Lãng Cửu Xuyên không giải thích cặn kẽ với Tiết Sĩ Ung và mọi người, chỉ nói rõ yêu cầu của mình: đặt bài vị trường sinh của nàng trong thư viện để thờ phụng, ngày đêm dâng hương. Nếu bản thân ông không thể thắp hương thì phải sai học sinh thay mình làm việc đó, hơn nữa nhất định phải thành tâm.
Tiết Sĩ Ung và mọi người nghe xong, vẻ mặt quả thật muôn màu muôn vẻ.
Người này còn chưa chết mà chuyện gì kỳ quặc cũng gặp phải.
Một tiểu cô nương chưa đến tuổi cập kê lại muốn người ta khắc bài vị trường sinh để thờ phụng. Đây là kiểu thao tác gì vậy? Làm thế thì nàng có thể sống lâu trăm tuổi chắc?
“Ta có thể hỏi vì sao ngươi muốn có bài vị trường sinh không? Tiểu cô nương chẳng phải thích vàng bạc châu báu, gấm vóc lụa là, hoặc gả cho một lang quân như ý hơn sao? Những thứ ấy ta đều có thể đáp ứng.” Tiết Sĩ Ung nói.
Ông thậm chí chẳng dám tưởng tượng, nếu mình thật sự làm theo lời nàng, đặt một bài vị trường sinh trong thư viện, người ngoài sẽ đồn đại thành thế nào. E rằng họ sẽ nói ông chịu phải cú sốc quá lớn nên phát điên rồi chăng?
Bằng không, một người suốt ngày treo bảy chữ tử bất ngữ quái lực loạn thần bên miệng, nay đột nhiên cung phụng một bài vị trường sinh, tính tình thay đổi đến mức ấy, không điên thì là gì?
Lãng Cửu Xuyên nói: “Tiết sư, vàng bạc châu báu, gấm vóc lụa là phải khoác lên người sống mới phô bày được vẻ đẹp. Nếu đã là người chết, cho dù có ban cho bao nhiêu vàng bạc châu báu thì chẳng lẽ có thể dát vàng lên xác chết hay sao? Nếu thật sự làm thế, ngài không sợ, nhưng ta sợ bị bọn trộm mộ đào xác, cướp của lắm!”
Tiết Sĩ Ung: “!”
“Ngài nhìn ta xem, tướng mạo rõ ràng là đoản mệnh, có thể sống được bao lâu còn là vấn đề. Vàng bạc châu báu quả thật rất tốt, nhưng điều ta cần hơn cả là phải sống tiếp đã!” Lãng Cửu Xuyên chìa tay ra. Đôi tay nàng thon dài, xanh xao trắng bệch, chẳng có mấy phần huyết sắc.
Hai người đều nghiêm mặt lại. Đứa trẻ này quả thực hơi yếu ớt.
“Thư viện là nơi chính khí mạnh nhất, Văn Xương khí cũng thịnh vượng nhất. Có ngài thờ phụng, thay ta cầu phúc, ta ít nhiều cũng có thể vơ vét được chút Văn Xương khí vận. Đối với ta, đó là công đức vô lượng.”
Tiết Sĩ Ung hơi bất ngờ: “Như vậy cũng có tác dụng sao?”
“Đối với ta thì có.” Mà còn có ích rất nhiều.
Tiết Sĩ Ung suy nghĩ một lát rồi nói: “Ta đồng ý điều kiện này.”
Lãng Cửu Xuyên mỉm cười: “Phiền Tiết sư cho ta một sợi tóc và bát tự sinh thần của ngài.”
Tiết Sĩ Ung không chút do dự, nhổ một sợi tóc đưa cho nàng, sau đó viết bát tự sinh thần của mình rồi cũng đưa qua.
Bên hông Lãng Cửu Xuyên đeo một chiếc túi thơm. Nàng lấy từ trong đó ra một chiếc bình sứ, đổ một ít chu sa, rồi lấy một tờ giấy vàng, cúi người xuống bàn vẽ phù.
