bình An vô cùng đồng cảm, gật đầu.
Bị bó tay bó chân dẫu sao vẫn dễ thở hơn cảnh bốn bề thọ địch, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc.
Lục Đài lập tức đổi giọng: “Mà đâu chỉ có mỗi một tên dã tu Ngọc Phác cảnh ấy.”
Trần Bình An chỉ cười trừ.
Lục Đài tò mò hỏi: “Ngươi làm sao nhịn nổi việc không tung một quyền hay vung một kiếm lật tung Hồ Thư Giản lên?”
Từ Kiếm Khí Trường Thành trở về Hạo Nhiên, hoàn toàn có thể.
Sau khi vấn kiếm núi Chính Dương, lại càng có thể.
Đương nhiên còn có hiện tại, càng là dư sức.
Hoặc như thuở đầu mượn cảnh giới của Lục Trầm, cũng đâu phải là không được...
Đổi lại là Lục Đài, nếu nắm trong tay đạo lực bực này, hắn đã sớm biến đổi dung mạo, đầu đội kim liên hoa quan, khoác đạo bào tiêu chuẩn của Nam Hoa Thành, nghênh ngang đi tới Hồ Thư Giản.
Sau đó hiển lộ pháp tướng Tam chưởng giáo Bạch Ngọc Kinh, cứ thế giáng một bạt tai thật đơn giản xuống, dĩ nhiên chẳng quên buông lại một câu: “Bần đạo Lục Trầm đi ngang qua đây, không ngờ cõi đời sáng sủa lại có lũ nhơ nhớp dơ bẩn bực này, quả thực trời người cùng căm giận!
Bần đạo đành phải thay trời hành đạo, nộp mạng đi!”
Cứ nghĩ tới những hình ảnh đó, Lục Đài liền cười không khép nổi miệng.
Dám nhắc về Hồ Thư Giản ngay trước mặt Trần Bình An, lại còn tự mình cười khoái chí thế kia?
E rằng ngay cả Lưu Tiện Dương cũng chẳng làm nổi trò thất đức bực này.
Trần Bình An day day ấn đường, bất đắc dĩ nói: “Hà tất phải xát muối vào vết thương của người ta.”
Lục Đài cười cợt nhả: “Bằng hữu chí cốt không phải sinh ra là để trêu chọc tìm vui sao?”
Về Hồ Thư Giản năm xưa, trên dưới Lạc Phách Sơn đều ngầm hiểu với nhau, tuyệt đối không nhắc tới nửa lời.
Dường như Hồ Thư Giản là một nơi còn xa xôi hơn cả Kiếm Khí Trường Thành, hơn cả Man Hoang và Thanh Minh Thiên Hạ.
Lục Đài thì chẳng thèm chiều chuộng Trần Bình An.
Không đợi Trần Bình An mở miệng, Lục Đài liền bồi thêm một câu: “Ta có thể cười nhạo bằng hữu, nhưng đứa nào dám cười nhạo ta, ta trở mặt ngay!”
Thấy Lục Đài làm vẻ đầy nghiêm túc chính trực, Trần Bình An tặc lưỡi: “Kẻ không cần thể diện quả đúng là thiên hạ vô địch.”
Phía núi Chân Vũ, sơn chủ Nhạc Đỉnh có đạo hiệu Tuyết Duyên từng ngấm ngầm bàn bạc việc này với người bạn chí thiết Lý Đoàn Cảnh.
Đáng tiếc Lý Đoàn Cảnh chẳng mấy để tâm, chỉ hứa sau này chờ đệ tử Hoàng Hà hoặc Lưu Bá Kiều đạt tới cảnh giới cao hơn, có thể tới Long Tích Sơn này dựng lều cỏ tu hành.
Về sau Lý Đoàn Cảnh binh giải chuyển thế, tiếp đó là đại quân Man Hoang xâm lấn.
Hoàng Hà tiếp quản Vườn Phong Lôi, hiện đang ở Man Hoang; còn tên Lưu Bá Kiều lười nhác chẳng chịu cầu tiến kia thì vừa không nhắc lại chuyện cũ với núi Chân Vũ, lần trước tới Lạc Phách Sơn làm khách lại còn chẳng buồn tiện đường ghé qua Long Tích Sơn liếc mắt nhìn vài cái.
Nghe xong đại lược đầu đuôi, Lục Đài tấm tắc khen: “Nhạc kiếm tiên không vội là chuẩn đấy, thứ này để càng lâu sẽ càng có giá.”
Hắn vừa định khuyên Trần Bình An sao không dùng chút thủ đoạn mà thu nó vào túi mình.
Bao nhiêu hương hỏa tình trên núi chẳng phải đều nhờ làm “thiện tài đồng tử” mà nên sao?
Phần lớn đều là ngươi nợ ta, ta nợ ngươi, có vay có trả, dần dà hai tòa đạo trường mới kết thành thế giao.
Nhạy bén nhận ra nét mặt Trần Bình An có điều khác lạ, Lục Đài liền thăm dò: “Đã bỏ túi yên ổn rồi à?”