Tiết Sĩ Ung và Triệu Côn đứng bên cạnh quan sát. Khi Lãng Cửu Xuyên ngồi xuống cạnh bàn, nàng lật tay một cái, trong lòng bàn tay bỗng xuất hiện một cây bút. Hai người kinh ngạc, vội dụi mắt.
Không phải hoa mắt đấy chứ? Cây bút ấy biến ra từ đâu vậy?
Bạch Hổ đắc ý khẽ hừ một tiếng. Bị Tú Nhi nhà ta làm cho sáng mắt rồi chứ gì?
Lãng Cửu Xuyên vẽ một tấm tầm tung linh phù trước, sau đó dùng giấy vàng vẽ một hình người nhỏ, viết bát tự sinh thần lên đó rồi dán sợi tóc lên đầu người giấy.
Tiết Sĩ Ung nhìn cảnh ấy, trong lòng bất giác thấy hơi rờn rợn.
Ngay sau đó, Lãng Cửu Xuyên kết quyết bằng hai tay, đánh một đạo pháp quyết lên người giấy, rồi dùng đầu bút điểm nhẹ vào linh đài trên đầu nó.
Phán Quan bút có thể định hồn, cũng có thể câu hồn.
Tiết Sĩ Ung bỗng cảm thấy đầu óc choáng váng. Ông còn chưa kịp nghĩ xem cơn choáng váng ấy từ đâu mà ra, đã nghe Triệu Côn đứng bên cạnh hít mạnh một hơi lạnh.
Chỉ thấy người giấy vốn nằm phẳng trên mặt bàn, tựa như được ban cho sinh mệnh, vậy mà chống hai tay xuống bàn rồi đứng bật dậy.
Hít!
Sắc mặt Tiết Sĩ Ung hơi biến đổi, sống lưng lạnh toát, mồ hôi lạnh túa ra khắp người.
Lãng Cửu Xuyên dùng đầu bút chấm nhẹ vào chân người giấy, nói: “Nhận vật truy tung, Tiết sư, hãy đi tìm vật có khắc bát tự sinh thần của ngài và có kèm theo vật tùy thân của ngài.”
Người giấy lảo đảo lắc lư, gật đầu một cái rồi nhẹ nhàng nhảy xuống bàn.
Tiết Sĩ Ung và Triệu Côn ngây người, vẻ mặt đờ đẫn: “!”
Đúng là mở rộng tầm mắt!
Người giấy nghe hiểu tiếng người, lại còn biết đi nữa.
“Ta đã điểm linh cho nó. Người giấy có một phần linh thức của ngài, có thể dẫn chúng ta tìm được vật có liên hệ với nó. Đi thôi, theo sát nó.” Lãng Cửu Xuyên là người đầu tiên bước theo người giấy.
Hai chân Tiết Sĩ Ung cứng đờ tại chỗ, tê dại cả người.
Triệu Côn đành phải đỡ lấy cánh tay ông, nửa kéo nửa lôi theo sau.
Người giấy dẫn đường phía trước, Lãng Cửu Xuyên thong thả đi theo, chẳng hề lo lắng nó sẽ biến mất. Thấy vậy, Tiết Sĩ Ung và những người khác trong lòng tuy sốt ruột nhưng cũng chỉ có thể bình tĩnh bám theo.
Thế nhưng, khi người giấy dẫn đường, Tiết Sĩ Ung dần cau mày, trao đổi ánh mắt với Triệu Côn.
Đây rõ ràng là hướng đi đến thư phòng của ông.
Quả nhiên, chẳng mấy chốc, cả nhóm đã đứng trước cửa thư phòng. Chỉ thấy người giấy nhỏ chui qua khe cửa.
Tiết Sĩ Ung vội bước lên đẩy cửa ra, đảo mắt nhìn quanh một lượt, rất nhanh đã tìm thấy bóng dáng người giấy.
Nó đang bám lấy chân ghế, hì hục trèo lên. Cảnh tượng này trông khá buồn cười, nhưng lòng Tiết Sĩ Ung lại lạnh buốt.
Lãng Cửu Xuyên đã nói, phải để nó tìm thứ có liên hệ với nó. Nay nó đã lần mò đến tận đây, chứng tỏ thứ ấy quả thực tồn tại.