Trần Bình An đặt tay lên mặt bàn, khẽ nói: “Có việc gấp cần dùng, cũng có việc lớn cần dùng.”
Một con thuyền độ vừa cần thả neo, cũng cần thêm mấy bến đò.
Ánh mắt Lục Đài đầy vẻ trêu chọc.
Sao thế, uy quyền của Quốc sư Đại Ly đã nặng đến mức này rồi cơ à?
Hay là chuyến liên thủ cùng Trịnh Cư Trung và Ngô Sương Hàng trảm sát Khương Xá được tính là “dẹp loạn”, nên phía Võ Miếu Trung Thổ ném đào đáp mận, ép Nhạc kiếm tiên phải giao ra tảng đá mài kiếm cỡ lớn này?
Trần Bình An lắc đầu: “Không phức tạp như ngươi nghĩ đâu.
Dẫu là bàn bạc xong một mối làm ăn thuận mua vừa bán, nhưng ta vẫn nợ một món nhân tình lớn.”
Lục Đài cười nói: “Dễ trả thôi mà.
Kiếm tu của núi Chân Vũ cũng đông, lo gì không trả nổi ân tình này.”
Đá mài kiếm dĩ nhiên vô cùng quý giá, song xét cho cùng, gốc rễ lập thân của kiếm tu chẳng phải vẫn là nâng cao cảnh giới sao?
Mà thứ Lạc Phách Sơn không thiếu nhất, vừa khéo lại là kiếm tiên.
Ngoài ra, với mối thâm giao giữa núi Chân Vũ với Võ Miếu Trung Thổ và triều đình Đại Ly, nếu Nhạc Đỉnh thực sự gặp phải chuyện gì khó khăn, ít nhất cũng có thể trực tiếp tìm đến Trần Bình An nói chuyện.
Các vị Ngũ Nhạc sơn quân Bảo Bình Châu được sắc phong thần hiệu nhanh chóng như thế, ngoài việc Văn Miếu Trung Thổ cân nhắc tới công lao “giữ đất” của họ Tống Đại Ly và Bảo Bình Châu, còn có một nguyên nhân sâu xa kín đáo: Văn Miếu cần ổn định khí vận của cả tòa thiên hạ để không bị “nghiêng lệch” hoặc “mất chân thực”...
Từ Ẩn Quan trở thành Quốc sư, lại thêm thân phận quan môn đệ tử của Văn Thánh, Văn Miếu liền đẩy nhanh tiến trình sắc phong.
Trần Bình An cười nói: “Đã bắt đầu trả nợ nhân tình rồi.”
Bản mệnh phi kiếm của Nhạc Đỉnh có tên là “Hoa Tín Phong”.
Thế nhưng cả đời Nhạc Đỉnh chưa từng đặt chân đến Bách Hoa Phúc Địa ở Trung Thổ, chủ yếu vẫn là ngại thân phận tu sĩ Binh gia của mình vốn không được ưa thích.
Đụng đến phúc địa, dẫu đối phương nể mặt núi Chân Vũ ở Bảo Bình Châu của ông, thì chẳng qua cũng chỉ là uống trà ngắm cảnh cùng mấy vị Hoa Thần Nương Nương, đối với việc luyện kiếm chẳng có chút ích lợi nào.
Huống chi chuyện lại dính dáng tới bản mệnh phi kiếm, nơi đại đạo căn bản gắn liền, Nhạc Đỉnh càng không tiện tùy tiện mở lời với các nàng.
Nói cho cùng, vẫn là thiếu một vị đại tu sĩ đứng ra bắc cầu chắp mối.
Cho nên trước đó Trần Bình An đã đích thân viết một phong thư gửi tới núi Chân Vũ, nói với Nhạc sơn chủ chuyện triều đình Đại Ly kết minh với Bách Hoa Phúc Địa.
Nhạc Đỉnh lập tức mừng rỡ khôn xiết.
Sau khi ngầm hiểu ý tứ, ông liền ném đào đáp mận, rất nhanh hồi âm nói bản thân muốn làm một phen “hộ hoa sứ giả”.
Trần Bình An nói: “Con gái Tống Tinh của Nhạc sơn chủ có một thanh phi kiếm một chữ.”
Lục Đài kinh ngạc thốt lên: “Hiếm thấy, quả là hiếm thấy!”
Kiếm tu là người hiểu rõ ngọn ngành của kiếm tu nhất.
Một kiếm tu sở hữu phi kiếm một chữ thì chẳng khác nào vừa kết Kim Đan đã đạt thành đan phẩm hạng nhất.
Như vậy, Tống Tinh không đơn thuần chỉ là con gái của Nhạc Đỉnh, mà còn được toàn bộ tổ sư đường núi Chân Vũ ký thác kỳ vọng rất cao.
Lục Đài xoay xoay cổ tay: “Để ta đoán xem là chữ nào nhé.”
Thông thường, Trần Bình An tuyệt đối sẽ không tiết lộ bí mật của người khác cho ai.
Đương nhiên Lục Đài cũng chẳng tùy tiện để lộ thiên cơ.
Tu sĩ Âm Dương gia, nhất là con cháu Lục thị Trung Thổ, sợ nhất chính là ông trời.
Ở một chừng mực nào đó, suốt ba ngàn năm qua, Trâu Tử gần như chính là trời.
Lục Đài thông tuệ bực nào, khẽ “ồ” một tiếng: “Đang điểm trúng ta đấy à?”
Trần Bình An nói: “Hiềm khích giữa ta và sư phụ ngươi, ngươi không cần bận tâm.”
Đường hẹp gặp nhau, Trâu Tử phải cho ta một lời giải thích.
Đôi bên là bạn bè chí thiết, ta cũng phải cho Lục Đài ngươi một lời giải thích.
Còn giữa hai thầy trò các ngươi, ai cho ai lời giải thích, thì vẫn cần nội bộ sư đồ các ngươi tự mình giải quyết.
Lục Đài liên tục xua tay, cười sảng khoái: “Không quản, không quản đâu!
Dù sao giúp bên nào cũng chẳng xuôi lý, giúp ai rồi cũng sẽ hối hận, dứt khoát giả chết, vờ như chẳng hay biết gì hết.”
“Huống hồ loại chuyện này, từ nhỏ ta đã đầy kinh nghiệm rồi!”
“Hơn nữa, ta chỉ là một kẻ cảnh giới Ngọc Phác nhỏ nhoi, đâu quản nổi chuyện thần tiên đánh nhau.”
Miệng nói thế, trong lòng nghĩ vậy, nhưng Lục Đài vẫn trầm mặc lại, sắc mặt u uất, trăm mối sầu vương.
Lục Đài hoàn hồn, bật cười “ha” một tiếng: “Đúng là như thiếu niên vì muốn dệt vần thơ mới mà gượng bảo sầu.”
Y từ trong tay áo rút ra một món phương thốn vật, là chiếc bát sứ mỏng manh như cánh ve, đặt lên bàn.
Hai ngón tay khép lại khẽ đung đưa, tùy ý câu lấy chút thủy vận, ngưng tụ thành một giọt nước nhỏ vào trong bát.
Trong chớp mắt, hơi nước bốc lên nghi ngút, lượn lờ tràn ra khỏi vành bát.
Lục Đài nói: “Ngươi xem như đã khổ tận cam lai rồi.
Giờ ta mà muốn đưa than sưởi ấm ngày tuyết rơi, e là đập nồi bán sắt cũng chẳng gom nổi một phần cho ra hồn, đành phải dệt hoa trên gấm, chuẩn bị chút lễ mọn không thành kính ý này.
Cầm cả bát lẫn đồ đi luôn đi.”
Trần Bình An bưng chiếc bát sứ lên.
Tu sĩ một cảnh thì vẫn là tu sĩ, vả lại món phương thốn vật này không hề đặt bất kỳ cấm chế bí thuật nào, nên nhìn vào là thấy hết mọi thứ bên trong.
Đủ các loại phong phú, rực rỡ muôn màu.
Vừa có một số pháp khí Đạo gia mang phong cách khác hẳn Hạo Nhiên, lại có từng chồng sách vở chất cao như núi, cùng mấy túi thần tiên tiền.
Xét về giá thị trường, sách vở, tiền bạc, pháp bảo, xếp từ thấp đến cao.
Thế nhưng đối với Trần Bình An, những cuốn đạo thư, tạp thư mà Lục Đài cất công thu thập ở các châu của Thanh Minh Thiên Hạ mới là thứ “vô giá” duy nhất, ý nghĩa trọng đại, nghìn vàng khôn đổi.
Trần Bình An nhặt mấy túi Tiểu Thử tiền kia ra: “Chỗ Tiểu Thử tiền này ta không khách sáo với ngươi, còn lại ngươi thu về hết đi.”
Hắn đẩy món phương thốn vật trả lại cho Lục Đài: “Về phong thổ và lịch sử biến thiên các châu của Thanh Minh Thiên Hạ, ta tự có cách tìm hiểu.”
Ba chữ “gánh nhân quả” vừa nhẹ tênh mà cũng vừa nặng trĩu.
Kẻ không tin, người vô tri, hoàn toàn có thể vứt bỏ như giày rách, coi nhẹ tựa lông hồng.
Còn kẻ tin vào số mệnh, người thấu hiểu lẽ trời, lại phải nơm nớp lo sợ, như đi trên băng mỏng, nặng tựa Thái Sơn.
Lục Đài thấy ánh mắt Trần Bình An kiên quyết, cũng không khăng khăng giữ ý mình nữa, chỉ láu cá nói: “Vậy coi như gửi tạm ở chỗ ta, có mượn hay không, khi nào mượn, tùy ý ngươi châm chước định đoạt.”
Trần Bình An không từ chối, đưa tay vớt từ trong “bát nước” ra năm túi tiền, cởi mở một túi trong số đó rồi dốc lên bàn.