Người giấy trèo qua tay vịn ghế, men theo đó leo lên bàn. Trên bàn đặt văn phòng tứ bảo, còn nó thì nằm phục trên một chiếc triện đá Điền Hoàng.
Sắc mặt Tiết Sĩ Ung trầm xuống.
Chẳng lẽ lại chính là chiếc triện đá Điền Hoàng này?
Ông nhìn chằm chằm vào chiếc triện, môi mím chặt thành một đường thẳng.
Lãng Cửu Xuyên đã phát hiện tà sát trên chiếc triện. Nàng bước tới, nhấc người giấy sang một bên, dùng Phán Quan bút câu linh bên trong nó ra, rồi điểm linh ấy trở lại lên trán Tiết Sĩ Ung.
Tiết Sĩ Ung giật nảy mình, lập tức cảm thấy linh đài sáng tỏ hơn nhiều, bèn hỏi: “Là nó sao?”
Lãng Cửu Xuyên cầm chiếc triện lên. Một luồng khí tức âm lãnh tà ác từ bên trong truyền ra, muốn men theo đó xâm nhập vào cơ thể nàng.
Ý niệm Lãng Cửu Xuyên khẽ động, dùng thuần cương chân ý cưỡng ép trấn áp luồng âm lãnh ấy, rồi cẩn thận quan sát chiếc triện.
Một lạng Điền Hoàng đổi một lạng vàng. Chiếc triện này chỉ lớn bằng nắm tay trẻ con, đỉnh triện được điêu khắc thành một ngọn tháp Văn Xương tinh xảo. Toàn thân đá trong suốt thuần khiết, cầm trong tay có cảm giác ấm áp mượt mà, là khối đá tốt hiếm có, gần như không lẫn tạp chất. Với điều kiện nó chưa từng bị xử lý qua.
Chiếc triện từng được đặt ở nơi âm sát để nuôi dưỡng. Bản thân đá đã mang tính âm, lại được nuôi dưỡng tại nơi âm sát, cuối cùng trở thành vật chí âm. Nếu thường xuyên cầm chơi, âm sát trong khối đá vàng này sẽ xâm nhập vào phế phủ, khiến người ta sinh bệnh, vận rủi liên miên.
“... Đá vốn là đá tốt, tay nghề điêu khắc cũng không tệ, đáng tiếc.” Lãng Cửu Xuyên xoay chiếc triện trong tay một lúc, rồi lật xuống dưới, để lộ mặt đáy có khắc nhã xưng của Tiết Sĩ Ung.
Tiết sư Sĩ Ung.
Vừa bao hàm sự tôn kính mà người khác dành cho Tiết Sĩ Ung, vừa có cả tên của ông, quả là vô cùng khéo léo.
Lãng Cửu Xuyên nhìn mấy chữ ấy, đầu ngón tay lướt qua nét chữ, đột nhiên dùng sức bẻ mạnh.
Chiếc triện vốn trông kín kẽ, liền lạc không chút kẽ hở, vậy mà nàng lại bẻ tách phần đáy khỏi chỗ nối với tháp Văn Xương, để lộ hình dạng thật của phần đáy cùng những vật được giấu bên trong.
Bên trong chiếc triện rỗng ruột. Có hai tấm hoàng phù nhỏ được buộc bằng chỉ đỏ, cùng một con ngươi màu đen đáng sợ, bốc mùi hôi thối không thể chịu nổi.
Triệu Côn kêu lên một tiếng, chộp lấy cánh tay Tiết Sĩ Ung, nói: “Lão Tiết, ông không phải ngày nào cũng cầm thứ này nghịch đấy chứ?”
Chẳng phải như vậy tức là ngày nào cũng cầm chơi một con mắt người chết sao?
Mặt Tiết Sĩ Ung lúc đỏ lúc xanh, rồi lại trắng bệch. Môi ông run rẩy, lồng ngực đau thắt từng cơn, cổ họng chợt ngứa ngáy.
Phụt!
Một ngụm máu tươi phun thẳng lên người Triệu Côn.