Cùng là Tiểu Thử tiền, nhưng chữ triện khắc trên đó lại khác nhau, phần nhiều là lời chúc phúc cát tường của Đạo môn và khẩu quyết Áp Thắng, chính là loại “tiền hoa” độc nhất vô nhị của Thanh Minh Thiên Hạ.
Bạch Ngọc Kinh có Đúc Tạo Thự và Pháp Tiền Cục, mỗi hoa giáp lại đúc từ ba đến năm loại Tiểu Thử tiền theo quy chuẩn.
Song các đạo trường và vương triều ở các châu cũng tự ý đúc Tiểu Thử tiền mang bản sắc riêng, có thể lưu hành thông suốt trong một châu, nhưng phải xét theo “thời thần”: hai trăm năm mở cấm, một trăm năm cấm dùng.
Năm xưa trên đường du ngoạn, Lục Đài từng cho Trần Bình An xem mấy đồng Tiểu Thử tiền trân tàng nhiều năm, chữ triện khắc trên đó có liên quan đến hai mươi bốn tiết khí.
Bộ Tiểu Thử tiền này thuộc diện Văn Miếu đúc riêng với số lượng cực hiếm, nên vô cùng quý giá.
Nguyên do là từng xảy ra một sơ suất: có vị đại tu sĩ mượn tiền này để dẫn dắt thiên thời của một tòa bí cảnh, mưu đồ tự mở động thiên.
Vốn dĩ đóng cửa lén lút hành sự cũng chẳng sao, hiềm nỗi tu sĩ nọ đạo lực kém cỏi, chí lớn tài mọn, khiến cho cả tòa bí cảnh vỡ vụn sụp đổ.
Tuy không vạ lây đến phàm trần xung quanh, nhưng rốt cuộc chân tướng vẫn bị bại lộ, linh khí trong vòng ngàn dặm cũng vì thế mà trở nên hỗn loạn.
Lão tổ gây họa, tông môn phải bận rộn dọn dẹp hậu quả suốt một hồi.
Vị Tiên Nhân kia cũng nhanh chóng bị “mời” tới Văn Miếu, giữ lại trong Công Đức Lâm uống trà.
Kể từ đó, phía Văn Miếu không còn đúc bộ Tiểu Thử tiền này nữa.
Ban đầu Lục Đài chỉ muốn cho tên nhà quê đến từ nơi thâm sơn cùng cốc kia mở mang tầm mắt, tăng thêm chút kiến thức.
Ai ngờ vừa thấy, hai mắt gã này lập tức sáng rực lên.
Kẻ háo sắc tình cờ thấy được mấy ả mỹ nhân đẫy đà mảnh mai nhưng thảy đều xiêm y phong phanh, cũng chỉ phấn khích đến thế là cùng.
Lúc này nhìn Trần Bình An cầm lên rồi lại đặt xuống từng đồng Tiểu Thử tiền, thích thì dĩ nhiên vẫn thích, ánh mắt ngập tràn vẻ thưởng lãm, nhưng không còn thấy quá đỗi kinh ngạc vui sướng nữa.
Lục Đài khẽ thở dài, hai tay gối sau gáy, ngả người tựa vào lưng ghế.
Thuở thiếu thời lướt qua nhau, cứ ngỡ chỉ là chuyện thường tình.
Khi đã vất vả lập nên công nghiệp, hưởng thụ vinh hoa phú quý từng cầu mà không được, nay cũng thấy thật bình thường.
Lúc túi tiền rỗng tuếch, một chiếc bánh bao thịt vỏ mỏng ngập nhân; khi tiền bạc rủng rỉnh, cả một bàn đầy ắp sơn hào hải vị; rốt cuộc vị nào ngon miệng hơn?
Y thong thả cởi mấy túi tiền còn lại, vẻ mặt thản nhiên, đem những đồng tiền hoa xếp phẳng phiu ra bàn tựa như bày binh bố trận.
Ánh mắt lướt qua lướt lại, điểm binh điểm tướng chọn ra mấy đồng...
Trần Bình An không thèm che giấu nữa, bật cười sảng khoái, nắm chặt mấy đồng Tiểu Thử tiền vừa ý nhất trong lòng bàn tay, lắc lắc nắm đấm: “Ngày nhớ đêm mong, cuối cùng cũng được toại nguyện.”
Lục Đài trợn tròn mắt, giỏi cho ngươi, lộ nguyên hình rồi nhé!
Lục Đài tò mò hỏi: “Sao không tìm thẳng Lưu Tài Thần ở Ngai Ngai Châu?
Lão có rất nhiều món độc bản không truyền ra ngoài, chính là một trong những đại tàng gia hàng đầu thiên hạ đấy.”
Trần Bình An lắc đầu: “Chuyện kiểu này không đáng hao phí nhân tình, không có lợi.”
Lục Đài cười nhạt: “Ngốc thế không biết!
Ngươi chịu mở lời tìm Lưu Tài Thần mua Tiểu Thử tiền, là lão nợ nhân tình của ngươi mới đúng chứ.”
Trần Bình An há hốc mồm, còn có thể tính toán kiểu này sao?
Lục Đài chỉ ngón tay vào Trần Bình An: “Ngươi ấy à, lại mắc tật cũ, trong lòng chẳng có chữ 'ta', tự xem nhẹ mình quá rồi.”
“Thứ mà Lưu Tài Thần không thiếu nhất, ngươi mở miệng hỏi xin, lão chỉ thấy món đồ kia vượt xa giá trị thực, mừng còn không kịp ấy chứ.
Cũng giống như việc ngươi thích nhất là lải nhải mấy chuyện đạo lý nọ kia, nếu có người chịu kiên nhẫn ngồi nghe ngươi lẩm bẩm, ngươi có thấy phiền không?
Chỉ mong người ta nghe thêm một chút, để bản thân được nói nhiều thêm chút nữa thôi.”
Mỗi lần bôn ba giang hồ, cả hai đều như hai gã Bao Phục Trai: một kẻ bày sạp bên đường bán hàng quán, một kẻ lại đem tặng không đạo lý chẳng lấy một đồng.
Trần Bình An xoa cằm, dường như có ngộ ra, cười nói: “Sửa, nhất định phải sửa.”
Lục Đài trêu chọc: “Dám kiếm tiền, biết tằn tiện, chẳng trách ngươi giàu, lại ngày càng giàu thêm.”
Trần Bình An ôm quyền cười: “Xin nhận lời chúc, xin nhận lời chúc!”
Rất nhiều tu sĩ phổ điệp có chút gia sản trên núi, khi đã có tuổi, thường sẽ nảy sinh vài sở thích.
Trong đó, việc sưu tầm Tiểu Thử tiền - vốn được xưng tụng là tiền hoa trên núi - lại mang cái thú “một chiêu độc ăn khắp thiên hạ”.
Khác với Tuyết Hoa tiền và Cốc Vũ tiền có kiểu thức đơn điệu, nội dung minh văn khắc trên Tiểu Thử tiền có thể nói là thiên kỳ bách quái.
Do được Trung Thổ Văn Miếu giám sát chế tác, lại lấy pháp thiếp của các danh gia trên núi cùng họa phẩm của các bậc thánh thủ đan thanh làm khuôn mẫu, nên hào môn thế tộc, thậm chí cả các môn phái giang hồ dưới núi, mỗi khi dựng nhà cất nóc đều sẽ đặt loại Tiểu Thử tiền này để trấn trạch trừ tà.
Tiểu Thử tiền vừa tinh xảo lại vừa thực dụng, giá trị thặng dư lại cực cao, hiển nhiên trở thành món đồ yêu thích hàng đầu trong lòng tu sĩ.
Dù là tự mình cất giữ để ngày thường đem ra ngắm nghía cho đã mắt, hay dùng làm quà mừng phá cảnh tặng cho đệ tử đích truyền, hoặc làm lễ vật chúc mừng trong đại điển của tông môn thân thiết, loại Tiểu Thử tiền này đều là lựa chọn thượng thặng, tuyệt đối không chê vào đâu được.
Lục Đài ha ha cười nói: “Cũng phải, ngồi ở vị trí cao, nắm quyền hành lớn, một trong những chuyện đau đầu nhất chính là khó tránh khỏi việc phải tham gia các buổi đại điển, rồi lại đau đầu nghĩ xem nên tặng lễ vật gì.
Chỉ trách ngươi vừa làm sơn chủ lại vừa làm quốc sư, thân phận trùng trùng điệp điệp, nay trên núi ai mà chẳng coi ngươi là một bậc 'tiền bối'?
Xem ra lần này ta tặng tiền quả là một trận mưa rào đúng lúc... gãi đúng chỗ ngứa rồi nhỉ?”
Trần Bình An xoa xoa ấn đường, gật đầu nói: “Đa tạ, đa tạ.”
Lục Đài thần thái sáng láng, đầu ngón tay xoay tròn một đồng Tiểu Thử tiền, mắt nhìn chăm chú vị Trần đại sơn chủ trước mặt.
Bao năm qua Trần Bình An cần cù tích cóp tựa chim én ngậm bùn xây tổ, gia sản tích lũy được tuyệt đối chẳng hề mỏng.
Tiền hoa Tiểu Thử mười hai con giáp đã gom đủ trọn vẹn chín bộ, lại thêm sáu bộ tiền Nguyệt Lệnh Hoa Thần, cùng một bộ Tiểu Thử tiền “Ba Mươi Sáu Thiên Cương” theo mẫu Quần Ngọc Sơn.
Trần Bình An còn đặc biệt trích ra một khoản Cốc Vũ tiền, dặn dò Vi Văn Long, Giả lão thần tiên cùng mấy chuyến độ thuyền để mắt giúp mình.
Hễ gặp đồng Tiểu Thử tiền nào có khắc chữ hiếm thấy, chỉ cần đối phương không công khai đòi giá trên trời thì đều mua bằng sạch.
Tặng tiền thì thô tục, nhưng tặng loại Tiểu Thử tiền này lại là chuyện tao nhã.
Đám quyền quý dưới núi muốn kết giao với tiên nhân trên núi đều phái người đi khắp nơi lùng sục loại “tiền hoa” này để làm lễ gặp mặt.
Ngụy Bách vốn không chuộng thứ này.
Có điều Phi Vân Sơn từng tổ chức không ít dạ du yến, nên trong mật khố tích trữ cả đống Tiểu Thử tiền với đủ loại văn tự khác nhau.
Đối với sơn thủy thần linh hưởng dụng hương hỏa mà nói, thần tiên tiền rốt cuộc chỉ là vật ngoài thân.
Nếu nung chảy rồi thi triển thần thông để bồi đắp tài vận cho một vùng, chút linh khí hao tổn chỉ là chuyện nhỏ; điều then chốt là khí số sơn thủy trong bờ cõi cai quản, đặc biệt là văn vận và võ vận vốn chuộng thanh linh thuần túy nhất, lại rất kỵ dính phải quá nhiều “mùi tiền”.
Nhìn về lâu dài thì quả thực lợi bất cập hại.
Huống hồ ở một vùng đất khí vận cằn cỗi, thử hỏi có được mấy vị sơn thủy chính thần ra tay hào phóng?
Vi Văn Long bèn lén đến khố phòng tài vật của Phi Vân Sơn một chuyến.
Niềm vui ngoài ý muốn nhiều vô kể, hắn một hơi chọn ra mấy bộ tiền hoa phẩm tướng khá tốt, nhân tiện giúp sơn chủ nhà mình gom đủ vài bộ trân phẩm, lại còn kiếm thêm được mấy đồng tiền độc bản.
Toàn bộ số Tiểu Thử tiền mà Vi chưởng quầy nhắm trúng, Phi Vân Sơn đều chuyển nhượng lại cho Lạc Phách Sơn theo cái gọi là “giá thị trường”, chẳng khác nào vừa bán vừa cho.
Theo lý mà nói, Ngụy Bách hoàn toàn có quyền định đoạt mọi khoản thu từ dạ du yến của Phi Vân Sơn.
Vả lại hắn còn là sơn quân tôn quý của một châu, người ngoài chẳng có tư cách chỉ tay năm ngón.
Song làm vậy cũng tiềm ẩn tai họa ngầm.
Nếu Quốc sư phủ hoặc Lễ Bộ Đại Ly truy cứu trách nhiệm, rồi Hộ Bộ thanh tra sổ sách, một khi ba nha môn này thật sự xét nét so đo thì rất dễ lộ ra sơ hở.
Chuyện này nói lớn thì lớn, nói nhỏ thì nhỏ.
Nếu đổi sang triều đình nước khác, ai rảnh hơi quản mấy chuyện nhân tình qua lại trên núi này làm gì.
Khổ nỗi triều đình Đại Ly quản thúc tu sĩ cùng thần linh trên núi lại nghiêm ngặt đến mức gần như bệnh hoạn.
Nhớ năm xưa có một vị quan viên Lễ Bộ nơi kinh thành, bấy giờ mới chỉ là một chức chủ sự, từng nói ra một câu nổi tiếng lưu truyền rất rộng trên núi: “Chê ta làm việc không nể tình người?
Ta với đám sơn thủy thần linh các ngươi nói chuyện nhân tình gì chứ?
Các ngươi xứng sao?!”
Một viên quan lục phẩm của nha môn Lễ Bộ mà dám mắng đám sơn thủy thần linh do triều đình sắc phong như mắng cháu nội, đối với quan viên các nước khác, đây đúng là chuyện quái đản không thể tưởng tượng nổi.
Ngụy Bách cũng không để cấp dưới phải khó xử.
Mọi văn khế nhập kho, xuất kho của số Tiểu Thử tiền kia đều do chính tay hắn ký tên điểm chỉ.
Sau này nếu triều đình Đại Ly thật sự lật lại món nợ cũ, cùng lắm Ngụy Bách hắn tự bỏ tiền túi, để mặc Hộ Bộ quy đổi tính toán rồi bù đắp phần chênh lệch là xong.
Về sau, Trần Bình An trở thành Quốc sư Đại Ly.
Hộ Bộ nơi kinh thành Đại Ly chẳng mấy chốc cũng bị thâu tóm trọn gói.
Nữ quan ở các ti nha thuộc Phi Vân Sơn bội phục khôn xiết, không biết rốt cuộc là do Thần Quân nhà mình thân ngay chẳng sợ bóng vẹo, hay là ngài ấy thần thông quảng đại, biết trước tương lai?
Hoặc là có ẩn tình gì khác?
Lục Đài bỗng nhìn chằm chằm vào Trần Bình An, truyền âm hỏi bằng tiếng lòng: “Khắp nơi gom góp Tiểu Thử tiền, thật sự chỉ là sở thích cá nhân thôi sao?!”
Trần Bình An im lặng giây lát, lại giơ tay lên, đổi từ xoa ấn đường lúc nãy sang gõ nhẹ vào ấn đường, cười nói: “Vừa mới nhớ ra, chớp mắt cái lại quên mất rồi.”
Ánh mắt Lục Đài chợt sắc bén hẳn lên: “Khá cho một câu vừa quay đầu đã quên.
Trần Bình An, các tầng chướng nhãn pháp mà ngươi bày ra lại dùng văn tự để dẫn dắt ý niệm, hạ công phu đến mức này cơ à?
Thứ nhất, từ Tiểu Thử tiền nhảy vọt sang từng dòng chữ khắc hiếm thấy, dùng cảm giác vui mừng để đập tan chút nghi hoặc trong lòng.
Thứ hai, định đoạt một ‘món quà’ làm hàng xóm láng giềng cho Tiểu Thử tiền.
Thứ ba, trừ việc chuộng phẩm tướng, việc gom cho đủ bộ vốn là lẽ thường tình, biến những bộ tiền hoa hoàn chỉnh thành mồi nghi binh.
Những thứ ta nghĩ tới tạm thời chỉ có bấy nhiêu, nhưng mấy ngón đòn này dường như... chẳng được cao minh cho lắm?”
Thần sắc Trần Bình An vẫn như thường, mỉm cười nói: “Ngươi quả nhiên vẫn chẳng thay đổi gì.”
Trên núi có vài cao nhân, thích nhìn thấu sự đời nhưng không nói toạc ra.
Có lẽ vì là chỗ bằng hữu thân thiết nên Lục Đài mới không giấu giếm lời nào.
Trần Bình An nói: “Cảm ơn.”
Lục Đài hậm hực nói: “Mẹ kiếp, chẳng lẽ lần nào ta cũng có lòng tốt mà làm hỏng việc sao?!”
Trần Bình An lắc đầu: “Ta đã không trả lại số Tiểu Thử tiền kia, chứng tỏ ngươi không làm sai.”
Bản thân Lục Đài há chẳng phải cũng dùng một loại chướng nhãn pháp đó sao.
Thử nghĩ xem một đồng Tiểu Thử tiền, trong suốt trăm năm ngàn năm, đã qua tay biết bao nhiêu người khắp các châu hạt Thanh Minh?
Mấy vạn cuốn sách ghi chép văn tự dẫu sao cũng là vật chết, nhưng lộ trình lưu chuyển qua tay từng người của mỗi một đồng Tiểu Thử tiền, nhờ vào thôi diễn, lại có thể biến thành vật sống.
Thế nên Lục Đài sớm đoán được Trần Bình An sẽ không nhận đống sách vở kia, mới lén nhét vào trong “núi sách” hai bộ đạo thư.
Một bộ chuyên giảng về thuật giám định tiền tệ của đại tu sĩ Thương gia, bộ còn lại là sách thuật số thôi diễn của Đạo gia.
Trước kia ở Đồng Diệp Châu, cớ sao Trần Bình An lại phải thỉnh giáo thuật thôi diễn từ Tạ Cẩu?
Cần biết rằng một trong những điều Trần Bình An bài xích nhất đời này chính là “bói toán”.
Nhưng sự thật chứng minh, Trần Bình An hoàn toàn không có ý định dùng nó để suy diễn mạch lạc của mười bốn châu.
Dạo gần đây, mỗi lần Trần Bình An “vô tình” nhớ tới Tiểu Thử tiền, mặt hồ tâm cảnh lại gợn sóng lăn tăn, tựa hồ có một tiếng lòng cứ lải nhải không ngớt, liên tục nhắc nhở bản thân phải thu thập vật này, tốc chiến tốc thắng, càng nhiều càng tốt.
Còn về nguyên nhân cụ thể ra sao thì hắn lại chẳng thể nhớ nổi, hệt như việc đột nhiên không nhận ra một chữ nào đó trên trang sách vậy.
Trần Bình An dĩ nhiên cũng không cố ý truy tìm cho bằng được, vốn đã là hành động có chủ đích “phong sơn”, cần gì phải tự tìm khổ vào thân.
Đã tự tay dựng nên một tòa mê cung ký ức, lấy non sông trùng điệp giam hãm “nguyên do” kia, thì sớm muộn gì cũng sẽ đến thời khắc then chốt tương phùng lại nó.
Đã chuyên vì một thứ như “Tiểu Thử tiền” mà đặt ra tầng cấm chế này, ắt hẳn phải can hệ vô cùng trọng đại.
Nước cờ dự phòng đầu tiên của Trần Bình An vẫn là giam cầm “ta”.
Thần tính cùng nhân tính, ngăn cách qua chiếc lồng mà nhìn nhau.
Còn về hai phía đối đầu, rốt cuộc ai mới là chim trong lồng, kẻ bên trong hay người bên ngoài tự do hơn, ai chiếm cứ cương vực rộng hơn, thật khó mà nói rõ.
Lục Đài dè dặt hỏi: “Đã dọn dẹp xong tàn cuộc chưa?”
“Chờ một lát.”
Dứt lời, Trần Bình An chẳng hề có chút động tác thừa thãi nào, vẫn đứng yên tại chỗ.
Những đường vân nhỏ li ti trên vạt áo hắn, nhìn ngang tựa sông lớn cuồn cuộn chảy xiết, nhìn dọc lại như thác đổ muôn trượng treo giữa tầng không.
Một luồng cương khí thuần túy bàng bạc của võ phu cấp tốc lưu chuyển, khuấy động khí tượng xung quanh, khiến mây mù trong khoảnh khắc tựa hồ sôi sục.
Trần Bình An vươn một ngón tay, nhẹ nhàng ấn xuống mặt bàn sách.
Trên bề mặt của toàn bộ đồ bày biện thanh nhã trong thư phòng đều hiện lên một tầng kiếm khí.
Trông thì như chỉ có một tầng, nhưng thực chất lại do hàng ngàn hàng vạn luồng kiếm khí ngưng tụ mà thành, hệt như trong chớp mắt đã dựng nên từng tòa hộ sơn đại trận, va chạm kịch liệt với luồng cương khí võ phu thuần túy vừa rồi.
Cuối cùng, tất thảy đồ vật đều sừng sững bất động, không mảy may tổn hại chút nào.
Chỉ trong thoáng chốc, khắp căn phòng ở tầng một lầu trúc tràn ngập quyền ý tưởng chừng cao vời vợi cùng kiếm khí mênh mông vô tận.
Đôi bên dần dần lắng xuống, trở về trạng thái nước sông không phạm nước giếng, rồi tiếp đó... quyền pháp cùng kiếm thuật lại hòa tan, đúc thành một lò, căn bản chẳng thể phân biệt nổi đâu là lưỡi kiếm, đâu là vỏ kiếm.
Trần Bình An phất tay áo xua tan toàn bộ dị tượng trong phòng, áy náy bảo: “Để chặt đứt chuỗi ý niệm kia, ta sơ ý một chút nên không kịp kìm lại.”
“Xin lỗi cái gì, phải trách ta mới đúng!” Lục Đài nói: “Ngươi không cần giải thích nguyên do đâu, ta cũng chẳng hỏi, càng không dám hỏi.”
Lục Đài thở dài một hơi, dùng sức xoa hai má rồi trừng mắt nhìn Trần Bình An, lặp lại câu hỏi lúc trước: “Rốt cuộc ngươi làm cách nào vậy?
Chân tay không hề buông lỏng chút nào.
Sao thế, sợ bước một bước, quay một vòng là sẽ làm trời đất biến đổi hay sao?”
Trần Bình An khẽ rũ tay áo, cười nói: “Quy củ cũ thôi, bôn tẩu giang hồ tiền của không để lộ.”
Lục Đài vốn định lấy cớ “dù sao cũng đến rồi” để xúi bẩy Vô Danh Thị cùng Trần Bình An vấn quyền một trận, xem thử có thể giúp hảo hữu học lỏm được chút quyền pháp nào chăng.
Nhưng giờ xem ra, thôi bỏ đi.
Lục Đài sợ Trần Bình An ra tay không biết nặng nhẹ, một quyền đấm chết luôn Vô Danh Thị.
Lục Đài cầm cây hành sơn trượng lên, nói: “Đi thôi, đi thôi, ta đến tụ họp với mấy vị đạo hữu trong tông môn trước đã, kẻo bọn họ lại ghen tị.
Ngươi cứ thong thả qua sau cũng được.”
Trần Bình An mỉm cười gật đầu nhận lời, rồi cùng Lục Đài rảo bước ra khỏi lầu trúc.
Lục Đài ha hả cười lớn: “Phải đi gặp tên Chu Liễm kia xem sao, để xem rốt cuộc hắn là hạng quý công tử cỡ nào.
Cái gì mà trăm năm tu được Chu lang...
Phi, đã hỏi qua xem ta có đồng ý hay chưa chứ...”
Vừa nói, Lục Đài vừa giơ cao cây hành sơn trượng, tạo dáng điệu bộ như kép hát trên sân khấu kịch, kiễng một chân lên, miệng gân cổ xướng vang “tùng tùng tùng”, rồi nghênh ngang bước đi.
Trần Bình An day day ấn đường, lần này thì đúng là đau đầu thật rồi.
Tên này giống Thôi Đông Sơn thật, quả là giống hệt.
Thu nhận đồ đệ thế này, kết giao bằng hữu cũng thế nốt.
Chẳng lẽ một vài phong khí của Lạc Phách Sơn, cội nguồn thật sự lại nằm ở chính mình sao?
Nhưng Trần Bình An rất nhanh đã gạt phắt ý nghĩ đó đi.
Trong đám học trò của y chẳng phải còn có Tào Tình Lãng, bè bạn cũng có những người đoan chính như đám Lưu Cảnh Long, Liễu Húc đó thôi.
Núi thẳm trời hè, ngọn non phủ một màu xanh biếc.
Bóng áo xanh lẫn trong cảnh sắc chẳng chút bắt mắt, vị sơn chủ khẽ xoay vặn cánh tay, hơi thở kéo dài miên man.
Y chậm rãi rảo bước về phía chiếc bàn đá đằng xa, hệt như sợ làm kinh động tới vòm trời mong manh tựa lưu ly, cùng mặt đất êm ái như dải gấm lụa.